BAN THÔNG TIN DOANH NGHIỆP VÀ THỊ TRƯỜNG
Trung t©m th«ng tin vµ dù b¸o kinh tÕ-x· héi quèc gia
Báo cáo tổng hợp
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRƯỚC NGƯỠNG CỬA HỘI NHẬP
QUA CÁC CUỘC ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT
Báo cáo tổng hợp
1
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRƯỚC NGƯỠNG CỬA HỘI NHẬP
QUA CÁC CUỘC ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT
CHƯƠNG I - MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC CUỘC
ĐIỀU TRA VỀ DOANH NGHIỆP ĐÃ ĐƯỢC TIẾN HÀNH
Trong thời gian vài năm trở lại đây, nhiều cơ quan, tổ chức đã tiến hành nghiên cứu,
khảo sát về thực trạng của doanh nghiệp Việt Nam như: Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam (VCCI), Tổng cục Thống kê (GSO), Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa
(ASMED), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), Viện Kinh tế thế giới…
Chẳng hạn, cuối năm 1999, đầu năm 2000, Viện Kinh tế thế giới đã tiến hành cuộc điều
tra các doanh nghiệp FDI tại hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh. Khảo sát trên 79 doanh
nghiệp về các lĩnh vực liên quan như vốn, đầu tư, đào tạo lao động, đổi mới và chuyển giao
công nghệ… để từ đó đưa ra những khuyến nghị cho chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài, chính sách quản lý doanh nghiệp FDI và tận dụng hiệu quả sự lan tỏa do các doanh
nghiệp này mang lại.
Từ năm 2001 đến nay, GSO cũng tiến hành điều tra toàn bộ doanh nghiệp với sự trợ
giúp của Ngân hàng Thế giới (WB) nhằm phản ánh thực trạng của doanh nghiệp trong nước.
Trong một thập kỷ gần đây, các cơ quan nghiên cứu trong ngành Khoa học xã hội và
nhân văn nói chung cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về doanh nghiệp trên nhiều khía
cạnh khác nhau nhằm đưa ra bức tranh tổng thể về doanh nghiệp, phân tích những điểm
mạnh, điểm yếu và đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm giải quyết những vấn đề của khu
vực này, trong đó có các nghiên cứu sau:
- Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.04 do GS. Bùi Đình Thanh chủ trì năm
1995 nhằm thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị, BCH TƯ Đảng đã được tiến hành ở TP.HCM
về chủ doanh nghiệp tư nhân.
- Nghiên cứu “Nhìn nhận của xã hội về thị trường và kinh doanh” thuộc dự án “Góp
phần đổi mới sự nhìn nhận của xã hội với thị trường và kinh doanh” do GS. Đào Xuân Sâm
làm chủ nhiệm đề tài cùng với Khoa Quản lý kinh tế (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh) tiến hành từ năm 1998 - 2000 có khắc họa chân dung người chủ doanh nghiệp qua các
nhóm nghề nghiệp khác nhau.
Thông qua các kết quả nghiên cứu trên, thực trạng doanh nghiệp trước thềm hội nhập đã
phần nào được khắc họa trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Dưới đây, báo cáo sẽ đi sâu phân tích
những đặc điểm chủ yếu của các cuộc điều tra, nghiên cứu này.
1. Đối tượng nghiên cứu
a. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của các cuộc điều tra doanh nghiệp trong thời gian gần đây đều là
doanh nghiệp thuộc các loại hình khác nhau: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài
quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp đang ngày càng có
vị thế cao trong nền kinh tế quốc gia, được xem là nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh
tế. Chính vì thế, việc khảo sát, điều tra doanh nghiệp để nắm được thực trạng phát triển cũng
như những khó khăn doanh nghiệp gặp phải là việc làm cần thiết nhằm tạo lập một môi
trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc tiếp cận với khách thể nghiên cứu là doanh nghiệp phục vụ cho mục
đích thu thập thông tin về doanh nghiệp gặp phải nhiều khó khăn khách quan và chủ quan. Cơ
quan cung cấp giấy phép kinh doanh chỉ quản lý việc khai sinh ra doanh nghiệp mà chưa có
3
máy móc thiết bị/ công nghệ, nhân lực, quản lý và thị trường. Bên cạnh đó, những yếu tố khác
như môi trường kinh doanh, sự hỗ trợ của Chính phủ cũng được nghiên cứu đánh giá nhằm
xem xét vị thế của doanh nghiệp như một yếu tố đi đầu cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp giúp cho việc phân tích khả năng phát
triển của doanh nghiệp khi ngày càng nhiều các doanh nghiệp nước ngoài với năng lực cạnh
tranh cao thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường Việt Nam.
Thông tin, đặc biệt là thông tin vĩ mô được xem là một nội dung nghiên cứu quan trọng
trong nhiều cuộc điều tra, khảo sát bởi thông tin đang trở thành một nguồn lực không thể thiếu
đối với doanh nghiệp ngày nay. Doanh nghiệp liệu có ‘đói’ thông tin, doanh nghiệp cần
những thông tin gì, doanh nghiệp tiếp nhận thông tin qua phương tiện nào có hiệu quả, họ cần
4
những kỹ năng gì trong việc thu thập và xử lý thông tin là những câu hỏi được đặt ra. Hơn thế
nữa, các nghiên cứu đều mong muốn tìm hiểu xem liệu doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thức
được vai trò hết sức quan trọng của thông tin đối với quá trình sản xuất kinh doanh của mình
trong bối cảnh hiện nay.
Trình độ công nghệ, khả năng đổi mới công nghệ của doanh nghiệp cũng được quan
tâm nghiên cứu qua nhiều cuộc khảo sát. Nhiều tiêu chí đánh giá được đưa ra như: các hoạt
động đổi mới công nghệ, đầu tư cho đổi mới công nghệ (về tài chính và nhân lực), phương
thức tiến hành đổi mới, nhu cầu và chiến lược đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Các
nghiên cứu cũng phân tích khả năng nhận thức và đánh giá của bản thân doanh nghiệp về các
nhân tố thuận và không thuận tác động tới quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp khi
đổi mới công nghệ được xem là khâu đột phá quyết định đến khả năng phát triển sản xuất
kinh doanh và mở rộng thị trường của doanh nghiệp.
Đổi mới doanh nghiệp là một chủ trương lớn của Nhà nước, là xu hướng của nhiều
doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Do đó, nghiên cứu về quá trình cổ phần
hóa, đặc biệt là thực trạng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hậu cổ phần hóa là một yêu
cầu cần thiết. Những vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp cổ phần hóa là tình hình tài chính,
nghiệp dao động từ 100 đến dưới 1000 (riêng VCCI chọn 6.000 doanh nghiệp để phỏng vấn
cho nghiên cứu năng lực cạnh tranh). Mẫu thường được chọn theo phương pháp phân tầng và
phân tổ. Hai cơ quan là Tổng cục Thống kê và Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật Doanh nghiệp (Bộ
Kế hoạch và Đầu tư) có tiến hành điều tra tổng thể doanh nghiệp trên một số địa bàn. Do Việt
Nam chưa có cơ quan chuyên trách theo dõi việc đăng ký và khai tử của doanh nghiệp nên
danh sách các doanh nghiệp được chọn vào nghiên cứu, điều tra thường dựa trên hồ sơ của Sở
Kế hoạch các tỉnh, thành phố. Vì vậy, các mẫu được chọn và kết quả thu thập được do sai số
của quá trình tiếp cận và thu thập thông tin nên thường không đảm bảo tính đại diện cao.
4. Phương pháp
Phương pháp nghiên cứu phổ biến nhất thường được sử dụng là điều tra trên thực địa
kết hợp với nghiên cứu tại chỗ qua phân tích tài liệu và số liệu sẵn có. Phân tích tài liệu được
tiến hành để tìm ra những nghiên cứu đã có, những báo cáo về chủ đề nhằm có được cái nhìn
tổng quan về đối tượng nghiên cứu. Khảo sát trên thực địa thường được tiến hành sau, trực
tiếp hướng tới đối tượng nghiên cứu với những tiêu chí cụ thể. Tại Việt Nam, nhiều nghiên
cứu sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp, một số khác thì sử dụng phiếu hỏi và thu thập thông
tin qua điện thoại, thư. Tuy nhiên, kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp tỏ ra có hiệu quả hơn cả bởi
thông tin được thu thập đầy đủ, kịp thời với độ tin cậy cao hơn so với những kỹ thuật khác.
5. Ưu điểm và hạn chế
Ưu điểm:
Các cuộc điều tra đều xác định được đối tượng nghiên cứu cụ thể, kết quả của các
nghiên cứu phần lớn đạt được mục đích đề ra ban đầu. Nhiều cuộc khảo sát được lặp lại hàng
năm với cùng một đối tượng nghiên cứu giúp cho việc thu thập số liệu, phân tích và dự báo
diễn biến trong doanh nghiệp được sâu sát, khoa học. Với cách tiến hành như vậy, các nhà
nghiên cứu có nhiều cơ sở khoa học hơn để nắm được thực trạng doanh nghiệp và góp phần
kiến nghị các giải pháp hữu ích cho cộng đồng doanh nghiệp về từng lĩnh vực.
Những khảo sát đã tiến hành đều trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác
nhau: phân tích tài liệu, điều tra khảo sát, phương pháp chuyên gia…Việc sử dụng các
phương pháp nghiên cứu một cách hợp lý mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với một phương
pháp đơn lẻ bởi lẽ mỗi phương pháp có những ưu điểm và hạn chế riêng, ưu điểm của phương
pháp này sẽ bổ khuyết cho hạn chế của phương pháp khác khi kết hợp với nhau. Có thể coi
các doanh nghiệp được chọn vào mẫu nghiên cứu. Xét về ý nghĩa khoa học, đây là một sự
lãng phí bởi nếu mẫu được chọn chuẩn, đảm bảo tính đại diện theo một độ tin cậy cho phép
thì các kết quả có được hoàn toàn có thể phản ánh được thực trạng của các doanh nghiệp
trong phạm vi rộng hơn.
Sai số còn cao trong nhiều giai đoạn của quá trình nghiên cứu, đặc biệt trong khâu thu
thập thông tin. Nếu sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp có thể hạn chế được sai số này
nhưng điều này cũng phụ thuộc rất lớn vào khả năng của điều tra viên. Nếu phía doanh nghiệp
hợp tác thì với một số câu hỏi có phần ‘nhạy cảm’ như về tài chính, lao động, trình độ…
doanh nghiệp cũng thường đưa ra câu trả lời không hoàn toàn chính xác với thực tế.
Cuối cùng, các báo cáo phân tích kết quả vẫn ít sử dụng các kỹ thuật thống kê (đặc biệt
là phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố): tương quan, hồi quy… Do vậy, số liệu thu thập được
từ các cuộc khảo sát chưa được khai thác tối đa, các nhận định đưa ra chưa thực sự được kiểm
chứng nhiều chiều.
Tóm lại, bằng các phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu khác nhau, các cuộc điều tra về
doanh nghiệp được tiến hành thời gian qua đã phần nào phản ánh được tình trạng doanh
7
nghiệp trên một số lĩnh vực cơ bản nhất và thời sự nhất như đổi mới doanh nghiệp, năng lực
cạnh tranh, đổi mới công nghệ… Đó là những vấn đề mang tính sống còn đối với cộng đồng
doanh nghiệp khi Việt Nam đang dần hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Hạn chế và những nội dung chưa làm được của các cuộc điều tra trước đây cũng mở ra những
vấn đề nghiên cứu mới dành cho các cơ quan nghiên cứu về doanh nghiệp. Nền kinh tế thế
giới đang vận động mạnh mẽ, bản thân các doanh nghiệp cũng đang làm mới mình không
ngừng trước sức cạnh tranh ngày càng lớn, các cuộc điều tra, khảo sát về doanh nghiệp trên
nhiều khía cạnh sẽ tiếp tục là công cụ đắc lực trong hoạt động nghiên cứu về doanh nghiệp tại
Việt Nam. Chắc chắn rằng, những cuộc điều tra được tiến hành sau này sẽ hoàn thiện hơn,
khoa học hơn, mang lại những kết quả phân tích sâu sát với thực tiễn của doanh nghiệp hơn.
1998
63
39
1999 2000 2001 2002 2003
64
86
81
78
68
37
61
46
53
43
Tỷ lệ doanh nghiệp (DN) giảm doanh
thu
Trong đó giảm đáng kể (trên 15%)
Sản xuất
Tỷ lệ DN có tăng trưởng
Trong đó tăng đáng kể
Tỷ lệ DN giảm sản xuất
Trong đó giảm đáng kể
Dịch vụ
Tỷ lệ DN có tăng trưởng
Trong đó tăng đáng kể
Tỷ lệ DN giảm giá trị dịch vụ
Trong đó giảm đáng kể
Lợi nhuận
Tỷ lệ DN tăng lợi nhuận
Trong đó tăng đáng kể
Tỷ lệ DN giảm lợi nhuận
Trong đó giảm đáng kể
Thuế TNDN
Tỷ lệ DN tăng nộp thuế
Trong đó tăng đáng kể
Tỷ lệ DN giảm nộp thuế
Trong đó giảm đáng kể
Tổng vốn ĐT Tỷ lệ DN tăng vốn đầu tư XDCB
XDCB
Trong đó tăng đáng kể
Tỷ lệ DN giảm vốn đầu tư XDCB
Trong đó giảm đáng kể
24
31
13
16
16
20
12
19
20
10
65
35
27
14
72
48
18
9
65
40
28
15
67
37
24
13
20
10
30
12
47
13
12
5
47
24
29
13
57
37
22
4
54
39
14
8
68
44
12
11
61
26
18
10
44
33
32
11
52
16
8
68
29
14
20
12
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
9
23
19
13
50
26
29
6
45
28
39
18
37
22
30
73
83
78
42
58
55
61
55
24
25
18
22
23
Các DN đầu tư dự án
Đầu tư dự án mới
Tiếp tục dự án cũ
Các DN đầu tư dự án
Thêm tài sản cố định
Thêm thiết bị mới
Đầu tư thiết bị đã sử dụng
Cải tiến thiết bị hiện có
76
69
19
12
79
74
57
2
40
74
8
63
74
5
45
63
6
34
Vay tín chấp ngân hàng
17
38
18
41
29
24
46
10
49
5
44
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Qua số liệu trên có thể thấy, Nhà nước vẫn chú trọng tới các chính sách khuyến khích
đầu tư. Tuy nhiên, việc tiếp cận các ưu đãi của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước vẫn gặp
khó khăn đặc biệt là việc xác định, xây dựng và triển khai các dự án. Đó cũng là lý do khiến
các doanh nghiệp đầu tư vào dự án mới giảm đáng kể trong khi số doanh nghiệp tiếp tục thực
hiện các dự án từ những năm trước vẫn ở mức tương đương.
Trong số các doanh nghiệp đầu tư của năm 2003 thì các doanh nghiệp đầu tư thêm tài
sản cố định và thêm thiết bị mới đang giảm đi so với năm 2001 và 2002. Có khoảng 19% số
doanh nghiệp đầu tư của nưm 2003 lựa chọn đầu tư thiết bị đã qua sử dụng. Như vậy, đầu tư
thiết bị mới thì giảm đi một cách đáng kể trong khi đầu tư vào các thiết bị đã qua sử dụng gần
như không giảm. Điều này phản ánh doanh nghiệp chưa thực sự coi trọng vấn để đổi mới
trang thiết bị và công nghệ hoặc cũng có thể hiểu các doanh nghiệp này không đủ vốn để đầu
tư đổi mới trang thiết bị và công nghệ. Ngoài ra, trong năm 2003 có 12% số doanh nghiệp lựa
chọn hình thức nghiên cứu đầu tư chiều sâu và thực hiện cải tiến thiết bị hiện có.
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong năm 2003 chủ yếu vẫn là vay vốn ngân
hàng (57%) ngang bằng so với năm 2001 và 2002. Mặc dù, Chính phủ vẫn chủ trương khuyến
khích đầu tư và giảm lãi suất ngân hàng, cải tiến từng bước thủ tục vay vốn. Nguyên nhân chủ
yếu vẫn là khó khăn trong định hướng đầu tư, xác định dự án có hiệu quả. Từ đó, dẫn đến tình
trạng Ngân hàng thừa vốn nhưng lại khó cho vay. Việc huy động vốn từ phía nước ngoài vẫn
giữ nguyên ở mức 4% so với năm 2002 nhưng huy động vốn từ các nguồn khác lại giảm đáng
kể so với các năm trước chỉ còn 28%. Doanh nghiệp tư nhân muốn vay vốn từ phía ngân hàng
buộc phải vay theo hình thức thế chấp, phía ngân hàng vẫn chặt chẽ trong xem xét dự án đầu
các cuộc điều tra của Phòng thương mại và Công nghiệp việt Nam năm 2003 đã đưa ra kết
luận rằng “doanh nghiệp Việt Nam thiếu nhiều thông tin về thị trường hiện có và cả thị
trường tiềm năng đối với sản phẩm của mình”, một kết luận tương tự trong cuộc điều tra của
Viện Kinh tế thế giới năm 2001 là “phần lớn các doanh nghiệp còn hiểu biết thị trường quá ít
và chưa đánh giá đầy đủ vai trò và thị phần của mình trên thị trường”. Do đó, cần phải có
các biện pháp tuyên truyền, hướng dẫn, triển khai cụ thể từ phía Chính phủ, mà đặc biệt là hệ
thống cung cấp thông tin cần tích cực hơn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc nắm bắt
thông tin một cách đầy đủ và kịp thời giúp cho doanh nghiệp đưa ra đưa ra được những chiến
lược tối ưu.
Đối với vấn đề thông tin đánh giá chất lượng sản phẩm, kết quả điều tra của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam năm 2003 cho rằng doanh nghiệp Việt Nam vẫn tự
đánh giá cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ của mình. Điều đó cho thấy khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ là rất thấp khi tham gia hội nhập, nhất là khi Việt Nam đã
gia nhập WTO. Vậy vấn đề các doanh nghiệp đánh giá cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ
của mình là do đâu? Ở đây có khá nhiều yếu tố nhưng yếu tố thiếu thông tin nói chung và
thông tin về chất lượng sản phẩm nói riêng là yếu tố không thể phủ nhận. Những thông tin về
chất lượng sản phẩm dịch vụ tương tự trên thị trường thế giới, những thông tin đánh giá chất
lượng sản phẩm… đã không đến được với các doanh nghiệp hoặc nếu có thì đó là những
thông tin không đầy đủ, chi tiết.
b. Thông tin về cơ chế chính sách, khung khổ pháp lý
Một trong các loại thông tin mà doanh nghiệp tỏ ra hết sức quan tâm đó là thông tin về
chính sách, khung khổ pháp lý như: thông tin về cơ chế chính sách, thông tin về thủ tục hành
chính và thông tin về đất đai cũng như Luật Đất đai.
12
Vấn đề thông tin về cơ chế chính sách là vấn đề mà hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam
rất quan tâm. Theo số liệu của Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (ASMED) Bộ Kế
hoạch và Đầu tư điều tra doanh nghiệp trên địa bàn 30 tỉnh, thành phố phía Bắc thì các doanh
trong định giá đất thì rất dễ dẫn tới những tranh chấp không đáng có gây thiệt hại cho cả đôi
bên.
c. Thông tin về quy định của hội nhập
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã có cuộc điều tra khá chi tiết về vấn đề
này trong năm 2003 mà cụ thể như sau:
13
Đánh giá hiểu biết về khả năng và yêu cầu hội nhập quốc tế đối với ngành hàng của
doanh nghiệp thì 57% các doanh nghiệp cho biết họ nắm bắt được thông tin cần thiết đối với
quá trình hội nhập, còn 14% trả lời chưa biết về những thách thức đối với doanh nghiệp mình
trong tương lai. Cụ thể là: số doanh nghiệp biết các thông tin về lịch trình giảm thuế trong
khuôn khổ AFTA-APEC là 33%, còn không biết là 14%; thông tin về WTO và quá trình hội
nhập WTO lần lượt là 32% và 14%; thông tin về các bước chuẩn bị thực hiện Hiệp định
Thương mại Việt - Mỹ lần lượt là 19% và 23%. Số doanh nghiệp có thông tin về thị trường có
quan hệ và thị trường tiềm năng đối với sản phẩm tương tự của mình trong năm 2003 lần lượt
là 49% và 31%.
Nhìn chung, các doanh nghiệp Việt Nam chưa có hiểu biết chung về quá trình hội nhập
do ít được tiếp cận đến các thông tin về những vấn đề này. Doanh nghiệp còn gặp nhiều khó
khăn hơn nữa khi tiếp cận và khai thác những thông tin cụ thể liên quan đến các quy định hội
nhập trong từng lĩnh vực, ngành hàng.
d. Kênh thông tin
Trong cuộc điều tra của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam năm 2003 có đưa
ra nhận định: kênh thu thập thông tin của doanh nghiệp về các luật lệ chính sách quy định
mới của Nhà nước, đặc biệt là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, là một vấn đề lớn. Số lượng
các doanh nghiệp tiếp cận thông tin vẫn tiếp tục giảm so với năm 2003, đây là một dấu hiệu
đáng lo ngại về các hệ thống cung cấp thông tin còn hoạt động chưa hiệu quả. Các phương
tiện thông tin đại chúng vẫn là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu về luật lệ, chính sách, các
quy định mới của Nhà nước cho các doanh nghiệp, tuy nhiên hiệu quả của kênh thông tin
Như vậy, vấn đề vay vốn của doanh nghiệp là rất khó khăn đặc biệt là đối với doanh
nghiệp tư nhân. Mặc dù, Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp tiếp cận vốn vay nhưng trên thực tế việc cho vay vốn của ngân hàng lại rất khó khăn,
đặc biệt là vấn đề cho vay theo hình thức tín chấp do rủi ro cao.
Cuộc điều tra doanh nghiệp năm 2003 của Tổng cục Thống kê đã đưa ra nhận định vốn
của doanh nghiệp rất thấp chỉ có 260 doanh nghiệp có mức vốn trên 500 tỷ đồng (chiếm 0,4%
doanh nghiệp cả nước tại thời điểm 1/1/2003), có 86,2% số doanh nghiệp có vốn dưới 10 tỷ
đồng. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là tiềm lực của các nhà đầu tư chưa mạnh,
thêm vào đó là thị trường vốn chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp. Vốn đầu
tư tăng thêm trong năm 2002 cho thấy vốn vay tín dụng chỉ chiếm 38% trong tổng vốn đầu tư
tăng thêm trong năm trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm 56,4%. Trong 56,4% đó thì có
63,4% là vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước, như vậy vốn tín dụng đã thấp lại dành chủ yếu
cho doanh nghiệp nhà nước còn lại thuộc về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh
nghiệp ngoài quốc doanh chịu khó khăn nhiều hơn khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng và luôn
phải kinh doanh trong tình trạng thiếu vốn.
+ Vấn đề về năng lực quản lý
Hiện nay, doanh nghiệp Việt Nam gặp khá nhiều khó khăn trong vấn đề các chủ doanh
nghiệp hay các quản lý có năng lực quản lý không tương ứng với chức vụ. Điều này có thể
thấy rõ qua cuộc Điều tra khảo sát về thực trạng và nhu cầu cần trợ giúp của doanh nghiệp do
Cục Doanh nghiệp nhỏ và vừa – Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành cụ thể như sau: Trong tổng
số 41.102 chủ doanh nghiệp thì có 270 người là tiến sĩ (chiếm 0,66%), 958 người là thạc sỹ
(chiếm 2,33%), 15.546 người đã tốt nghiệp Đại học (chiếm 37,82%), 1.462 người tốt nghiệp
cao đẳng (chiếm 3,56%), 5.068 người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và 17.798 người
(chiếm 43,3%) có trình độ thấp hơn. Điều này cho thấy các chủ doanh nghiệp có trình độ Đại
học và trên Đại học không cao cũng tức là trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp nói
chung là thấp, chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm tích lũy được và học hỏi trong thực tế.
Trong cuộc Điều tra thực trạng doanh nghiệp năm 2003 của VCCI cũng đã đưa ra kết
quả tương tự khi mà các doanh nghiệp tự nhận năng lực đội ngũ quản lý chỉ ở mức trung bình.
15
a) Về các Luật
Luật thuế TNDN
64 % (2,4)
20 %
16 % (2,9)
Luật Đất đai
60 % (2,8)
24 %
16 % (2,6)
Luật Hải quan
60 % (2,5)
24 %
17 % (2,7)
Luật Doanh nghiệp NN
52 % (3,1)
55% (2,8)
31%
14% (2,6)
N/Đ về DN nhỏ và vừa
53% (2,9)
31%
15% (2,9)
16
Q/C cho vay và trả nợ NN
52% (2,7)
34%
15% (2,7)
N/Đ về kk đầu tư trong nước 51% (2,7)
30%
Về cho vay và trả nợ NN
Về quản lý ngoại hối
59% (2,5)
56% (3,0)
Về kk đầu tư trong nước
28%
13% (2,5)
25%
53% (2,6)
20% (3,2)
24%
23% (2,6)
Về thuế GTGT
18% (2,6)
52% (2,1)
30%
Về XNK
19% (2,6)
Mặc dù cơ chế chính sách của Chính phủ được phía doanh nghiệp đánh giá là đang tạo
thuận lợi cho phía doanh nghiệp, xong cũng phải thấy rằng số doanh nghiệp có khả năng tiếp
cận được các nguồn thông tin này là rất khó khăn, chủ yếu là qua các phương tiện thông tin
đại chúng. Mà như vậy thì thông tin đã trở nên quá cũ, trừ các doanh nghiệp phải thường
xuyên tiếp xúc với các vấn đề mà trong cơ chế chính sách của Chính phủ ban hành. Cuộc điều
tra này đã chỉ ra rằng số lượng các doanh nghiệp tiếp cận được với các văn bản luật đang
giảm đi. Đây quả là điều đáng lo ngại cho phía doanh nghiệp nhất là khi nước ta đang chuẩn
bị hội nhập vào WTO, những động thái về cơ chế chính sách của Chính phủ sẽ trực tiếp ảnh
hưởng tới doanh nghiệp trong thời gian tới. Do đó, cần có những biện pháp tăng cường khả
năng cung cấp thông tin cho phía doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam kịp thích ứng với bối cảnh tiền hội nhập như hiện nay.
+ Vấn đề về trình độ công nghệ
Vấn đề về trình độ công nghệ là một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp hiện nay
rất quan tâm. Trong cuộc điều tra về thực trạng doanh nghiệp của VCCI năm 2003 cũng đã
nhận định yếu tố công nghệ thiết bị lạc hậu được đánh giá là mức độ dưới trung bình (doanh
nghiệp tự đánh giá đạt 2,4). Điều này cho thấy các doanh nghiệp vẫn phần nào hài lòng với
những thiết bị và công nghệ của mình để sản xuất ra những sản phẩm dù chưa đạt trình độ tiên
tiến nhất nhưng vẫn được thị trường, nhất là thị trường trong nước, chấp nhận.
17
Cuộc điều tra doanh nghiệp của Cục Doanh nghiệp nhỏ và vừa – Bộ Kế hoạch và Đầu
tư nói trên có kết luận kém khả quan hơn với những số liệu như sau: Trong tổng số 10.994
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chỉ có 879 doanh nghiệp là công nghệ tiên tiến (chiếm
8%) mà phần lớn là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 5.501 doanh nghiệp là công
nghệ trung bình (chiếm 50,04%) và 41,96% còn lại là doanh nghiệp có công nghệ lạc hậu.
Điều đó cho thấy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cuộc điều tra này là rất
thấp. Trong khi đó nhu cầu đào tạo về kỹ thuật và công nghệ của các doanh nghiệp lại có tỷ lệ
rất thấp (cao nhất chỉ 5,65%), cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam trong cuộc điều tra này
18
l vn m hu ht doanh nghip mong mun tỡm kim. Theo s liu iu tra doanh nghip
hng nm thỡ lao ng l cỏn b khoa hc k thut nm 2000 chim 8,1%; nm 2002 cũn
6,8% v nhng lao ng cú tay ngh cao, cụng nhõn k thut cng cú xu hng gim tng
i. Nh vy lao ng c thu hỳt vo khu vc doanh nghip ngy cng tng nhanh, nhng
c cu lao ng cú trỡnh k thut, lao ng c o to li gim. iu ny cng khng
nh nhu cu v lao ng cú cht lng ca doanh nghip l rt ln.
Nhỡn chung, cú rt nhiu yu t nh hng ti hot ng ca doanh nghip m chớnh
nhng yu t ú ang l im yu ca doanh nghip trong hi nhp. Ch mt s ớt doanh
nghip t tin vo kh nng cnh tranh ca mỡnh trong iu kin hi nhp quc t sp ti. Do
ú, cn cú nhng bin phỏp nõng cao nng lc cnh tranh doanh nghip cp tc nhm trang b
cho doanh nghip mt s phng thc cú th hũa mỡnh vo dũng chy hi nhp sp ti.
CHNG III NH GI V THC TRNG NNG LC CNH
TRANH CA DOANH NGHIP VIT NAM
I. Mt s ch tiờu ch yu ỏnh giỏ nng lc cnh tranh ca doanh nghip
Theo tiờu chớ ca Din n Kinh t Th gii (World Economic Forum - WEF), chỉ số
năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (Business Competitiveness Index - BCI), đợc quyết định bởi
những yếu tố: sự ổn định về chính trị, an toàn về xã hội, tình trạng tham nhũng, tính hiệu quả
của bộ máy hành chính, kết cấu hạ tầng, lực lợng lao động các qui định về thuế và khả năng
tiếp cận các nguồn tài chính... Trong số đó chỉ có chỉ tiêu về ổn định chính trị và an toàn xã
hội đợc đánh giá và cho điểm cao.
Nm 2005, Din n Kinh t Th gii ó xp hng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
của Vit Nam v trớ 80 trên 116 nớc (năm 2004 đứng thứ 79 trên 104 nớc). Tuy rằng bảng
xếp hạng của WEF chỉ mang tính tham khảo, nhng chỉ số này cũng cảnh báo thực trạng môi
trờng kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nớc khác.
Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong 3 năm qua (2003-2005)
19
doanh phi nông nghiệp và hơn 9 triệu hộ nông dân có sản xuất hàng hoá. Tính bình quân cứ
khoảng 200 người dân/1DN, tỷ lệ này đạt thấp so với các nước ở châu Á (với tỷ lệ là 50 người
dân/1DN).
Tuy nhiên, theo kết quả điều tra thực trạng doanh nghiệp Việt Nam trong 3 năm 20022004 của Tổng cục Thống kê (GSO), doanh nghiệp thực tế đang hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp tính đến 1/1/2004 là 72.012 DN, đã và đang giải quyết việc làm cho 5,175 triệu lao
động. Điểm đáng lo ngại nhất là số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng quy mô nhỏ, phân tán,
công nghệ kỹ thuật thủ công lạc hậu. Năm 2004, bình quân 1 doanh nghiệp chỉ có 72 lao động
và 24 tỷ đồng tiền vốn, trong khi đó từ năm 2000 thì số lao động đã là 84 và vốn là 26 tỷ
đồng. Như vậy, xu hướng quy mô nhỏ ngày càng tăng, do 3 năm qua doanh nghiệp mới đăng
ký kinh doanh chủ yếu là tư nhân với quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Doanh nghiệp dưới 10 lao
động chiếm hơn 46%, từ 10 đến dưới 50 lao động chiếm 35%. Về quy mô vốn, số doanh
nghiệp dưới 10 tỷ đồng chiếm 86%, trong đó hơn một nửa là dưới 1 tỷ đồng. Những ngành
tập trung nhiều doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn là công nghiệp, bình quân 154 lao động
và 32 tỷ đồng vốn, tiếp đó là vận tải, thông tin liên lạc rồi đến xây dựng. Quy mô nhỏ và phân
tán là ngành thương nghiệp, bình quân 18 lao động và 6 tỷ đồng vốn. Doanh nghiệp ngành
khách sạn nhà hàng bình quân 27 lao động và 9 tỷ đồng vốn.
Do phần lớn doanh nghiệp có mức vốn thấp (dưới 10 tỷ đồng) nên khả năng trang bị
máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến là rất hạn chế. Mức trang bị tài sản cố định cho
1 lao động ngoài quốc doanh là 50 triệu đồng, chỉ bằng 20% so với doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài.
Tổng cục Thống kê cũng chỉ ra rằng, doanh nghiệp phát triển còn mang tính tự phát
chưa có định hướng rõ ràng. Số doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm
77,5% số doanh nghiệp được thành lập từ năm 2000 trở lại đây, nhưng biến động tới gần 20%
hằng năm. Nhiều tỉnh có hàng nghìn doanh nghiệp nhưng 70-80% trong số đó chỉ có 1-5 lao
động và số vốn không quá 5 tỷ đồng như Long An, Đồng Tháp, Nam Định... Doanh nghiệp
nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát triển ổn định và có định hướng rõ
ràng hơn, nhưng rất ít doanh nghiệp có quy mô lớn, đặc biệt Việt Nam chưa có một tập đoàn
tốc độ tăng của giá trị tăng thêm chỉ trên 10% một chút, còn chênh lệch nhiều. Và ngay cả kết
quả xuất khẩu 26 tỷ USD, tăng trưởng trên 20% trong năm 2004 đã là rất tốt. Nhưng vấn đề
cần được phân tích kỹ khi bàn tới việc phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu là thực tế
trong 26 tỷ đó có bao nhiêu tỷ USD giá trị tăng thêm mà chúng ta thu được từ sản xuất.
Vấn đề mấu chốt để nâng cao khả năng cạnh tranh vẫn là cải cách, sắp xếp lại doanh
nghiệp nhà nước (DNNN). Có thể thấy rõ ràng rằng qua hơn mười hai năm đổi mới, sắp xếp
doanh nghiệp nhà nước, chúng ta đã sắp xếp, cổ phần hóa được hơn 2.300 doanh nghiệp,
nhưng tỷ lệ vốn sở hữu nhà nước của các doanh nghiệp này chỉ chiếm khoảng 9% tổng vốn sở
hữu nhà nước tại các doanh nghiệp. Bình quân một doanh nghiệp chỉ có 45 tỷ đồng, trong đó
vốn lưu động chưa đến 10 tỷ đồng, có tới 47% DNNN có vốn chưa đầy 5 tỷ đồng. Xem xét kỹ
thì không ít doanh nghiệp chỉ có vốn trên sổ sách, hoặc trong tài sản không dùng đến, nên vốn
thực tế dùng cho sản xuất kinh doanh chỉ còn 50%.
Năm 2003, trong số 77% DNNN làm ăn có lãi, chỉ chưa đầy 40% có mức lãi bằng hoặc
cao hơn lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại. Nếu đưa thêm giá trị quyền sử dụng đất
vào chi phí và cắt bỏ các khoản ưu tiên, ưu đãi của Nhà nước, thì số DN có lãi còn ít hơn. Số
thuế thu nhập DNNN chỉ chiếm 8.000 tỷ đồng trên tổng số 87.000 tỷ đồng nộp ngân sách nhà
nước.
Phần còn lại trong số 210.000 tỷ đồng vốn nhà nước nằm ở đâu? Một nửa trong số này
nằm ở dầu khí, điện lực và bưu chính viễn thông, và phần lớn còn lại nằm ở các tổng công ty
91 khác như hàng hải, hàng không... . Đây chính là vấn đề mấu chốt để chúng ta tính toán kỹ
cho bài toán phát triển trong năm 2006 và trong suốt lộ trình hội nhập của kinh tế Việt Nam.
21
Tại Hội nghị toàn quốc đổi mới doanh nghiệp năm 2004 cũng đã chỉ ra một loạt yếu
kém của khối doanh nghiệp nhà nước, trong đó hiệu quả làm ăn thấp đang là một thách thức
lớn khi Việt Nam tham gia vào hội nhập quốc tế. Thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ đạt 8.000 tỷ
đồng trong tổng số 87.000 tỷ nộp ngân sách nhà nước; nợ xấu 8,5% trong khi bình quân cả
nền kinh tế chỉ 6,1%; tổng số nợ của khối này phải thu, phải trả lên tới khoảng 300.000 tỷ
Như vậy, còn một khoảng cách lớn về hiệu quả và sức cạnh tranh so với yêu cầu gia
nhập WTO khi chúng ta phải tự do hóa thương mại và đầu tư theo các chuẩn mực của tổ chức
này. Vì vậy, theo đánh giá của Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ về tầm quan trọng
22
và tác động của cải cách DNNN với việc gia nhập WTO, thì nếu không có những bước đi
mang tính đột phá để nhanh chóng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh thì nguy cơ đổ vỡ hàng
loạt DNNN là điều khó tránh khỏi.
Xét về tổng thể thì hơn 90% các doanh nghiệp của Việt Nam là vừa và nhỏ ở hai mặt
giá trị tài sản và vốn kinh doanh. Nếu xét về mặt quy mô doanh nghiệp thì khả năng cạnh
tranh về vốn của doanh nghiệp Việt Nam là thấp. Để cạnh tranh tốt và có hiệu quả thì vấn đề
đầu tiên và cũng là vấn đề thiết yếu đối với các doanh nghiệp đó là quy mô vốn. Nhưng
những doanh nghiệp có lượng vốn lớn hiện nay là doanh nghiệp nhà nước thì lại làm ăn
không có hiệu quả hoặc có hiệu quả thấp, trong khi đó lại được sự bảo trợ rất lớn về mọi mặt
của Nhà nước do đó khu vực doanh nghiệp nhà nước không được đánh giá là khu vực có năng
lực cạnh tranh cao. Trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân là khu vực luôn luôn được các
nước trên thế giới quan tâm và tạo điều kiện phát triển, thì ngược lại ở Việt Nam khu vực kinh
tế này lại ít được quan tâm, ít được đánh giá cao. Và lượng vốn đầu tư của khu vực kinh tế
này luôn thấp hơn so với khu vực kinh tế nhà nước. Chính vì thế năng lực cạnh tranh của khu
vực này không được đánh giá thật sự cao.
2.
Khả năng tham gia và chấm dứt kinh doanh
Điều kiện thành lập, và chấm dứt kinh doanh, giải thể và phá sản doanh nghiệp là những
hình thức biểu hiện cụ thể của khả năng tham gia và rút khỏi cạnh tranh của doanh nghiệp.
Về thành lập và đăng ký kinh doanh, do đặc thù và chế độ sở hữu, điều kiện gia nhập thị
trường của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam không giống nhau. Trên phương diện pháp
số vụ yêu cầu toà án và số doanh nghiệp tiến hành các thủ tục phá sản doanh nghiệp gần như
không đáng kể so với thực trạng tài chính của các doanh nghiệp (mới có khoảng 40 vụ được
giải quyết tại toà).
Nguyên nhân là do các đối tượng có quyền đệ đơn yêu cầu toàn án tuyên bố phá sản
doanh nghiệp còn hạn chế, chưa phù hợp và đều không muốn doanh nghiệp bị phá sản vì sợ bị
ảnh hưởng đến quyền lợi của mình. Ngoài ra, phá sản doanh nghiệp vẫn còn là vấn đề gây tâm
lý xã hội nặng nề không chỉ với chủ nợ, doanh nghiệp và người lao động mà còn cho các đối
tượng liên quan đến doanh nghiệp và toàn xã hội nói chung. Việc giải thể doanh nghiệp ngoài
quốc doanh ở Việt Nam cũng trong tình trạng tuơng tự, dù rằng việc giải thể DNNN nặng nề
hơn do bị ảnh hưởng bởi các lý do xã hội việc làm, chính sách v.v…
Hậu quả là, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lẽ ra phải bị giải thể, phá sản này
ngày càng sấu hơn, sự tồn tại của các doanh nghiệp yếu koém này vùa làm khả năng cạnh
tranh chung của khối doanh nghiệp giảm đi, vừa là rào cản tham gia kinh doanh của các
doanh nghiệp mới khác.
Trong thực tế, có rất nhiều DNNN ở trong tình trạng phải bị giải thể, phá sản nhưng
không những vãn tiếp tục tồn tại mà còn được Nhà nước hỗ trợ tối đa. Hình thức hỗ trợ
thường là khoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ, bổ sung vốn…
Theo số liệu từ Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ từ năm 1991 đến 2000, ngân
sách nhà nước đã đầu tư trực tiếp cho DNNN 41535 tỷ đồng, trong đó 2016 tỷ đồng cấp vốn
bổ sung vốn lưu động, 1464 tỷ đồng là bù lỗ và giảm bớt khó khăn về tài chính. Ngoài ra
trong 3 năm 1997-1999, Nhà nước còn miễn giảm thuế 1351 tỷ đồng, xoá nợ 1088 tỷ đồng,
khoanh nợ 3392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng, giảm trích khấu hao 200 tỷ đồng. Vấn đề đặt ra
là Nhà nước cần xem lại về hiệu quả phân phối các nguồn lực quốc gia, cũng như cách thức,
mục tiêu và đối tượng phân bổ các nguồn lực.
3. Về giá cả và yếu tố đầu vào
Giá cả cũng như cơ sở của nó là giá thành của nhiều hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam
cao hơn giá cả của hàng hoá và dịch vụ cùng loại của nhiều nước trong khu vực. Năm 2005,
giá đường trắng trên thế giới là 4.700 đ/kg, trong khi Việt Nam cao hơn từ 1,5 đến 2 lần. Giá
xi măng nhập khẩu (giá CIF) về đến Việt Nam trong khoảng 35 đến 40 USD/tấn, trong khi đó
giá thành xi măng của Việt Nam từ 42 đến 65 USD/tấn. Giá thép xây dựng thế giới đầu năm
khẩu còn phải chịu thuế giá trị gia tăng VAT (dù chưa có giá trị tăng thêm). Mặc dù sau đó
được hoàn thuế nhưng thời gian hoàn thuế VAT chậm, do đó dẫn tới việc doanh nghiệp gặp
nhiều khó khăn về vốn hoạt động kinh doanh. Để giải quyết tình trạng vốn hoạt động trong
kinh doanh doanh nghiệp buộc phải vay ngân hàng và đương nhiên phải chịu một khoản lãi
suất mà lý ra nếu việc hoàn thuế nhanh và kịp thời hơn thì doanh nghiệp đã không phải chịu
khoản lãi suất này. Đó cũng là một yếu tố đẩy giá thành lên cao khiến khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp giảm xuống.
Chi phí về lao động: Lao động Việt Nam thừa về số lượng nhưng thiếu và yếu về chất
lượng, năng suất lao động thấp. So với các nước trong khu vực, năng suất lao động ngành dệt
của Việt Nam chỉ bằng 90-95% năng suất lao động ngành dệt của Trung Quốc, bằng 85%
năng suất lao động ngành dệt của Thái Lan. Ưu thế về lao động rẻ của Việt Nam đang mất
dần. Giá nhân công của 2 ngành có năng lực cạnh tranh tốt nhất (dệt may và da giày) hiện
25