skkn rèn kỹ NĂNG NHẬN BIẾT các môi TRƯỜNG địa lý QUA PHÂN TÍCH BIỂU đồ NHIỆT độ và LƯỢNG mưa ở môn địa lý lớp 7 - Pdf 32

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THCS & THPT BÀU HÀM

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

RÈN KỸ NĂNG NHẬN BIẾT CÁC MÔI TRƯỜNG
ĐỊA LÝ QUA PHÂN TÍCH BIỂU ĐỒ NHIỆT ĐỘ VÀ
LƯỢNG MƯA Ở MÔN ĐỊA LÝ LỚP 7

Người thực hiện: Phạm Thị Ngoạt
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lí giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Địa lý
- Lĩnh vực khác

Có đính kèm:
Mô hình

Phần mềm

Phim ảnh

Năm học: 2012 – 2013

Hiện vật khác


SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I/ Thông tin chung về cá nhân:
1. Họ và tên: PHẠM THỊ NGOẠT
2. Ngày tháng năm sinh: 05/03/1969

Trong xu hướng đổi mới phương pháp giáo dục nói chung, môn Địa lí nói
riêng, việc áp dụng các phương pháp dạy và học sao cho hiệu quả, phù hợp với khả
năng nhận thức của học sinh, đây là một vấn đề hết sức bức thiết. Những năm gần đây
định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực
hóa hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên thì học
sinh đã chủ động, ý thức, vận dụng linh hoạt sáng tạo kiến thức, kĩ năng đã thu nhận
được. Đặc biệt đối với tầm nhận thức của học sinh THCS thì những hệ thống kiến
thức từ địa lí đại cương đến địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hội các châu lục rất đa dạng,
đôi khi quá trừu tượng.
Trong chương trình địa lí THCS nói chung và môn địa lí lớp 7 nói riêng, phần
các môi trường địa lí được tiếp nối và nâng cao hơn một bước so với chương trình địa
lí đại cương lớp 6 mà các em được tìm hiểu ở năm học trước. Muốn học sinh nắm
vững kiến thức thì đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng các phương pháp sao cho
phù hợp nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng là “Rèn kĩ năng nhận biết các môi trường
địa lí qua phân tích biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa”. Nếu học sinh đạt được kĩ năng
tốt, trong mỗi bài học hay đến bất kì tiết thực hành nào của mỗi chương về các môi
trường địa lí, các em sẽ hứng thú, tự tin, sáng tạo và nhanh chóng tìm được kết quả
theo yêu cầu của câu hỏi trong sách giáo khoa hoặc bài thực hành. Đó chính là điều
tôi trăn trở nhất và rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp và sự chỉ
đạo của cấp trên.
II.TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Theo định hướng chung, việc đổi mới phương pháp dạy học mà Nghị Quyết
Trung Ương 2 (khóa VIII) nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào
tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học,
từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá
trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”.
Dựa trên quan điểm chỉ đạo của chương trình địa lí THCS yêu cầu giáo viên
vận dụng mọi hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm giúp học sinh có được những
kiến thức, kĩ năng cần thiết vừa phù hợp với khả năng nhận thức của mình vừa rèn

+ Phần III: Tìm hiểu thiên nhiên và con người ở các châu lục.
- Phần II: Các môi trường địa lí gồm năm chương, mỗi chương là một môi
trường như: Đới nóng, đới ôn hòa, hoang mạc, đới lạnh và núi cao và chiếm 1/3 thời
lượng trong chương trình với tổng số là 20 tiết. Đối tượng mà giáo viên đề cập đến
trong chuyên đề này chính là các biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa với số lượng có trong
bài học lẫn thực hành là 20 biểu đồ, như vậy giáo viên chuẩn bị kĩ năng cho học sinh
như thế nào thì các em nắm vững từng biểu đổ đại diện cho từng kiểu, hay từng môi
trường địa lí trên bề mặt Trái Đất. Trọng tâm của phần các môi trường địa lí sẽ là tiền
đề để tìm hiểu kiến thức về thiên nhiên và con người ở các châu lục ở cuối chương
trình địa lí lớp 7 và đầu chương trình địa lí lớp 8 ở học kì I.
- Nhận biết các môi trường địa lí thường thể hiện ở dạng kết hợp giữa biểu đồ
đường và biểu đồ hình cột cùng nằm trong hệ trục tọa độ. Vậy biểu đồ đường luôn thể
hiện rõ quá trình thay đổi nhiệt độ trung bình trong năm, còn biểu đồ hình cột biểu
hiện số lượng đặc biệt là lượng mưa trung bình giữa các tháng trong năm. Để thực
hiện được điều này giáo viên hướng dần học sinh đi theo trình tự như sau:
2.1. Xác định các đối tượng địa lí được thể hiện trên biểu đồ:
Ở chương trình lớp 6 học sinh đã làm quen với biểu đồ đầu tiên qua bài thưc
hành cơ bản như đọc các trị số chỉ ở trục dọc về lượng mưa trung bình, trục ngang
biểu hiện các tháng trong năm, đến lớp 7 các em sẽ vận dụng và nâng cao hơn một


bước nữa. Vì vậy ngay bài đầu tiên giáo viên phải nghiên cứu thật tỉ mỉ và khéo léo sử
dụng phương pháp đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, bởi vì biểu đồ là một công cụ để
giáo viên khai thác và truyền thụ tri thức, là một phương tiện để hướng dẫn học sinh
tìm ra những nội dung chủ yếu của bài học. Có như thế sẽ giúp học sinh bồi dưỡng
khả năng tư duy địa lí một cách sáng tạo và khoa học.
Ví dụ: Bài 5 “Môi trường xích đạo ẩm”
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát và đọc tên tên biểu đồ rồi sau đó đưa ra hệ
thống câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp như sau:
Câu hỏi 1: Dựa vào hình 5.2 biểu đồ nhiệt độ

dễ hiểu, thể hiện được mối liên hệ giữa các yếu tố trong biểu đồ và có tính xuyên suốt
ở các bài thuộc các môi trường địa lí. Nếu ở bài đầu tiên học sinh tích cực làm việc
theo đúng yêu cầu của giáo viên, sáng tạo trong quá trình tìm tòi kiến thức thì các em
sẽ thấy được ý nghĩa của của biểu đồ trong mỗi bài học nó là những con số biết nói.
Ví dụ: Bài 7 “Môi trường nhiệt đới gió mùa”
- Bước 1: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc và phân tích nhiệt độ và lượng mưa ở
hình 7.3 và 7.4 sách giáo khoa trang 24.
- Bước 2: Giáo viên chia lớp làm hai nhóm lớn.
+ Nhóm 1: thực hiện biểu đồ bên tay phải là phân tích biểu đồ nhiệt độ và
lượng mưa của Mum-bai (Ấn Độ)
+ Nhóm 2: thực hiện biểu đồ bên tay trái là phân tích biểu đồ nhiệt độ và lượng
mưa của Hà Nội (Việt Nam)


- Bước 3: Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi được ghi tóm tắt trên phần bảng
động để học sinh tiện theo dõi trong quá trình hoạt động của mình như sau:
+ Về nhiệt độ: cao nhất, thấp nhất là bao nhiêu độ C? Vào tháng mấy? Biên độ
dao động nhiệt trong năm bao nhiêu độ C?
+ Về lượng mưa: Các tháng mưa nhiều trong năm là tháng nào, lượng mưa
trung bình tháng cao nhất là bao nhiêu mm?
- Bước 4: giáo viên hướng dẫn học sinh đọc trị số tìm được trên biểu đồ bằng
cách dùng thước kẻ đặt nơi có đường biểu diễn nhiệt độ trung bình cao nhất vuông
góc với trục tung để lấy trị số ở cột nhiệt độ, sau đó đặt thước vuông góc với trục
hoành để biết tháng có nhiệt độ cao nhất. Tháng có nhiệt độ thấp nhất thì lấy đường
biểu diễn xuống thấp nhất và cũng đo tương tự như trên. Còn tính biên độ nhiệt chỉ
cần lấy trị số cao nhất trừ cho trị số thấp nhất mà thôi, cách đo tính lượng mưa thì các
em chỉ cần tìm được các tháng mưa nhiều trong năm, lượng mưa cao nhất cũng như
đo tính nhiệt độ.
- Bước 5: Khi các em hoàn tất công việc của mình trong thời gian qui định của
giáo viên thì các em trình bày kết quả, các nhóm khác bổ sung, giáo viên chuẩn lại

Như vậy hình thức hoạt động trong một nhóm lớn các em lại có từ 5 đến 6
nhóm nhỏ tùy theo số bàn ở mỗi dãy, mỗi nhóm nhỏ từ 3 đến 4 học sinh. Tôi nhận
thấy các em rất tích cực và tự giác khi nhận nhiệm vụ và để khuyến khích tinh thần tự
học sau khi kết thúc thời gian, giáo viên sẽ gọi bất kì một học sinh đại diện cho mỗi
dãy, nếu học sinh trình bày kết quả tốt sẽ được ghi điểm trong tiết học đó. Ngược lại
nếu để học sinh hoạt động theo nhóm lớn với số lượng từ 4 đến 8 em thì không hiệu
quả bởi một số em không làm việc mà chỉ dựa vào kết quả của bạn đại diện báo cáo,
vậy khi làm bài các em lúng túng không xác định được các mối liên hệ giữa các đối
tượng với nhau.
2.3. Nhận xét các yếu tố thể hiện trên biểu đồ:
Dựa trên kết quả xác định mối liên hệ giữa nhiệt độ và lượng mưa của từng địa
điểm. Giáo viên tiến hành hướng dẫn học sinh bước vào giai đoạn nhận xét kết quả, Ở
đây thường sử dụng phương pháp trình bày vấn đề để hướng học sinh biết cách lập
luận một vấn đề lô gich, khoa học dựa trên cơ sở của biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa.
Để thực hiện được thì các em phải nắm vững kiến thức từ các bài học trước. Như ở
môi trường đới nóng thì nhiệt độ trung bình tháng là cao, mưa nhiều vào mùa hạ nếu
ở bán cầu Bắc.
Ví dụ: Bài 7 “Môi trường nhiệt đới gió mùa”. Các em có nhận xét như sau:
* Đặc điểm chung:
- Biên độ nhiệt trung bình ở môi trường nhiệt đới gió mùa cao khoảng 80C.
- Nhiệt độ trung bình năm trên 200C (chung cho cả môi trường nhiệt đới).
- Lương mưa trung bình năm trên 1700mm.
- Một năm có hai mùa rõ rệt.
* So sánh:
Địa điểm Hà Nội (Việt Nam)
- Biên độ nhiệt TB cao hơn.
- Mùa đông thời tiết lạnh hơn.

Địa điểm Mum - bai (Ấn Độ)
- Biên độ nhiệt TB thấp hơn.


Lưu ý: Giáo viên có thể mở rộng cho học sinh về hoang mạc ở đới ôn hòa tuy
có mùa đông rất lạnh nhưng do không khí khô khan nên rất hiếm khi có tuyết rơi và
lượng mưa tuy ít nhưng ổn định, không biến động nhiều giữa các năm như ở hoang
mạc đới nóng.
2.4. Sắp xếp biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa vào vị trí thích hợp từng môi trường
địa lí:
Sau mỗi môi trường địa lí thì có một tiết thực hành để nhận biết đặc điểm môi
trường địa lí thông qua phân tích biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa. Giáo viên đã rèn cho
học sinh từng bước rất tỉ mỉ dựa trên cơ sở phân tích, giải thích mối liên hệ giữa các
đối tượng địa lí về nhiệt độ, lượng mưa. Tuy nhiên ở bài thực hành được nâng cao
hơn một bước nữa là kết hợp quan sát ảnh địa lí để xác định được môi trường.
Ví dụ: Bài 12 Thực hành “Nhận biết
đặc điểm môi trường đới nóng”
Có 3 ảnh về các kiểu môi trường
đới nóng, xác định từng ảnh thuộc kiểu
môi trường nào?


B. Công viên quốc gia Se- ran- gát

A. Xa-ha-ra
C. Bắc Công-gô

Giáo viên chia lớp làm 3 nhóm, yêu cầu mỗi nhóm học sinh quan sát từng ảnh
theo các bước sau:
+ Mô tả quang cảnh trong bức ảnh.
+ Chủ đề của ảnh phù hợp với đặc điểm của môi trường nào ở đới nóng.
+ Xác định tên của môi trường trong ảnh.
Giáo viên gọi đại diện nhóm trình bày kết quả như sau:

tháng 5 đến tháng 9, mùa đông ấm áp nhiệt độ trung bình 10 0C,. Biên độ nhiệt trung
bình 150C.
* Lượng mưa: Mưa nhiều vào mùa thu – đông, mùa hạ khô nóng, bầu trời trong
xanh và không mưa.
→ Kết luận: Đây chính là môi trường Địa trung hải ven bờ Địa Trung Hải.
+ Biều đồ C:
* Nhiệt độ: Trung bình mùa hạ mát dưới 15 0C, trung bình mùa đông ấm áp
nhiệt độ không quá 50C,. Biên độ nhiệt trung bình 100C.
* Lượng mưa: Mưa nhiều và mưa quanh năm, tháng 12,1 có lượng mưa cao
nhất là 175mm.
→ Kết luận: Đây chính là môi trường ôn đới hải dương ở ven biển Tây Âu.
Sau khi học sinh hoàn tất công việc của mình, yêu cầu cả lớp nhận xét kết quả,
giáo viên chuẩn lại kiến thức nhằm khắc sâu một lần nữa về kiến thức và kĩ năng nhận
biết biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa ở bất cứ một môi trường nào. Ở mức độ cao của
quá trình nhận biết là khả năng trình bày khi quan sát ảnh, kết hợp lược đồ các em đặt
các biểu đồ vào đúng vị trí khi các em lên đọc và phân tích. Trong quá trình dạy và
học giáo viên không chỉ đánh giá kết quả tại lớp mà còn đánh giá kết quả trong bài
kiểm tra một tiết, học kì bằng kênh hình để học sinh độc lập kiểm định kĩ năng của


mình. Song song đó giáo viên nên dành thời gian của tiết thực hành để cho học sinh
xác định biểu đồ khí hậu địa phương mình thuộc loại khí hậu nào ở đới nóng. Việc
phân tích biểu đồ khí hậu của tỉnh (hoặc của huyện mà giáo viên có thể sưu tầm hoặc
do Sở, Phòng Giáo dục Đào tạo cung cấp) sẽ tạo hứng thú cho học sinh vì các em đã
tự khám phá được đặc điểm khí hậu của địa phương mình đang sống.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
Như vậy đổi mới phương pháp dạy và học được thể hiện cả một quá trình lâu
dài và phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối kết hợp nhịp nhàng giữa người dạy và người
học thì hiệu quả giáo dục đạt kết quả cao. Trong qúa trình dạy giáo viên phải nhiệt
tình, nắm vững kiến thức, kết hợp các phương pháp một cách hài hòa nhằm hướng

9.1
7A3
34
4
11.8
7A4
35
3
8.6
Số liệu sau khi áp dụng:
Lớp
7A1
7A2
7A3

Sỉ số

Sỉ số
36
33
34

Giỏi
SL
%
12
33.3
7
21.2
8

41.7
17
51.5
17
50.0
17
48.6
Trung bình
SL
%
5
13.9
14
42.4
12
35.3

Yếu
SL
/
7
6
8

%
/
21.2
17.6
22.8
Yếu

8.6

IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Căn cứ vào sự đổi mới phương pháp dạy học ở môn Địa lí có tầm quan trọng
đối với mỗi giáo viên và học sinh, mỗi giáo viên cần phải giảm thiểu tối đa lối giảng
dạy thuyết giảng một chiều. Cần phải chuyển quá trình thuyết giảng của giáo viên
thành cuộc trao đổi, đàm thoại giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh
một cách thận trọng, nhẹ nhàng hơn. Thông qua đó, giáo viên sẽ đánh giá mức độ tiếp
thu kiến thức của học sinh qua các dạng bài kiểm tra trực tiếp sau mỗi bài học hoặc
kiểm tra giữa kì , cuối học kì ...
Để có kết quả giảng dạy tốt, giáo viên phải có sự lựa chọn những phương pháp
dạy học thích hợp, có thể vận dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhằm đạt
đến mục tiêu cuối cùng là rèn luyện cho học sinh thói quen tự học, tự tìm tòi tri thức
mới, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem
lại hứng thú học tập cho học sinh.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách giáo khoa Địa lí lớp 7 (Bộ giáo dục)
- Sách giáo viên Địa lí lớp 7 (Bộ giáo dục)
- Đổi mới dạy học địa lí THCS (Nhà xuất bản giáo dục)
- Địa lí tự nhiên (Lê Bá Thảo)
Người thực hiện

Phạm Thị Ngoạt


THỰC TẾ MỘT BÀI SOẠN MINH HỌA CHO TIẾT RÈN KỸ NĂNG
NHẬN BIẾT CÁC MÔI TRƯỜNG ĐỊA LÍ

Tuần: 6 – Tiết: 11


Hoạt động 1: (Cá nhân, nhóm) 15 phút.
1. Có ba ảnh về các kiểu môi
GV yêu cầu cả lớp quan sát bài tập 1 và trường đới nóng, xác định từng
gọi 2 HS đọc kỹ yêu cầu đề bài.
ảnh thuộc kiểu môi trường nào?
GV yêu cầu HS nhận dạng ba môi trường
đới nóng qua ảnh A,B,C trang 39 SGK địa
lí lớp 7. Sau đó, HS sẽ xác định tên của ba
môi trường bằng kiến thức đã học theo
trình tự các bước sau:

* Ảnh A: (Xa-ha-ra)
- Những cồn cát lượn sóng mênh
mông dưới nắng chói chan, không
có thực, động vật.
- Xa-ha-ra là hoang mạc nhiệt đới
lớn nhất Trái Đất. Có đường chí
- Hãy mô tả quang cảnh trong từng bức tuyến Bắc ngang qua nên cực kì khô
ảnh.
hạn, khí hậu khắc nghiệt.
- Chủ đề ảnh phù hợp với đặc điểm của → Môi trường hoang mạc.
môi trường nào ở đới nóng?
- Tên của từng môi trường trong ảnh là * Ảnh B (Công viên Se-ran-gat)
gì?
- Đồng cỏ, cây cao xen lẫn, phía xa
là rừng hành lang.
GV: Chia lớp làm 3 nhóm lớn.
- Thời tiết nắng nóng, mưa theo
- Mỗi nhóm xác định một ảnh.
mùa, xavan là thảm thực vật tiêu

năm chỉ có ở xích đạo ẩm, mưa theo mùa là
môi trường nhiệt đới)
GV: Hướng dẫn, đối chiếu các trị số của
nhiệt độ và lượng mưa từng biểu đồ, bằng * Biểu đồ A:
phương pháp loại trừ các biểu đồ không phù - Nhiều tháng nhiệt độ < 150C vào


4. Đánh giá: (5 phút)
Sự chuẩn bị của học sinh ở nhà và tại lớp.
5. Hoạt động nối tiếp:
- Ôn lại ranh giới và đặc điểm các đới khí hậu trên Trái Đất.
- Đới ôn hòa (ôn đới) có diện tích ở Bắc bán cầu và Nam bán cầu như thế nào?
IV. RÚT KINH NGHIỆM:
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………

SỞ GD & ĐT ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THCS & THPT BÀU HÀM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Trảng Bom , ngày 15 tháng 05 năm 2013

PHIẾU NHÂN XÉT , ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2012 – 2013
RÈN KỸ NĂNG NHẬN BIẾT CÁC MÔI TRƯỜNG ĐỊA LÝ QUA
PHÂN TÍCH BIỂU ĐỒ NHIỆT ĐỘ VÀ LƯỢNG MƯA Ở MÔN ĐỊA LÝ LỚP 7
Họ và tên tác giả: Phạm Thị Ngoạt
Đơn vị: tổ Sử - Địa - Anh
Lĩnh vực: Địa lý

Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
( Ký tên và ghi rõ họ tên )
( Ký tên và ghi rõ họ tê




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status