VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
LỚP CAO HỌC CHUYÊN NGÀNH
QUẢN LÝ GIÁO DỤC KHOÁ 2008 – 2011
Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2010
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG GIÁO DỤC
Họ và tên: Hoàng Thu Hồng
Câu hỏi) Phân cấp trong quản lý tài chính giáo dục
1) Các tiêu chí/thông số đánh giá mức độ phân quyền trong quản lý tài chính của
giáo dục; tác động của phân cấp về tài chính đối với quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội.
2) Liên hệ với thực tế và khuyến nghị các biện pháp nhằm cải tiến phân cấp về tài
chính cho giáo dục.
Bài làm)
1) Các tiêu chí/thông số đánh giá mức độ phân quyền trong quản lý tài chính của
giáo dục; tác động của phân cấp về tài chính đối với quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội.
1.1) Khái niệm:
- Quyền lực chẳng qua là mức độ độc lập trong hoạt động dành cho mọi người trong
tổ chức để tạo ra khả năng sử dụng những quyết đoán của họ thông qua việc trao cho họ
quyền ra các quyết dịnh hay các chỉ thị.
- Phân quyền là xu hướng phân tán các quyền ra quyết định theo cấp bậc của hệ
thống tổ chức.
- Tập quyền được sử dụng để mô tả các xu thế không có sự phân chia quyền lực
Đã tồn tại một cơ cấu tổ chức, đều có một sự phân quyền nào đó của các cơ quan
quản lý nhà nước cho các cơ sở GD, nếu không thì cơ cấu đó không tồn tại.
- Mặc dù có liên quan chặt chẽ với việc giao phó quyền hạn, nhưng sự phân cấp còn
phản ánh rất rõ một đường lối về tổ chức và quản lý.
1.2) Các tiêu chuẩn đánh giá mức độ phân quyền về tài chính
Mức độ phân quyền trong quản lý tài chính của GD càng lớn có thể đo bằng các
thông số:
- Mật độ các quyết định về tài chính được đề ra ở cấp tổ chức thấp
Bộ Tài Chính
Các Bộ
ngành khác
Hai ĐH
Quốc gia
Trường trực
thuộc
Trường trực
thuộc
Sở ngành
khác
Trường trực
thuộc
Sở GD &
ĐT
Trường trực thuộc
(THPT, DTNT…)
Bộ KHĐT
Bộ GD ĐT
UBND Tỉnh
trường đại học; các trường có thể tham gia đăng ký, cạnh tranh để dành ngân khoản; khi
được Chính phủ cấp kinh phí thì các trường đại học phải chịu trách nhiệm tuân thủ các quy
định của nơi cấp kinh phí đối với khoản kinh phí đã được cấp. ở các quốc gia khác, các
nguồn tài chính do Chính phủ cấp dùng cho xây dựng trường sở, mua sắm thiết bị, chi phí
thường xuyên và nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, học phí, hợp đồng cung cấp dịch vụ, các
khoản và thu phí khác cũng là nguồn thu lớn của các trường đại học.
Tự chủ tài chính được thể hiện trong sự tự do của các trường đại học trong việc
phân bổ nguồn lực nhận được từ nhà nước và các cơ quan tài trợ khác. Quyền tự chủ tài
chính phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng cơ chế tài chính nào trong phân bổ ngân sách.
Pháp luật đã xác định 3 mô hình phân bổ tài chính từ bên ngoài: cơ chế phân bổ trọn gói,
cơ chế hành chính, cơ chế thị trường. Trong cơ chế thứ nhất, trường đại học có thể xác
định ưu tiên phân bổ và tự do sử dụng nguồn lực được cấp trong phạm vi quy chế của
trường. Trong mô hình thứ hai, cơ quan phân bổ tài chính bên ngoài xác lập các quy định
theo đó tài chính được phân bổ và sử dụng trong trường đại học. Trong mô hình thứ ba,
trường đại học bán sản phẩm cho nhiều người tiêu dùng để nhận nguồn tài chính, do vậy
không có một cơ quan bên ngoài nào có thể độc quyền kiểm tra trường đại học.
Từ các mô hình trên cho thấy mô hình thứ nhất và mô hình thứ ba đảm bảo tính tự
chủ của các trường đại học trong phân bổ và sử dụng tài chính. Mô hình phân bổ trọn gói
cho phép các học giả trong trường đại học có quyền tham gia vào việc ra quyết định phân
bổ và sử dụng tài chính. Trong mô hình thị trường, các bên tham gia thuộc hai nhóm:
nhóm người cung cấp dịch vụ và nhóm người trả phí để sử dụng dịch vụ. Các trường đại
học công, khi tham gia vào cơ chế này, cũng hoạt động như một thể chế tự chủ trong quan
hệ với các trường đại học cũng sẽ chỉ như người sử dụng dịch vụ trả phí của trường đại
học. Tuy nhiên, khi nhà nước cung cấp tài trợ, các trường có thể phải hoạt động trong
khuôn khổ các quy định tài chính đã ban hành. Ngày nay, ở nhiều quốc gia, các trường đại
học đang cố gắng thu hút nhiều sinh viên đóng học phí vào học, do vậy, rất ít phụ thuộc
vào nhà nước. Mức học phí có thể rất khác nhau phụ thuộc vào chính sách của từng
trường, chất lượng và uy tín của các văn bằng được cấp.
Luật Giáo dục Đại học Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định rõ: Trường đại học
quy định của Việt nam.
Hiệu trưởng nhà trường được tự chủ điều chỉnh mức thu học phí, lệ phí trong
khung quy định của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tính chất, đối tượng đào tạo và vị
thế, thương hiệu của nhà trường, đồng thời được chủ động phân bổ sử dụng các nguồn
kinh phí hoạt động của mình. Căn cứ vào kết quả tài chính trong năm nhà trường được xác
định quỹ lương theo hệ số điều chỉnh tăng thêm mức lương tối thiểu so với mức lương tối
thiểu chung do Nhà nước quy định.
Để phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, tạo điều kiện quản lý đầu tư có hiệu quả,
cơ chế quy định nhà trường được làm chủ đầu tư các dự án đầu tư cho nhà trường thuộc
nhóm B bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và quyết định đầu tư nhóm C bằng nguồn
vốn phát triển sự nghiệp của nhà trường và vay vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước phù hợp
với quy hoạch phát triển nhà trường đã được nhà nước phê duyệt. Các trường đại học phải
được tự chủ phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng cơ bản dưới 20 tỷ đồng.
Trên cơ sở đổi mới tư duy và xu hướng cải cách giáo dục đại học, các chính sách
tài chính cần được hoạch định cho phù hợp, mang tính chất tự chủ và tự chịu trách nhiệm
của từng trường đại học, cao đẳng.
Các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập hay ngoài công lập đều có các
nguồn tài chính như sau:
Kinh phí do Nhà nước cấp:Kinh phí chi thường xuyên cấp theo đầu sinh viên (được
tính theo chi phí đào tạo thực cho một sinh viên nhân với tổng số chỉ tiêu sinh viên được
đào tạo). Tổng chỉ tiêu sinh viên được đào tạo cho một cơ sở đào tạo được phân theo bốn
tiêu chí như Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất (1. Tỷ lệ sinh viên/1 giảng viên, 2. Diện
tích mặt sàn/1 sinh viên, 3. Giá trị thiết bị/1 sinh viên, 4. Tỷ lệ sinh viên phi chính quy/sinh
viên chính quy). Kinh phí chi thường xuyên này được chuyển cho nhà trường thông qua
hình thức tín dụng của sinh viên. Không chuyển trực tiếp cho trường như bấy lâu nay.
Cách chuyển kinh phí này nhằm: Bảo đảm cho mọi sinh viên trúng tuyển đều có điều kiện
học với học phí cao, đủ lấy thu bù chi cho các khoản chi thường xuyên trong đào tạo, nâng
cao trách nhiệm của các cơ sở đào tạo đối với người học, thu hồi một phần kinh phí sau tốt
nghiệp có việc làm.
thất thoát;
Thuê bao, tổ chức: các hoạt động học thuật, hội nghị, hội thảo quốc gia và quốc tế;
Hoạt động tín dụng, cổ phiếu phát triển nhà trường, tạo cơ sở để nhà trường từng
bước làm quen với trách nhiệm thu hồi vốn đầu tư nhận được;
Mở rộng các hoạt động nhà trường và người học cùng đóng góp.
Đồng thới các trường đại học, cao đẳng cũng phải tự chịu trách nhiệm về quản lý
hoạt động tài chính trong các trường đại học, cao đẳng, theo hướng Nhà nước ban hành
quy định trao quyền tự chủ tài chính cho các cơ sở đào tạo, nhưng cũng thực hiện nguyên
tắc tự chịu trách nhiệm. Theo hướng phân cấp hạch toán đến từng đơn vị: Các nguồn thu
cần tập trung; phân phối kinh phí theo trọng điểm, theo dự án, theo định hướng chiến lược
phát triển của nhà trường; Các khoản chi có định mức, tiết kiệm thì thưởng, lãng phí thì
chịu chế tài; Thanh tra kiểm tra và kiểm toán kịp thời việc thực hiện tài chính công khai,
minh bạch và chính xác.