Phân tích tác động của đòn bẩy lên lợi nhuận và rủi ro của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Delta AGF -An Giang - Pdf 10

ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯƠNG THỊ HUYỀN TRANG
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG ĐÒN BẨY LÊN
LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG DELTA
AGF
Chuyên ngành: Tài Chính Doanh Nghiệp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Long Xuyên, tháng 6 năm 2008

ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG ĐÒN BẨY LÊN
LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG
DELTA AGF
Chuyên ngành: Tài Chính Doanh Nghiệp
Sinh viên thực hiện: Trương Thị Huyền Trang
Lớp: ĐH5TC Mã Số Sv: DTC041762
Người hướng dẫn: Th.S Trần Thị Thanh Phương
Long Xuyên, tháng 6 năm 2008

LỜI CẢM ƠN
Sinh viên thực hiện luận văn “Phân tích tác động đòn bẩy lên lợi nhuận và rủi ro
của công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Delta AGF” xin chân thành cảm ơn:
Ban giám đốc và nhân viên phòng kế toán công ty cổ phần đầu tư và xây dựng
Delta AGF đã chấp nhận cho thực tập, tạo điều kiện để tiếp xúc môi trường làm việc
thực tế và cung cấp số liệu để thực hiện việc phân tích.
Thạc sĩ Trần Thị Thanh Phương - Giáo viên hướng dẫn đã nhiệt tình đóng góp ý

Đòn bẩy như là công cụ để khuếch đại lực, biến một lực nhỏ thành một lực lớn
hơn tác động vào vật thể cần dịch chuyển. Trong vật lý người ta dựa vào điểm tựa cố
định để khuếch đại lực nhằm mục tiêu di chuyển một vật thể nào đó. Thuật ngữ “đòn
bẩy” trong tài chính ám chỉ việc sử dụng chi phí cố định để gia tăng khả năng sinh lợi
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đòn bẩy trong tài chính là con dao hai lưỡi. Nếu hoạt
động của doanh nghiệp tốt, đòn bẩy sẽ khuếch đại cái tốt lên gấp bội lần. Ngược lại,
nếu hoạt động doanh nghiệp xấu thì đòn bẩy cũng khuếch đại cái xấu lên bội lần.
Công ty được phân tích đang trong giai đoạn khởi đầu của chu kỳ kinh doanh,
đây là giai đoạn biểu hiện rõ ràng mức độ cao của rủi ro kinh doanh.Vì vậy rủi ro tài
chính đi kèm nên giữ càng thấp càng tốt nhằm tránh tác động tổng hợp cùng một lúc
hai loại rủi ro lên tổng thể doanh nghiệp.Vấn đề đang quan tâm và cần xác định hiện
nay là phân tích đòn bẩy hoạt động, đòn bẩy tài chính ảnh hưởng như thế nào đến lợi
nhuận và rủi ro, nên thay đổi tác động của chúng ra sao, để công ty kiểm soát được rủi
ro tổng thể mà vẫn sử dụng chúng như công cụ tích cực để đạt được lợi nhuận kỳ vọng
trên vốn cổ phần mong muốn, đưa ra những quyết định phù hợp liên quan nguồn vốn.
Đó là lí do tôi chọn đề tài: “Phân tích tác động của đòn bẩy lên lợi nhuận và rủi ro của
công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Delta AGF”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đo lường tác động của đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính của công ty.
Đánh giá ảnh hưởng của hai đòn bẩy đến khả năng sinh lợi và rủi ro.
Giải pháp tài trợ nhu cầu vốn tương lai hiệu quả, hạn chế rủi ro và nâng cao lợi
nhuận trên vốn cổ phần.
SVTH: Trương Thị Huyền Trang 1

Tác động đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro GVHD: Th.S Trần Thị Thanh Phương
3 Nội dung nghiên cứu
Phân tích mức độ ảnh hưởng khác nhau của đòn bẩy hoạt động lên lợi nhuận
trước thuế và lãi vay (EBIT), rủi ro kinh doanh do đầu tư định phí thay đổi.
Xem xét sự thay đổi qui mô tài trợ vốn có chi phí cố định tác động đến khả năng
tạo lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS) cũng như rủi ro nó tạo ra như thế nào.

chi phí cố định với hy vọng số lượng tiêu thụ sẽ tạo ra doanh thu đủ lớn để trang trải
chi phí cố định và chi phí biến đổi. Giống như chiếc đòn bẩy trong cơ học, sự hiện
diện của chi phí hoạt động cố định gây ra sự thay đổi trong số lượng tiêu thụ để
khuếch đại sự thay đổi lợi nhuận (lỗ). Ảnh hưởng của đòn bẩy thể hiện ở chỗ sự biến
đổi nhỏ về doanh thu (hoặc sản lượng) sẽ làm phát sinh sự biến đổi lớn về lợi nhuận
(lỗ).
Đòn bẩy tài chính liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài trợ có chi phí cố
định. Đòn bẩy tài chính được định nghĩa như là mức độ theo đó các chứng khoán có
thu nhập cố định (nợ và cổ phiếu ưu đãi) được sử dụng trong cấu trúc nguồn vốn của
công ty.
Cấu trúc vốn được định nghĩa là tất cả các nguồn vốn trung và dài hạn có sẵn
cho một doanh nghiệp, bao gồm nợ trung, dài hạn; cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần
thường.
Bảng báo cáo thu nhập - Hình thức điều chỉnh

Đòn bẩy hoạt động
Đòn bẩy tài chính
Doanh số
Trừ Chi phí hoạt động biến đổi
Chi phí hoạt động cố định
Tổng chi phí hoạt động
Lãi trước thuế và lãi vay (EBIT)
Trừ Chi phí tài chính cố định (lãi vay)
Lãi trước thuế (EBT)
Trừ thuế thu nhập doanh nghiệp
Lãi sau thuế (EAT)
Lãi ròng phân phối cho cổ phần thường
Thu nhập mỗi cổ phần (EPS)
1.2 Các khái niệm cơ bản liên quan
Chi phí khả biến là những chi phí mà giá trị của nó sẽ thay đổi theo sự thay đổi

(cũng bằng một đơn vị sản phẩm)

Khi chi phí sản xuất kinh doanh được phân loại theo cách ứng xử của chi phí,
người quản lý sẽ lập ra báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí. Đây là một
công cụ được sử dụng rộng rãi làm đơn giản hóa quá trình phân tích để ra quyết định,
đặc biệt là quá trình phân tích đòn bẩy hoạt động, người quản lý sẽ có căn cứ dự đoán
các chi phí sẽ phải ứng xử như thế nào vì các biến động của mức độ hoạt động trong
toàn doanh nghiệp.
Gọi Q: sản lượng tiêu thụ, P: giá bán, V: chi phí khả biến đơn vị, F: chi phí bất
biến. Bảng báo cáo kết quả kinh doanh theo số dư đảm phí như sau:
Tổng số Đơn vị
Doanh thu PQ P
SVTH: Trương Thị Huyền Trang 4

Số dư đảm phí
Doanh thu
x 100%
Tỷ lệ số dư đảm phí =
Giá bán – biến phí đơn vị
Giá bán
Tỷ lệ số dư đảm phí =
x 100%
Tác động đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro GVHD: Th.S Trần Thị Thanh Phương
(-) Chi phí khả biến
Số dư đảm phí
(-) Chi phí bất biến
Lợi nhuận hoạt động
VQ
(P-V)Q
F

2
-Q
1
)
PQQ
P
VP
EBIT )(
)(
12


=∆
Kết luận: Thông qua khái niệm tỷ lệ số dư đảm phí ta rút ra mối quan hệ giữa
doanh thu và lợi nhuận, mối quan hệ đó là: nếu doanh thu tăng (giảm) một lượng thì
lợi nhuận tăng lên (giảm xuống) một lượng bằng doanh thu tăng lên (giảm xuống)
nhân với tỷ lệ số dư đảm phí (điều kiện định phí không đổi).
Từ kết luận trên ta rút ra hệ quả sau: nếu tăng cùng một lượng doanh thu (do
tăng sản lượng tiêu thụ) ở tất cả những sản phẩm, những bộ phận, những công ty… thì
những công ty nào, những bộ phận nào có tỷ lệ số dư đảm phí lớn thì lợi nhuận tăng
lên càng nhiều.
2 Đòn bẩy hoạt động (Operating Leverage)
2.1Đo lường tác động của đòn bẩy hoạt động
Dưới tác động của đòn bẩy hoạt động, một sự thay đổi trong số lượng hàng bán
đưa đến kết quả lợi nhuận (lỗ) gia tăng với tốc độ lớn hơn. Để đo lường mức độ tác
động của đòn bẩy hoạt động, người ta sử dụng chỉ tiêu độ bẩy hoạt động (degree of
operating leverage - DOL). Độ bẩy hoạt động được định nghĩa là phần trăm thay đổi
của lợi nhuận hoạt động so với phần trăm thay đổi của sản lượng (hoặc doanh thu).
(1)


VPQ
Q
Q
x
FVPQ
VPQ
Q
Q
FVPQ
VPQ
DOL
Q
Q
−−

=
−−

=
∆−−
−∆
=

−−
−∆
=
)(
)(
)(
)(

trọng nhỏ thì tỷ lệ số dư đảm phí lớn nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng
(giảm) nhiều hơn. Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng lớn là những công
ty có mức đầu tư lớn, nếu gặp thuận lợi tốc độ phát triển nhanh. Ngược lại nếu gặp rủi
ro sản phẩm không tiêu thụ được, doanh thu giảm thì lợi nhuận giảm nhanh, sự phá
sản diễn ra nhanh chóng.
Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ, chi phí khả biến chiếm tỷ
trọng lớn thì tỷ lệ số dư đảm phí nhỏ nên nếu tăng (giảm) doanh thu thì lợi nhuận tăng
(giảm) ít hơn. Những công ty có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ là những công ty
có mức đầu tư thấp vì vậy tốc độ phát triển chậm, nhưng nếu gặp rủi ro sản phẩm
không tiêu thụ được thì sự thiệt hại cũng sẽ thấp hơn.
Có thể hiểu theo cách khác, độ bẩy kinh doanh cao có thể giúp doanh nghiệp tạo
ra nhiều lợi nhuận hơn từ mỗi doanh số tăng thêm (doanh số biên tế) nếu việc bán một
sản phẩm tăng thêm đó chỉ làm gia tăng chi phí khả biến đơn vị nhỏ. Vì hầu hết các
SVTH: Trương Thị Huyền Trang 6

Độ bẩy hoạt động
Số dư đảm phí
Lợi nhuận
=
Tác động đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro GVHD: Th.S Trần Thị Thanh Phương
chi phí đã là chi phí cố định. Do vậy, lợi nhuận biên tế được tăng lên và thu nhập cũng
tăng nhanh hơn.
Trong khoảng thời gian kinh doanh thuận lợi, một đòn bẩy hoạt động cao có thể
tạo thêm lợi ích cho công ty. Nhưng các công ty có các chi phí “cột chặt" trong máy
móc, nhà xưởng, nhà đất và hệ thống kênh phân phối sẽ không thể dễ dàng cắt giảm
chi phí khi muốn điểu chỉnh theo sự thay đổi trong lượng cầu. Vì vậy, nếu nền kinh tế
có sự sụt giảm mạnh, thu nhập có thể “rơi tự do”.
Rủi ro kinh doanh tùy thuộc một phần vào phạm vi định phí của công ty, định
phí của công ty càng cao thì rủi ro kinh doanh càng lớn. Nếu mức cầu sụt giảm, một
công ty với các biến phí có thể điều chỉnh dễ dàng, trong khi công ty với các định phí

Trái lại, một số doanh nghiệp dự đoán kinh tế sẽ phát triển tốt, thị phần và doanh
số ngày càng khả quan hơn, sẽ trang bị thêm cơ sở vật chất và máy móc hiện đại, độ
bẩy hoạt động lớn sẽ đẩy mạnh mức gia tăng lợi nhuận.
SVTH: Trương Thị Huyền Trang 7

Tác động đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro GVHD: Th.S Trần Thị Thanh Phương
Sử dụng đòn bẩy hoạt động hợp lý có tác dụng khuếch đại gia tăng EBIT. Tuy
nhiên sự khuếch đại này không phải tuyến tính mà theo quy luật giảm dần.
3 Đòn bẩy tài chính (Financial Leverage)
Có một điều khác biệt lý thú giữa đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính là
công ty có thể lựa chọn đòn bẩy tài chính trong khi không thể lựa chọn đòn bẩy hoạt
động. Đòn bẩy hoạt động phụ thuộc phần lớn vào đặc điểm hoạt động của công ty
quyết định, chẳng hạn công ty hoạt động trong ngành hàng không và luyện thép có
đòn bẩy hoạt động cao trong khi công ty hoạt động trong ngành dịch vụ như tư vấn và
du lịch có đòn bẩy hoạt động thấp. Đòn bẩy tài chính thì khác, công ty có quyền lựa
chọn những hình thức tài trợ khác nhau như nợ vay, cổ phiếu ưu đãi hay cổ phiếu
thường. Thế nhưng trên thực tế ít khi có công ty nào không sử dụng đòn bẩy tài chính,
vậy lý do gì khiến công ty sử dụng đòn bẩy tài chính?
Trước hết, nợ vay có những lợi thế sau:
−Chi phí trả lãi vay được tính trừ vào lợi nhuận trước khi tính thuế, hạ thấp chi
phí thực của lãi vay.
−Phân tán rủi ro cho vốn chủ sở hữu.
−Không phải lo sợ vấn đề hiệu ứng pha loãng quyền sở hữu nếu phát hành bổ
sung cổ phiếu gọi vốn.
−Công ty có thể chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn tuỳ theo từng thời kỳ.
Tuy nhiên, sức ép vận hành đảm bảo lợi suất cao hơn lãi suất, đảm bảo điểm rơi
lợi nhuận tích lũy đủ thanh toán nợ gốc. Nếu công ty gặp khó khăn tài chính và lợi tức
kinh doanh không đủ bù đắp chi phí về lãi suất, các cổ đông của công ty sẽ phải bù
vào chỗ sụt giảm đó.
Cổ phiếu ưu đãi không phải trả vốn gốc nhưng không được khấu trừ thuế khi

−−−
=⇔

Độ bẩy tài chính là công cụ để biết trước xem ở một mức định phí tài trợ nào đó,
sự thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay sẽ ảnh hưởng thế nào đến lợi nhuận trên
mỗi cổ phần. Khi EBIT tăng hay giảm X % thì EPS có chiều hướng tăng hay giảm X
%×DFL. Nếu doanh nghiệp có độ bẩy tài chính cao, chỉ có biến động nhỏ của EBIT sẽ
gây ảnh hưởng lớn đến EPS.
EPS được xác định theo công thức sau:
Trong đó:
I: lãi suất phải trả.
PD: cổ tức cổ phiếu ưu đãi.
t: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
NS: số lượng cổ phần thông thường.
Sự phối hợp các phương án tài trợ sẽ làm thay đổi lãi vay, cổ tức và số lượng cổ
phần dẫn đến thay đổi EPS kỳ vọng. Công thức tính EPS được xác định trong mối
quan hệ EBIT và các yếu tố trên là cơ sở phối hợp các phương án tài trợ để đem lại lợi
nhuận trên vốn cổ phần cao nhất.
3.1.2Các tỷ số đòn bẩy tài chính (Financial leverage ratios)
Các nhà cung cấp tín dụng căn cứ vào tỷ số đòn bẩy tài chính để đánh giá xem
công ty có vay quá nhiều hay không? Từ đó đưa ra quyết định cho vay vì công ty càng
có nhiều nợ vay thì rủi ro về mặt tài chính càng lớn.
Đối với công ty, tỷ số đòn bẩy tài chính sẽ giúp nhà quản trị tài chính lựa chọn
cấu trúc vốn hợp lý cho công ty mình. Các tỷ số đòn bẩy tài chính thông thường là:
−Tỷ số nợ trên tài sản (Debt ratio): tỷ số này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài
sản của công ty được tài trợ bằng vốn vay.
Tổng nợ: bao gồm toàn bộ khoản nợ ngắn hạn và dài hạn như: các khoản phải
trả, vay ngắn hạn, nợ dài hạn do đi vay hay phát hành trái phiếu dài hạn.
−Tỷ số nợ trên vốn cổ phần (Debt to equity ratio)
Tỷ số lớn hơn 100% chứng tỏ nhà cho vay đã tài trợ nhiều hơn vốn cổ phần. Tuy

thông tin bảo vệ chủ nợ tình huống doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
3.1.3Phương thức đo lường rủi ro tài chính khác
Rủi ro được đề cập ở đây là khả năng xảy ra khác biệt giữa lợi nhuận thực tế so
với lợi nhuận kỳ vọng. Để đo lường rủi ro người ta dùng phân phối xác suất với hai
tham số đo lường phổ biến là lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn.
a. Lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn
Lợi nhuận kỳ vọng, ký hiệu là E(R) được định nghĩa như sau:

=
=
n
i
ii
PRRE
1
))(()(
( ∑P
i
= 1 )
R
i
: lợi nhuận ứng với biến cố i
P
i
: xác suất xảy ra biến cố i
n: số biến cố có thể xảy ra
Như vậy, lợi nhuận kỳ vọng chẳng qua là trung bình gia quyền của các lợi nhuận
có thể xảy ra với trọng số chính là xác suất xảy ra.
Để đo lường độ phân tán hay sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ
vọng, người ta dùng độ lệch chuẩn (σ). Độ lệch chuẩn chính là căn bậc hai của

)(RE
CV
σ
=
Rủi ro tài chính là rủi ro biến động lợi nhuận trên vốn cổ phần kết hợp với rủi ro
mất khả năng chi trả phát sinh do doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính. Khi doanh
nghiệp gia tăng tỷ trọng nguồn tài trợ có chi phí cố định trong cơ cấu nguồn vốn thì
dòng tiền tệ cố định chi ra để trả lãi hoặc cổ tức cũng gia tăng. Kết quả là xác suất mất
khả năng chi trả tăng theo.
Nhiều doanh nghiệp trong những ngành khác nhau (có cấp độ khác nhau về đòn
cân định phí) có thể khác nhau về đòn cân nợ. Nhìn chung, các doanh nghiệp lệ thuộc
vào rủi ro kinh doanh cao có khuynh hướng sử dụng tương đối ít nợ hơn những doanh
nghiệp chỉ có mức rủi ro kinh doanh hạn chế. Nhưng những doanh nghiệp sử dụng
nhiều nợ vay sẽ có mức rủi ro tài chính cao hơn doanh nghiệp sử dụng ít nợ vay. Tuy
nhiên, những khuynh hướng vừa nêu trên là bình thường.
Các chỉ số để đo lường rủi ro tài chính là:
−Hệ số biến đổi của EBIT (CV
EBIT
= σ
EBIT
/ E(EBIT))
−Độ bẩy tài chính (DFL)
−Độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên cổ phần (σ
EPS
)
−Hệ số biến đổi của EPS ( CV
EPS
= σ
EPS
/ E(EPS))


=




=
−−−
=
Tỷ suất sinh lợi
trên tổng tài sản
Lợi nhuận ròng
Tổng tài sản
=
Tác động đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro GVHD: Th.S Trần Thị Thanh Phương
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (Return on equity ratio – ROE): đây là chỉ tiêu
mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của 1 đồng vốn họ bỏ ra để
đầu tư vào công ty.
Sự khác nhau giữa tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ
phần là do công ty có sử dụng nợ. Nếu công ty không có nợ thì hai tỷ số này sẽ bằng
nhau.
Tác động nợ vay lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần thể hiện qua việc so
sánh giữa tỷ suất doanh lợi chung và lãi suất vay nợ. Sự chênh lệch giữa tỷ lệ lợi
nhuận đạt được và chi phí sử dụng vốn vay giúp doanh nghiệp biết được khả năng chi
trả lãi vay để có thể đưa ra quyết định tài trợ từ nợ vay hợp lý, quyết định này tác động
lên tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ phần như thế nào? Đây là vấn đề rất được cổ đông
quan tâm.
Gọi NV: nợ vay, i: lãi suất vay, VCP: vốn cổ phần, TS: tổng tài sản (bằng vốn
cổ phần và nợ vay).
Công ty đầu tư tổng tài sản bằng vốn cổ phần thì toàn bộ lợi nhuận hoạt động sẽ

)(
Ngược lại, khi tỷ suất sinh lợi chung nhỏ hơn lãi suất cho vay thì:
i
TS
EBIT
VCP
iNVEBIT
TS
VCPEBIT
iNVEBIT
iNV
TS
VCPTSEBIT
i
TS
EBIT
<<


<−⇒
<−


<
.
.
.
0.
)(
=> Kết luận: đòn cân nợ có tiềm năng làm tăng tỷ suất doanh lợi trên vốn cổ

PDtIEBIT
NS
PDtIEBIT −−−
=
−−−
Trong đó:
EBIT
1,2
: EBIT bàng quan giữa 2 phương án tài trợ 1 và 2.
I
1
, I
2
: lãi phải trả ứng với phương án 1 và 2.
PD
1
, PD
2
: cổ tức cổ phiếu ưu đãi theo phương án 1 và 2.
NS
1
, NS
2
: số cổ phần thông thường ứng với phương án 1 và 2.
Xác định điểm bàng quan bằng phương pháp hình học
Sử dụng đồ thị biểu diễn quan hệ giữa EBIT và EPS để có thể tìm ra được điểm
bàng quan, tức là điểm giao nhau giữa các phương án tài trợ ở đó EBIT theo bất kỳ
phương án nào cũng mang lại EPS như nhau. Để làm điều này, chúng ta xây dựng đồ
thị xác định điểm bàng quan theo ba phương án như hình vẽ sau:


Hình vẽ mối quan hệ giữa EBIT, EPS và đòn cân nợ
Hình trên thể hiện quan hệ giữa EBIT – EPS trong những kế hoạch tài trợ khác
nhau. Tỷ lệ nợ càng cao độ dốc các đường biểu diễn càng lớn, điều này ngụ ý rằng độ
nhạy cảm của EPS đối với sự thay đổi của EBIT là rất lớn. Sử dụng đòn bẩy tài chính
phóng đại thu nhập cả dương và âm cho cổ đông, khi EBIT vượt qua điểm hòa vốn sự
gia tăng EBIT làm EPS tăng cao hơn đối với phương án sử dụng nhiều nợ vay hơn.
Ngược lại, khi chưa đạt đến EBIT hòa vốn, thậm chí bằng 0 thì phương án có đòn bẩy
tài chính lớn hơn làm EPS âm càng nhiều.
Các thay đổi về sử dụng nợ sẽ tạo nên các thay đổi EPS. Khi tỷ lệ nợ trên tài sản
càng cao làm EPS kỳ vọng gia tăng. Mặc dù các chi phí lãi suất tăng, nhưng tác động
này được bù trừ nhiều hơn do số lượng cổ phiếu đã phát hành sụt giảm khi nợ vay
được thay thế cho vốn cổ phần, đồng thời nó cũng làm tăng rủi ro.
4 Tổng hợp đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính
Khi đòn bẩy tài chính được sử dụng kết hợp với đòn bẩy hoạt động, sẽ tạo ra
đòn bẩy tổng hợp (Combined or total leverage). Như vậy, đòn bẩy tổng hợp là việc
SVTH: Trương Thị Huyền Trang 14

EBIT
Nợ vay ít
Nợ vay nhiều
Vốn cổ phần
0
∆EPS
A
∆EPS
B
∆EBIT
Tác động đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro GVHD: Th.S Trần Thị Thanh Phương
công ty sử dụng kết hợp cả chi phí hoạt động và chi phí tài trợ cố định. Khi sử dụng
kết hợp, đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính có tác động đến EPS khi số lượng

bẩy tài chính được đo lường bằng chỉ tiêu độ bẩy tài chính (DFL). Giám đốc tài chính
cần lưu ý rằng đòn bẩy trong tài chính là con dao hai lưỡi. Nếu doanh nghiệp đạt được
EBIT ít hơn định phí hoạt động và chi phí tài trợ cố định thì sử dụng đòn bẩy có thể
làm giảm lợi nhuận của các cổ đông, khái niệm đòn bẩy làm sáng tỏ các đánh đổi rủi
ro – lợi nhuận của nhiều loại quyết định tài chính khác nhau.
  
SVTH: Trương Thị Huyền Trang 15

Độ bẩy tổng hợp (DTL)
ở mức Q đơn vị (hoặc S đồng)
Phần trăm thay đổi EPS
Phần trăm thay đổi sản lượng
(hoặc doanh thu)
=
DTL
Phần trăm thay đổi EPS
Phần trăm thay đổi sản lượng
(hoặc doanh thu)
=
Phần trăm thay đổi EBIT
Phần trăm thay đổi EBIT

Tác động đòn bẩy lên lợi nhuận & rủi ro GVHD: Th.S Trần Thị Thanh Phương
Chương 3: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG ĐÒN BẨY LÊN LỢI NHUẬN
& RỦI RO CỦA CTY
1Giới thiệu chung về cty Delta AGF
1.1Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Delta AGF, tên tiếng Anh: Delta AGF
investment & construction joint stock company, được thành lập theo giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh số 5203000062 ngày 02/04/2007. Cố đông sáng lập là công ty cổ

8 tháng nhưng đã đạt doanh thu 62,4 tỷ đồng. Lợi nhuận hoạt động 4,4 tỷ đồng.
−Xí nghiệp bột cá
Thị trường nguyên liệu ổn định từ công ty Agifish, AFA, Việt An. Thành phẩm
từ xí nghiệp bột cá chủ yếu là bột cá và mỡ cá. Sự ưu thế do được chuyển giao những
khách hàng thân tín trong và ngoài nước từ công ty Agifish như: Su seafood Co.ltd,
Badavina Co.ltd (Hàn Quốc), Sojitz (Nhật), I.B.C Co.ltd (Singapore) và các nhà máy
thức ăn thủy sản, gia súc trong nước như: công ty Tuấn Minh (Hà Nội), cty CiBi Việt
Nam (Biên Hòa), cty thức ăn gia súc Lái Thiêu, cty Long Văn…đã đem lại doanh thu
hiện tại cho công ty 10 tỷ đồng /tháng. Hiện nay hai mặt hàng này đang thiếu hụt bởi
hàng loạt các nhà máy thức ăn thủy sản, gia súc ra đời. Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ có
xu hướng đang tăng và nâng cao khả năng cạnh tranh với đối thủ chính là cty cổ phần
Nam Việt, từ ngày 01/03/2008 xí nghiệp bắt đầu hoạt động 2 dây chuyền bột cá với
công suất 300 tấn nguyên liệu /ngày. Doanh thu năm 2008 ước tính khoảng 304 tỷ
đồng.
−Bê tông tươi: đang hoạt động tốt và có thị phần lớn bởi vì chỉ có một đối thủ
cạnh tranh nhưng máy móc thiết bị của họ rất cũ, trong khi nhu cầu sử dụng bê tông
tươi ngày càng lớn. Chính vì vậy, xí nghiệp đang mở rộng thị trường ở Châu Phú,
Châu Đốc, Thốt Nốt, Lấp Vò,…Dự tính doanh thu năm 2008 đạt khoảng 38 tỷ đồng.
−Cơ điện lạnh: đã có hơn 20 năm kinh nghiệm trong việc lắp đặt hệ thống máy
móc ngành thủy sản. Xí nghiệp Cơ điện lạnh đã được đầu tư tương đối hoàn
chỉnh. Các sản phẩm cơ khí chia thành bốn nhóm sau:
Nhóm cơ khí sắt thép: sản xuất khung kèo thép, cầu sắt, khung sắt…
Nhóm cơ khí Inox – nhôm: sản xuất các trang thiết bị cung cấp cho các nhà máy
chế biến thủy sản như dây chuyền sản xuất cá, bàn chế biến, máy tăng trọng, khung
cửa Inox, khung nhôm kính, tủ bảo hộ lao động…
Nhóm cơ khí nghiên cứu: chế tạo sản phẩm mới như máy bơm cá, băng chuyền
IQF, tái đông, mạ băng, dây chuyền sản xuất có tự động hóa tính toán định mức và
kiểm tra chất lượng sản phẩm.
Nhóm lắp đặt cơ điện lạnh: lắp đặt khung kèo, lắp đặt điện, lắp đặt hệ thống
lạnh…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status