SỰ RA đời của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM - Pdf 32

1
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Khoa lịch sử Đảng
-----------

đề tài khoa học

Tập bài giảng
Học phần I, Chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Sự ra đời của Đảng Cộng sản
Việt Nam
(1920-1930)

Cơ quan chủ trì: Khoa lịch sử Đảng
Chủ nhiệm đề tài :

Hà Nội 4-2007


2
Khoa lịch sử Đảng
-------Chủ biên
TS. Phạm Xuân Mỹ

Tập bài giảng
Học phần I, Chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Sự ra đời
của Đảng Cộng sản Việt Nam
(1920-1930)

lịch sử Đảng, từ học kỳ II năm thứ hai trở đi. Điều kiện tiên quyết là sinh viên
phải học xong các học phần: Triết học Mác-Lênin, Kinh tế Chính trị Mác-Lênin,
Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Ngoài phần mở đầu, học phần gồm 11 chơng, trang bị một cách có hệ
thống cơ bản về cuộc vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, giúp cho
sinh viên hiểu biết một cách hệ thống và tơng đối toàn diện về hoàn cảnh lịch sử,
quá trình hoạt động tích cực của Nguyễn ái Quốc, quy luật sự ra đời, sứ mệnh
lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua đó nhận rõ Đảng Cộng sản Việt Nam
là đội tiên phong, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của cả dân tộc Việt Nam .
Mặc dù tập thể tác giả đã cố gắng trình bày với tnh thần cố gắng nhất định
nhng không tránh khỏi những hạn chế. Chúng tôi rất mong nhận đợc những đóng
góp của bạn đọc để giúp cho Tập bài giảng đợc hoàn thiện hơn.
Tập thể tác giả


4
Môc lôc


5
CHƯƠNG I
Quy luật chung Về Sự RA ĐờI CủA ĐảNG CộNG SảN
Đảng là một tổ chức chính trị, xã hội tự nguyện, liên minh của những ngời
có cùng t tởng, theo đuổi những mục đích chính trị nhất định. Đảng gồm một bộ
phận ích cực nhất và có tổ chức của một giai cấp, làm công cụ đấu tranh cho lợi
ích của giai cấp mình. Đảng sản phẩm lịch sử tự nhiên của cuộc đấu tranh giai
cấp trong xã hội có giai cấp. Cơ sở của Đảng chính trị chính là lợi ích của giai
cấp. Đảng chính trị hoạt động bằng giáo dục thuyết phục, truyền bá các quan
điểm t tởng của mình thông qua Cơng lĩnh, Tuyên ngôn, Nghị quyết, có Điều

Chủ nghĩa xã hội khoa học do Mác và Ăng ghen sáng lập và đợc Lênin
làm phong phú là một học thuyết có mục tiêu cao đẹp, giá trị khoa học và phơng
pháp to lớn cả về lý luận và thực tiễn. Nó kế thừa và phát triển đỉnh cao t tởng
C.Mác và Ph.ăng ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.4, tr.610
C.Mác và Ph.ăng ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.4, tr. 646
4
C.Mác và Ph.ăng ghen: Toàn tập, Sđd, t.18, tr.203.
2
3


7
tiến bộ của loài ngời đã tạo ra đầu thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính
trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp.
Chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân có chung nguồn gốc
kinh tế- xã hội đại công nghiệp t bản chủ nghĩa. Phong trào đấu tranh của giai
cấp công nhân chống giai cấp t sản tất yếu đã bùng nổ. Nổi bật và tiêu biểu nhất
cho phong trào đó là các cuộc khởi nghĩa quy mô lớn của công nhân dệt thành
phố Ly - ông ở Pháp (1831-1834), phong trào Hiến chơng của công nhân Anh
(1838 - 1848), cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt thành phố Xi - lê - di ở Đức
(1844)... Các cuộc khởi nghĩa đó hoàn toàn tự phát, bộc lộ nhiều hạn chế và tất
cả đều thất bại. Tuy nhiên nó đánh dấu mốc mở đầu thời kỳ đấu tranh có tính
chất độc lập của giai cấp công nhân và cấp thiết đặt ra những yêu cầu đòi hỏi đợc
giải đáp để dẫn đờng cho cuộc đấu tranh này đi tới thắng lợi triệt để.
Những điều kiện kinh tế - xã hội trong lòng xã hội t bản, sự phát triển lớn
mạnh của phong trào công nhân là mảnh đất hiện thực cho sự hình thành và
phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác - Ăngghen.
Chủ nghĩa xã hội khoa học thâm nhập và soi sáng vào phong trào công
nhân, giai cấp công nhân thấy rõ bản chất của chủ nghĩa t bản và sứ mệnh lịch sử
vẻ vang của giai cấp mình. Từ đó, họ mới ý thức đợc cần phải tự tổ chức ra chính

bản của ngời cộng sản để lựa chọn, kết nạp đảng viên của mình.
Mác và Ăngghen cho rằng, Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đứng
trên lập trờng của giai cấp công nhân. Mọi chủ trơng chiến lợc, sách lợc của
Đảng đều phải xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân. Đảng đại biểu cho
quyền lợi của giai cấp công nhân và đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân dân
lao động. Giai cấp công nhân chỉ có thể giải phóng đợc mình nếu đồng thời giải
phóng cho các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội thoát khỏi ách áp bức,
bóc lột. Mác và Ăngghen nhấn mạnh, khái niệm ngời cộng sản có nghĩa là ngời
gắn bó với một đảng nhất định. Không có một chính đảng nào có thể tồn tại
không có tổ chức. Đảng là tổ chức cách mạng nhằm mục tiêu lật đổ sự thống trị
của giai cấp t sản và thiết lập chuyên chính vô sản. Điều lệ của Đồng minh
những ngời cộng sản đã ghi rõ: "Mục đích của Đồng minh là đánh đổ giai cấp t
sản, xây dựng nền thống trị của giai cấp vô sản, tiêu diệt xã hội t sản cũ xây
dựng trên mâu thuẫn đối kháng giai cấp và thiết lập một xã hội mới, không có
giai cấp, không có chế độ t hữu.
Mác và Ăngghen cho rằng nền tảng t tởng và cơ sở cho mọi hoạt động của
Đảng Cộng sản là thế giới quan của học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học.
4. Về cách tổ chức xây dựng Đảng cộng sản
Mác và Ăngghen đã đặt cơ sở cho việc xây dựng Đảng về chính trị, t tởng
và tổ chức. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai ông đã nêu rõ mục đích,
nhiệm vụ của Đảng, những cơ sở lý luận chung của chiến lợc và sách lợc đấu
tranh cách mạng.
Chính Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là nội dung xây dựng Đảng về mặt
t tởng. Hai ông đã thẳng thắn bóc trần những quan điểm lý luận sai trái của giai
cấp t sản, phong kiến, tiểu t sản, tôn giáo và những t tởng phản động khác. Hoạt
động thực tiễn của các tổ chức Đồng minh những ngời cộng sản và Quốc tế I
(1863- 1876) đã nói lên nguyên tắc xây dựng là nguyên tắc tập trung dân chủ.
5

C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.614-615.

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai ông đã nêu ra khẩu hiệu: "Vô
sản tất cả các nớc, đoàn kết lại".. Giai cấp công nhân phải lấy sự thống nhất
quốc tế của mình chống lại sức mạnh quốc tế của t bản. Nhng "Giai cấp vô sản
mỗi nớc trớc hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vơn lên thành giai cấp dân
tộc, phải tự mình trở thành dân tộc tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa nh
giai cấp t sản hiểu 6.
Những luận điểm trên của Mác và Ăngghen về một số nguyên tắc xây
dựng Đảng là rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Đồng minh những ngời
6

C Mác và Ph.ăng ghen: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.623-624


10
cộng sản và Quốc tế I đã hoàn thành vai trò lịch sử của nó. Nó đã làm cho phong
trào công nhân ở tất cả các nớc trên thế giới phát triển theo chiều rộng, thành lập
hàng loạt đảng công nhân xã hội chủ nghĩa. "Quốc tế I không thể bị lãng quên đợc, nó sống mãi trong lịch sử đấu tranh của giai cấp công nhân nhằm tự giải
phóng. Nó đã xây nền đắp móng cho lâu đài cộng hoà xã hội chủ nghĩa thế giới
mà ngày nay chúng ta đơng đợc vinh hạnh xây dựng"7 .
II. V. I. Lênin về sự ra đời của Đảng vô sản kiểu mới
Kế tục sự nghiệp của Mác và Ăngghen trong thời kỳ chủ nghĩa đế quốc,
V.I Lênin đã phát triển học thuyết của Mác và Ăngghen một cách toàn diện, làm
phong phú thêm tất cả nội dung của nó. Trong lĩnh vực xây dựng Đảng Cộng
sản, Lênin đã có những cống hiến vô cùng to lớn về mặt lý luận và thực tiễn,
hoàn chỉnh học thuyết xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác.
1. Về sự cần thiết thành lập đảng kiểu mới của giai cấp công nhân
V. I. Lênin chủ trơng thành lập một đảng kiểu mới trong hoàn cảnh cuối
thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa t bản chuyển sang giai đoạn đế quốc
chủ nghĩa, giai đoạn mà cách mạng vô sản đã trở thành trực tiếp. Giai cấp công
nhân cũng đã lớn mạnh về số lợng, về tổ chức và về chính trị. Chủ nghĩa đế quốc

sản là gắn phong trào công nhân với lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng. Chỉ
đảng nào đợc một lý luận tiền phong hớng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai
trò chiến sĩ tiên phong8.
Lênin đã chỉ ra cho các đảng ccộng sản phải không ngừng phát triển, bổ
sung lý luận, vận dụng những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác vào điều kiện
cụ thể của nớc mình, định ra cơng lĩnh, sách lợc cách mạng đúng đắn. Trớc khi
thống nhất và muốn thống nhất, chúng ta, trớc hết, phải phân rõ ranh giới, đấu
tranh kiên quyêt về mặt lý luận và t tởng với bọn cơ hội.
Lênin cho rằng việc thống nhất t tởng cha đủ bảo đảm cho giai cấp công
nhân chiến thắng mà cần thiết phải củng cố sự thống nhất t tởng bằng sự thống
nhất vật chất của tổ chức. Ngời coi sức mạnh của giai cấp công nhân đó là tổ
chức. Không có tổ chức, giai cấp công nhân sẽ không là cái gì hết. Giai cấp công
nhân trở thành và tất nhiên sẽ trở thành lực lợng vô địch là vì một lý do duy nhất
là sự thống nhất t tởng dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác và đợc củng cố
bằng sự thống nhất của tổ chức. Không có một tổ chức vững vàng gồm những
ngời lãnh đạo để bảo đảm cho sự liên tục công tác thì không thể có phong trào
cách mạng vững chắc đợc
2. Những nguyên tắc tổ chức Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân
V.I. Lênin đã hoàn chỉnh lý luận xây dựng Đảng đảng kiểu mới của giai
cấp công nhân. Trong tác phẩm Một bớc tiến hai bớc lùi (1904), Lênin đã nêu
những nguyên tắc về tổ chức của một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân:
a- Đảng Cộng sản là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có
tổ chức chặt chẽ nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân.
Đảng là đội tiên phong chính trị và là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ, có giác
ngộ cách mạng nhất của giai cấp, Đảng là ngời đa yếu tố tự giác nhất vào phong
trào công nhân, là ngời định hớng chính trị và là ngời giáo dục, động viên, tổ
chức cho quần chúng hành động cách mạng. Không đợc lẫn lộn Đảng, đội tiên
phong của giai cấp công nhân với toàn bộ giai cấp.
8

nghiêm minh thì Đảng mới phát triển. Nếu thiếu nó thì Đảng có thể biến thành
một câu lạc bộ cãi vã và sẽ mất hết sức chiến đấu.
Trớc hết, Đảng phải dân chủ. Nếu trong Đảng không dân chủ sẽ có nguy
cơ thoái hoá thành một tổ chức quan liêu. Đảng phải có kỷ luật là để nâng cao ý
thức giác ngộ, tính kiên cờng, lòng trung thành với cách mạng; là để liên hệ, gần
gũi với quần chúng lao động; là để thực hiện chiến lợc và sách lợc chính trị của
Đảng. Chỉ có trải qua một công tác lâu dài, một kinh nghiệm gian khổ, mới tạo
ra đợc dân chủ và kỷ luật nhờ có một lý luận cách mạng đúng đắn, không phải là

9
10

V.I. Lênin: Toàn tập, Sđd, t.33, tr.33.
V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd. t.31, tr.453.


13
giáo điều và chỉ hình thành đợc nhờ có liên hệ chặt chẽ với thực tiễn của một
phong trào thật sự quần chúng và thật sự cách mạng.
d. Đảng là một khối thông nhất về chính trị, t tởng và tổ chức, tự phê bình
và phê bình là quy luật phát triển của Đảng.
Đoàn kết thống nhất trong Đảng bắt nguồn từ bản chất của giai cấp công
nhân, là quy luật trởng thành của Đảng. Đội ngũ của mình gồm những đại biểu u
tú cùng lý tởng, mục đích và lợi ích của giai cấp công nhân tự nguyện xin gia
nhập Đảng. Muốn đa cách mạng đến thắng lợi, Đảng phải có một sự thống nhất
ý chí hết sức chặt chẽ, tuyệt đối. Đó là nguồn gốc sức mạnh chủ yếu, vô địch và
vô tận của Đảng, là điều kiện để đoàn kết giai cấp. Mục tiêu của công tác xây
dựng và củng cố Đảng là nhằm xây dựng và củng cố là thống nhất đội ngũ Đảng.
Nếu để xảy ra chia rẽ trong Đảng thì "không phải chỉ là nguy hiểm mà còn là
cực kỳ nguy hiểm, nhất là nếu trong nớc đó, giai cấp vô sản lại chỉ là thiểu số

của bản thân quần chúng nhân dân.
Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết với quần chúng, từ
sự đồng tình và ủng hộ của quần chúng đối với Đảng. Thiếu điều kiện đó không
những không thể giành chính quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội,
mà còn có thể dẫn đến mất chính quyền.
g. Đảng phải tích cực kết nạp những đại biểu u tú của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động vào Đảng phải thờng xuyên đa những ngời không đủ tiêu
chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng.
Đảng chỉ có thể làm tròn vai trò tiên phong nếu trong Đảng có những
chiến sĩ tiên phong. Kết nạp những đại biểu u tú của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động vào Đảng là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lợng, uy tín
và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. Do nhiều nguyên nhân, sẽ không tránh
khỏi trong Đảng có một số đảng viên không giữ đợc vai trò chiến sĩ tiên phong:
có ngời thiếu kiên định về chính trị, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thoái hoá, biến
chất hoặc cơ hội Lênin nhấn mạnh rằng: "Phải đuổi khỏi Đảng những kẻ gian
giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hoá, không trung thực, nhu nhợc...
Để đội ngũ của Đảng luôn luôn trong sạch, chỉ bao gồm những chiến sĩ
tiên phong, đợc quần chúng tin yêu thì Đảng phải thờng xuyên đa những ngời
không đủ tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏi Đảng. Đó là một biện pháp
đặc biệt quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng.
h. Tính quốc tế của Đảng Cộng sản.
Chủ nghĩa quốc tế là bản chất của các Đảng Cộng sản. Bản chất đó bắt
nguồn từ vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân. Tính chất
quốc tế của Đảng thể hiện trớc hết ở chỗ Đảng đợc tổ chức và hoạt động theo
những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về Đảng; ở đờng lối chiến lợc, sách
lợc đối nội và đối ngoại của Đảng; ở chỗ Đảng luôn luôn quan tâm giáo dục đội
ngũ đảng viên và nhân dân lao động về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công
nhân. Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa yêu nớc chân chính phải gắn liền với
chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đảng kiên quyết chống mọi khuynh hớng của chủ

Các ông đã đa ra lý luận chung về nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội và t duy
con ngời...
Nớc Anh, đầu tiên trên con đờng công nghiệp hoá t bản chủ nghĩa đã xuất
hiện những đỉnh cao về các học thuyết kinh tế. Các đại biểu u tú nh Ađam Xmít,
Đavít Ricácđô đã vạch ra những quy luật vận động cơ bản của sản xuất hàng hoá
trong xã hội t bản chủ nghĩa ...


16
Trong lòng xã hội t bản, các đại biểu u tú của Pháp là H.C Xanhximông
(1760 -1825), C.Phuri-e (1772-1837), R.ÔOen (1771-1859)... đã chỉ ra sự thối
nát của xã hội t bản và đa ra lý tởng xây dựng xã hội mới tốt đẹp, trên cơ sở xoá
bỏ chế độ t hữu, xây dựng chế độ công hữu về t liệu sản xuất... Học thuyết của
các ông đợc gọi là chủ nghĩa xã hội không tởng.
Sau hàng loạt các phát minh và tiến bộ kỹ thuật, thế kỷ XIX ra đời các học
thuyết khoa học mới. Tiêu biểu là học thuyết về sự tiến hoá các loài của Đácuyn;
định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lợng của Lômôlôxốp; học thuyết về sự
phát triển của tế bào của Svác và Slayđen; các học thuyết về vũ trụ và các thành
tựu khoa học khác về hoá học, cơ học...
C. Mác và Ph. Ăngghen là những con ngời có kiến thức thiên tài trên
nhiều lĩnh vực. Đặc biệt các ông là những ngời hoạt động và hiểu biết sâu sắc
phong trào công nhân và nhân dân lao động. Họ đều có điểm giống nhau là tìm
thấy sức mạnh to lớn của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động.
Hai ông đã nắm vững các thành tựu khoa học, kế thừa và phát triển đỉnh cao
triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị học Anh, CNXH không tởng Pháp để
hình thành học thuyết lý luận lý luận khoa học.
Trớc khi viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen đã viết
nhiều tác phẩm "Lời tựa cuốn phê phán triết học pháp luật của Hêghen", "Bản
thảo kinh tế-triết học1844", Tình cảnh giai cấp công nhân Anh", "Gia đình thần
thánh", Hệ t tởng Đức, Sự khốn cùng của triết học.

hiện nay đã đến giai đoạn mà giai cấp vô sản không còn có thể tự giải phóng
mình nếu không đồng thời giải phóng toàn thể xã hội.
1. Chơng I: T sản và vô sản
Mác và Ăngghen phân tích quá trình phát sinh, phát triển của chủ nghĩa t
bản và kết luận sự sụp đổ của chủ nghĩa t bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng
sản đều là tất yếu nh nhau. Giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử dẫn đầu các giai
cấp và tầng lớp lao động bị bóc lột tiến hành cải tạo xã hội t bản và xây dựng xã
hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. So với các xã hội trớc, xã hội t bản có
đặc điểm nổi bật là đối kháng giai cấp tập trung vào hai giai cấp lớn t sản và vô
sản và đấu tranh giai cấp trở nên vô cùng gay gắt. Nguồn gốc ra đời, quá trình
phát triển, thái độ, xu hớng của các giai cấp quy định nội dung, phơng hớng của
cuộc đấu tranh giai cấp. Giai cấp t sản ra đời là phù hợp với tiến hoá của lịch sử,
là sản phẩm của lịch sử. Những nông nô thời trung đại đã nẩy sinh ra những thị
dân của các thành thị đầu tiên; từ đó nẩy sinh ra những phần tử đầu tiên của giai
cấp t sản. Giai cấp t sản tiến hành cách mạng t sản, xoá bỏ những quan hệ phong
kiến kìm hãm nó và thay bằng những quan hệ t sản. Giai cấp t sản là tiến bộ,
cách mạng, trong quá trình cha đầy một thế kỷ, nó đã tạo ra những lực lợng sản
xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lợng sản xuất của tất cả các thế hệ trớc kia gộp
lại.
Tuy thế, vai trò tiến bộ, cách mạng của giai cấp t sản bị hạn chế vì nó là
giai cấp bóc lột. Tính chất phản động của nó cũng dần dần bộc lộ công khai,
những tệ nạn xã hội do nó gây ra ngày càng phổ biến. Nó giống nh một tay phù
thuỷ không còn đủ sức trị những âm binh mà y đã triệu lên. Những lực lợng sản
xuất mà xã hội sẵn có đã tạo ra những nhân tố phủ định bản thân giai cấp t sản.
Giai cấp t sản trở thành một giai cấp lỗi thời bảo thủ giống nh giai cấp địa chủ


18
phong kiến mà trớc đây nó đã lật đổ. Một giai cấp tiên tiến, cách mạng mới xuất
hiện sẽ thay thế địa vị lịch sử của nó, đó là giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản là

tổ chức trên địa bàn quốc gia, dân tộc nhằm chiến thắng giai cấp t sản nớc đó,
dân tộc đó, nhng cuộc đấu tranh đó bao giờ cũng mang bản chất quốc tế, là một
bộ phận của cuộc đấu tranh chung của giai cấp vô sản quốc tế chống lại giai cấp
t sản là một thế lực quốc tế.


19
Các tầng lớp trung gian trong xã hội t bản cũng đấu tranh chống giai cấp t
sản nhng chỉ khi bị chủ nghĩa t bản đẩy vào phá sản, họ mới chuyển sang lập trờng vô sản để chống giai cấp t sản, tức là đấu tranh để bảo vệ lợi ích tơng lai của
họ, chứ không phải bảo vệ lợi ích hiện tại của họ. Xu hớng khách quan của các
tầng lớp trung gian là ngả dần về phía giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản cần biết
kiên trì chờ đợi, biết cách tác động tích cực vào các tầng lớp trung gian bằng
những biện pháp phù hợp, luôn quan tâm đáp ứng lợi ích trớc mắt và lâu dài của
họ, đa ra những khẩu hiệu phù hợp, nâng dần từ thấp đến cao.
2. Chơng II - Những ngời vô sản và những ngời cộng sản
Trong chơng này, Mác và Ăngghen phân tích mối quan hệ giữa giai cấp
vô sản bà Đảng cộng sản; vạch rõ tính chất, nhiệm vụ trớc mắt, mục đích cuối
cùng của Đảng cộng sản, những phơng hớng và giải pháp để thực hiện những
nhiệm vụ và mục đích ấy.
Hai ông trình bày cơng lĩnh và sách lợc của Đảng cộng sản, đồng thời bác
bỏ những lời vu khống, xuyên tạc của giai cấp t sản đối với những ngời cộng sản.
Về quan hệ giữa giai cấp vô sản và Đảng cộng sản Mác và Ăngghen chỉ ra rằng
đó là những bộ phận không thể tách rời mục đích là lợi ích của giai cấp vô sản và
của Đảng cộng sản là thống nhất. Về cả lý luận và thực tiễn, Đảng cộng sản luôn
luôn đại biểu cho lợi ích của giai cấp vô sản, cũng nh của toàn thể nhân dân lao
động. Hơn nữa, cần hiểu rằng Đảng cộng sản đại biểu cho lợi ích chung của toàn
bộ phong trào cộng sản, của toàn bộ giai cấp vô sản quốc tế không phán biệt
nghề nghiệp, địa phơng, dân tộc. Vậy Đảng cộng sản không những mang tính
giai cấp của giai cấp vô sản mà còn mang tính quốc tế vô sản.
Nhng điều đó không có nghĩa là Đảng cộng sản và giai cấp vô sản chỉ là

đoạn để tăng thêm lao động đã đợc tích luỹ và xây dựng xã hội, trong đó lao
động tích luỹ chỉ là một thủ đoạn mở rộng, làm phong phú và đẹp thêm đời sống
của những ngời lao động. Xoá bỏ cái xã hội trong đó quá khứ thống trị hiện tại
và xây dựng cái xã hội hiện tại thống trị quá khứ, tức là những ngời lao động làm
chủ t liệu sản xuất và t liệu sinh hoạt do họ làm ra.
Cuộc đấu tranh xoá bỏ áp bức, bóc lột giai cấp, gắn liền với cuộc đấu
tranh xoá bỏ tình trạng nô dịch dân tộc. Vấn đề dân tộc chỉ có thể đ ợc giải quyết
trên lập trờng của giai cấp vô sản, trong từng bớc đi của tiến trình cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Hãy xoá bỏ tình trạng ngời bóc lột ngời thì tình trạng dân tộc này
bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xoá bỏ. Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp
trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng
thời mất theo. Sau khi giành đợc chính quyền giai cấp vô sản phải tự vơn lên
thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, phải biến lợi ích của mình
thành lợi ích dân tộc, làm cho lợi ích của dân tộc trở thành lợi ích của chính
mình. Khi đó, giai cấp vô sản sẽ sống trong lòng dân tộc và xác lập vai trò lãnh
đạo đối với dân tộc, lấy đợc sức mạnh của dân tộc để chiến thắng kẻ thù nớc
mình, góp phần chiến thắng kẻ thù trên thế giới.
Xã hội cộng sản chủ nghĩa đợc Mác và Ăngghen phác hoạ nếu giai cấp vô
sản thông qua con đờng cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị và với t cách
là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, đồng
thời với việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất ấy, tiêu diệt luôn cả những điều


21
kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, tiêu diệt các giai cấp nói chung và tiêu
diệt cả sự thống trị của chính nó với t cách là một giai cấp.
Thay cho xã hội t sản cũ sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển
tự do của mỗi ngời là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi ngời. Xã
hội cộng sản tơng lai mà loài ngời nhất định sẽ đi tới sẽ không còn giai cấp và
đấu tranh giai cấp, do đó, nhà nớc với cái nghĩa là một bộ máy thống trị giai cấp

mạng vô sản. T tởng về hai giai đoạn của cách mạng không ngừng đợc Mác và


22
Ăngghen thể hiện trong đoạn nói về nớc Đức đang ở vào đêm trớc của một cuộc
cách mạng t sản.
Trong từng giai đoạn cách mạng, đảng vô sản cần xác định rõ nhiệm vụ
chính và lực lợng chủ yếu, những đảng phái khác cần liên hiệp, phấn đấu cho sự
đoàn kết và sự liên hợp của các đảng dân chủ ở tất cả các nớc. Nhng trong khi
đoàn kết và liên hợp với các đảng dân chủ, những ngời cộng sản vẫn dành cho
mình cái quyền phê phán những lời nói suông và những ảo tởng của các đảng
phái ấy; vẫn luôn giữ vững tính độc lập về chính trị, t tởng và tổ chức, giữ vững
mục tiêu chiến lợc của mình. Họ không một phút nào quên giáo dục cho công
nhân một ý thức hết sức sáng rõ về sự đối kháng kịch liệt giữa giai cấp t sản và
giai cấp vô sản, để khi có thời cơ thì công nhân biết sử dụng những điều kiện
chính trị và xã hội do giai cấp t sản tạo ra nh là vũ khí chống lại giai cấp t sản.
III. ý nghĩa của tuyên ngôn của Đảng cộng sản
Sự xuất hiện tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (2-1848) là sự kiện
vĩ đại trong lịch sử nhân loại. Từ đây, t tởng xã hội chủ nghĩa từ không tởng bắt
đầu chuyển thành khoa học. Phong trào vô sản bớc vào giai đoạn tự giác vì có lý
luận tiên tiến dẫn đờng. V. Lênin nói Cuốn sách mỏng ấy có giá trị bằng hàng
bộ sách, tinh thần của nó đến bây giờ vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô
sản có tổ chức và đang chiến đấu trong thế giới văn minh"13
Gần 160 năm qua, những nguyên lý của Tuyên ngôn của đảng cộng sản
vẫn còn giá trị và đòi hỏi vận dụng sáng tạo. Giai cấp t sản đã từng đóng vai trò
là giai cấp tiến bộ, cách mạng, giờ đây, sự thống trị của họ không còn thích hợp.
Chủ nghĩa t bản có những thành tựu đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội,
giải quyết đợc ở mức độ nhất định vấn đề việc làm, thu nhập cho ngời lao động,
nhng bản chất bóc lột, mâu thuẫn nội tại của nó căn bản không hề mất đi.
Năm 1885 tổng số công nhân thế giới là 10 triệu; năm 2000 tổng số công

xã hội và cái không phải chủ nghĩa xã hội, phải sử dụng một số hình thức trung
gian, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đờng,
nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Trong thời kỳ quá
độ, mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu
tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài.
Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khắc phục tình trạng nớc
nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu
tranh ngăn chặn và khắc phục những t tởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu
tranh làm thất bại mọi âm mu và hành động chống phá của các thế lực thù địch;
bảo vệ độc lập dân tộc xây dựng nớc ta thành một nớc xã hội chủ nghĩa phồn
vinh, nhân dân hạnh phúc.
Động lực chủ yếu để phát triển đất nớc là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở
liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài
hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và toàn xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn
lực của các thành phần kinh tế của toàn xã hội, coi trọng phát huy nguồn lực tinh
thần, nhất là lòng yêu nớc, ý chí tự lực tự cờng và trí sáng tạo của nhân dân ta để
phát triển đất nớc.
B. giới thiệu tác phẩm Làm gì của V.I. Lê-nin
(Lênin, Toàn tập. NXB Tiến bộ, Mátxcơva. 1975, tập 6)


24

I. Hoàn cảnh lịch sử ra đời Tác phẩm
Từ thế kỷ XVIII đến khi nổ ra Công xã Pari ở Pháp (1871) là thời kỳ xác
lập và phát triển tơng đối hoà bình của chủ nghĩa t bản. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX, các nớc t bản ở Tây Âu, Mỹ và Nhật bản chuyển dần sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa.
Từ khi Tuyên ngôn Đảng cộng sản ra đời (2-1848) đến Công xã Pari


25
Dân tuý cho rằng nông dân là lực lợng có thể lật đổ Nga hoàng. Họ chủ trơng
ám sát cá nhân; phủ nhận vai trò của quần chúng và cho rằng tính tích cực chủ
yếu là do những vĩ nhân, anh hùng. Sự nguy hiểm của phái Dân tuý là làm lạc hớng đấu tranh chống giai cấp bóc lột, xoá bỏ sự thống trị của nó mà chỉ chú
trọng khủng bố cá nhân. Họ làm mờ nhạt và phủ nhận vai trò lãnh đạo cách
mạng của giai cấp công nhân do đó kìm hãm sự thành lập chính Đảng độc lập
của nó. Muốn đa chủ nghĩa Mác vào Nga phải chống phái Dân tuý.
Nhóm Giải phóng lao động đã có công đấu tranh chống sai lầm của phái
Dân tuý nhng họ cũng mắc những sai lầm. Trong dự án cơng lĩnh đầu tiên của
nhóm cũng tán thành phơng pháp khủng bố cá nhân, nhng lại phủ nhận vai trò
của nông dân, liên minh công nông và đề cao vào vai trò giai cấp t sản tự do.
Trong thực tiễn, nhóm GPLĐ cha có liên hệ với phong trào công nhân. Trong
hoàn cảnh ấy, tính tự phát trong phong trào công nhân càng tăng, yêu cầu đa chủ
nghĩa Mác vào phong trào công nhân đã đến độ chín muồi.
Năm 1895, khi Lênin đễn Pêtécbua, Ngời hợp nhất các tổ chức mác xít ở
đây thành lập Hội liên hiệp chiến đấu giải phóng giai cấp công nhân Pêtécbua.
Cuối năm 1895, Lê-nin và một số lãnh tụ khác bị bắt. Trong Hội có những ngời
phê phán Lênin là "phái già" và tự xng là phái trẻ". Họ coi rằng đấu tranh chính
trị là của giai cấp t sản tự do. Giai cấp công nhân chỉ nên đấu tranh kinh tế, đòi
cải thiện đời sống. Ngời ta gọi đây là Phái kinh tế, phái cơ hội thoả hiệp đầu
tiên trong hàng ngũ các tổ chức mác xít ở Nga.
Phái Kinh tế phủ nhận sự cần thiết phải có chính Đảng độc lập của giai
cấp công nhân, muốn biến công nhân phụ thuộc chính trị vào giai cấp t sản. Phái
này có hai cơ quan ngôn luận riêng là tờ báo T tởng công nhân ở Nga và tờ Sự
nghiệp công nhân ở nớc ngoài. Hai tờ báo này đều tuyên truyền cơ hội chủ nghĩa
cho rằng đấu tranh chính trị của giai cấp vô sản phụ thuộc vào đấu tranh kinh tế.
Họ sùng bái tính tự phát của phong trào công nhân và phủ nhận sự cần thiết phải
có một chính Đảng độc lập, tập trung thống nhất của giai cấp công nhân. Trong
khi đó, Nga Hoàng đang đàn áp dã man, bắt tù và đầy ải các lãnh tụ của phong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status