SKKN RÈN KỸ NĂNG GIẢI BÀI TẬP VỀ GƯƠNG PHẲNG_VẬT LÝ 7 - Pdf 26

1. Tên đề tài:
RÈN KỸ NĂNG GIẢI BÀI TẬP VỀ GƯƠNG PHẲNG
(Vật lý 7)
2. Đặt vấn đề:
Môn vật lý là một trong những môn khá quan trọng trong nhà trường phổ
thông. Nó có khả năng to lớn trong việc rèn luyện cho học sinh tư duy logic và
biện chứng khoa học, hình thành ở học sinh niềm tin về bản chất khoa học của
các hiện tượng, quy luật vật lý, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong
thực tiễn cuộc sống. Học tốt môn vật lý sẽ góp phần học tốt các môn học khác
như môn Công nghệ, Sinh học….,góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo
dục trong nhà trường.
Để học tốt môn vật lý, song song với việc nắm vững lý thuyết , học sinh cần
phải có kỹ năng giải bài tập, để từ đó giúp các em hiểu sâu hơn, nhớ lâu hơn các
kiến thức, tạo đều kiện cho các em hoàn thiện về mặt nhận thức và tích lũy vốn
tri thức cho mình.
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy môn Vật lý 7, bản thân nhận thấy học sinh
khối 7 với vốn kiến thức ít ỏi và càng ít ỏi hơn là kinh nghiệm với những thực tế
về các hiện tượng quang học xung quanh các em. Do đó việc rèn kỹ năng giải bài
tập về gương phẳng thực sự là một khó khăn không nhỏ với học sinh. Mặt khác
phần gương phẳng là một bộ phận kiến thức quan trọng trong chương Quang
học, nhưng bài tập phần này gây cho đa số các em không ít khó khăn, lúng túng,
nhìn chung các em giải bài tập phần này mang tính kỹ thuật hơn là tư duy. Nếu
các em được hướng dẫn những điểm cơ bản về lý thuyết cũng như vẽ ảnh của
một vật, … thì các em sẽ có kỹ năng giải bài tập về gương phẳng.
Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
1
Từ những lý do trên và những kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm môn vật lý
7, tôi chọn đề tài này để viết sáng kiến kinh nghiệm nhằm giúp các em nâng cao
kỹ năng giải bài tập về gương phẳng, góp phần nâng cao chất lượng môn vật lý
nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung.
3. Cơ sở lý luận:

phương pháp giải bài tập vật lý
- Học sinh chưa nắm vững kiến thức, do đó gặp không ít khó khăn trong
việc vẽ ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng và hoàn thiện các yêu cầu
khác của đề bài
- Kiến thức hình học còn hạn chế chưa đáp ứng việc vẽ ảnh của một vật qua
gương phẳng bằng cách vận dụng tính chất của ảnh (t/c đối xứng)
- Học sinh đọc chưa kỹ đề nắm bắt lượng thông tin cần thiết trong đề bài
còn hạn chế.
- Đặc biệt hơn cả là sự chuyên cần ở HS còn quá ít. Khả năng vận dụng và
kỹ năng quan sát, tìm hiểu cuộc sống xung quanh ở các em học sinh còn
hạn chế.
5. Nội dung nghiên cứu:
Nhằm nâng cao năng lực gải bài tập về gương phẳng, góp phần nâng cao chất
lượng môn học, trong phạm vi đề tài này tôi hướng dẫn giúp học sinh có một
định hướng đúng đắn khi giải bài tập về gương phẳng thông qua việc nắm vững
các kiến thức cơ bản và có kỹ năng giải bài tập về gương phẳng:
5.1 Hệ thống hóa một số kiến thức cơ bản:
a. Tia sáng: Đường truyền của ánh sáng được biểu diễn bằng một đường
thẳng có hướng gọi là tia sáng
b. Hiện tượng phản xạ ánh sáng:
Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
3
Hiện tượng tia sáng sau khi tới mặt phẳng bị hắt lại theo một hướng xác định
c. Định luật phản xạ ánh sáng:
- Tia phản xạ nằm trong mặt phẳng chứa tia tới và đường pháp tuyến của
gương tại điểm tới
- Góc phản xạ bằng góc tới.
d. Biểu diễn gương phẳng, các tia sáng và tên gọi các thành phần trên hình vẽ:
*Gương phẳng (M)
* Tia tới SI


5.2 MỘT SỐ BÀI TẬP MANH HỌA CHO ĐỀ TÀI
Bài 1 : Cho một điểm sáng S trước gương phẳng M như hình vẽ.
Hãy trình bày cách vẽ và vẽ ảnh S

của điểm sáng S bằng hai cách
a. Áp dụng tính chất cảu ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng
b. Áp dụng định luật phản xạ ánh sáng
Hướng dẫn giải
*Cách vẽ:
a. Áp dụng tính chất của ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng:
Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
5
Vùng nhìn thấy của gương
M

M
M
S.
Vì ảnh và vật đối xứng với nhau qua gương phẳng nên ta kẻ SS

vuông góc với
gương phẳng tại H sao cho S

H =SH. Vậy S

là ảnh của S

1

i
2

i
/
2 Bài 2: Chiếu một tia sáng SI lên một gương phẳng M như hình vẽ
a. Hãy vẽ tia phản xạ IR

Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
6
S

H
I
K
R
2
N
2
R
1
N


b. Tính giá trị của góc phản xạ:
Từ I ta dựng đường pháp tuyến IN
Ta có: SIN = MIN – SIM= 90
0
– 30
0
= 60
0
Theo định luật phản xạ ánh sáng, góc phản xạ bằng góc tới,
nên NIR= SIN=60
0
Vậy góc phản xạ bằng 60
0

Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
7
30
0
R
N
S
M
I
S

R
N
S
I

cần vẽ.
• Nếu có một điểm I
1
khác không trùng với I thì đường kéo dài I
1
B không thể
qua A

, nghĩa là không thể có đường truyền khác ngoài đường truyền AIB.
Vậy đường truyền này là duy nhất.
• Vẽ hình:
Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
8
.A
.B
A
B
H
I
A


Bài tập 4: Cho một vật sáng AB đặt trước một gương phẳng
a/ Hãy vẽ ảnh A’B’ tạo bởi gương

Mà B’K=BK nên BB’= 2BK
Thay số và ta được:BB’=2x50=100(cm)
c/ Tính khoảng cách AA’:
Khi di chuyển vật AB ra xa gương một khoảng x thì khoảng cách từ A đến
gương tăng thêm x nên khoảng cách từ ảnh A’ cũng tăng thêm x. Do đó khoảng
cách AA’ tăng thêm 2x=2 x10= 20(cm)
Vậy AA’=60+20 =80 (cm)
Bài tập 5: Hai gương phẳng (M), (N) có mặt phản xạ quay vào nhau và hợp
một góc α. Hai điểm A,B nằm trong khoảng hai gương. Hãy trình bày cách vẽ và
đường đi của tia sáng từ A đến gương (M) tại I, phản xạ đến gương (N) tại J rồi
truyền đến B. Xét hai trường hợp:
a/ α là góc nhọn.
b/ α là góc tù
c/ Nêu điều kiện để phép vẽ thực hiện được.
Hướng dẫn giải
* Cách vẽ:
a. b) Gọi A’ là ảnh của A qua gương phẳng(M). Tia phản xạ trên gương (M) tai
I phải có đường kéo dài đi qua A’
Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
10
Gọi B’ là ảnh của B qua gương phẳng (N). Để tia phản xạ trên gương (N) tại J
qua được điểm B thì tai tới tại J phải có đường kéo dài đi qua B’. Từ đó trong
cả hai trường hợp ta có được phép vẽ sau:
+Vẽ ảnh A’ đối xứng với A qua gương (M)
+ Vẽ ảnh B’ đối xứng với B qua gương (N)
+ Nối A’B’ sẽ cắt gương (M) tại I, cắt gương (N) tai J.
+ Tia sáng AIJB là tia sáng cần vẽ.

* Vẽ hình:
a) α là góc nhọn:

Kết quả khảo sát HS sau khi áp dụng SKKN năm học 2010-2011
LỚP SĨ SỐ GIỎI KHÁ TB YẾU
SL % SL % SL % SL %
7/1 42 13 30.8% 10 23.8% 14 33.3% 8 19.1%
7/2 42 11 26.2% 10 23.8% 10 23.8% 6 14.2%
7/3 41 12 29.3% 11 26.8% 11 26.8% 7 17.1%
TS 125 36 28.7% 31 24.8 35 27.9% 21 16.8%
SSKQ Tăng 23.1% Tăng 10.4% Giảm 11.3% Giảm 23.9%
7. Kết luận:
Với nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy môn vật lý 7, áp dụng các giải pháp đã
nêu ở trên tôi nhận thấy kết quả giải bài tập về gương phẳng của học sinh có
nhiều tiến bộ, đem lại kết quả cao. Nhìn chung, đa số các em đều nắm vững kiến
thức cơ bản về gương phẳng, biết vẽ ảnh của điểm sáng và vật sáng đặt trước
Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
12
A
(M)
A

I
J
B
B

(N)
gương phẳng và các yêu cầu khác có liên quan. Với đề tài này góp phần nâng
cao kỹ năng giải bài tập về gương phẳng nói riêng và bài tập Vật lý nói chung.
Mặt khác còn có thể sử dụng làm một trong những chuyên đề bồi dưỡng học sinh
giỏi, nhằm nâng cao mở rộng kiến thức cho các em, góp phần đẩy mạnh phong
trào mũi nhọn của nhà trường.

2. Đặt vấn đề………………………………………… Trang 1
3. Cơ sở lý luận ……………………………………….Trang 1
4. Cơ sở thực tiễn…………………………………… Trang 2
5. Nội dung nghiên cứu……………………………… Trang 2
6. Kết quả nghiên cứu………………………………….Trang 8
7. Kết luận………………………………………………Trang 9
8. Đề nghị……………………………………………….Trang 10
9. Tài liệu tham khảo……………………………………Trang 11
10.Mục lục……………………………………………….Trang 12
Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
17
Giáo viên: Đặng Thị Kiều Như
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status