Kỹ năng của luật sư trong việc biết bài bào chữa, bảo vệ trong vụ án hình sự - Pdf 32

Kỹ năng của luật sư trong việc biết bài bào chữa, bảo
vệ trong vụ án hình sự
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thì Luật sư là người tham gia
tố tụng trong một vụ án hình sự với tư cách là người bào chữa cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án hình sự.
PHẦN THỨ 1:
GIỚI THIỆU VỀ BÀI BÀO CHỮA, BÀI BẢO VỆ CỦA LUẬT SƯ
TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
I/-BÀI BÀO CHỮA, BÀI BẢO VỆ CỦA LUẬT SƯ.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, thì Luật sư là người tham gia tố
tụng trong một vụ án hình sự với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
hình sự.
Hoạt động tố tụng hình sự là một hoạt động luật định, được diễn ra theo một
trình tự thủ tục nhất định, từ giai đoạn trước đến giai đoạn sau, từ giai đoạn
đầu đến giai đoạn cuối, theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Khi tham gia vào quan hệ pháp luật nói trên, dù là ngay từ khi nó mới vừa
phát sinh hoặc là vào một giai đoạn tố tụng cụ thể nào đó, thì những người


tiến hành tố tụng và người người tham gia tố tụng cũng đều phải thực hiện
những công việc tố tụng theo một trình tự nhất định, đúng với quy định của
pháp luật về tố tụng.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì Luật sư có thể
tham gia tố tụng ở vào bất kỳ giai đoạn tố tụng nào của vụ án, tùy thuộc vào
yêu cầu của thân chủ của mình hoặc cũng có thể từ yêu cầu của chính các cơ
quan tiến hành tố tụng.
Tuy nhiên, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, việc tham gia tố tụng

mình, nếu thành công có thể sẽ gây tiếng vang lớn trong xã hội làm tăng uy
tín nghề nghiệp của Luật sư đồng thời có tác động tích cực đến hoạt động
hành nghề của Luật sư trong việc thực hiện các dịch vụ pháp lý với thân chủ
của Luật sư sau này.
Thứ ba:
Kết quả của hoạt động xét xử của Tòa án sẽ là một bản án mà Hội đồng xét
xử thay mặt và nhân danh Nhà Nước tuyên án đối với thân chủ của Luật sư.
Không phải chỉ có bản án tuyên thân chủ của Luật sư vô tội; không phải chỉ
có bản án tuyên thân chủ của Luật sư có tội nhẹ hơn, TNHS ít hơn, hình phạt
nhẹ hơn so với đề nghị truy tố của VKS; hoặc bản án tuyên bị cáo có tội đúng
với tội danh và hình phạt, đồng thời buộc bị cáo phải bồi thường TNDS một
cách thích đáng để khắc phục hậu quả cho người bị hại, mới được xem là
thành công của Luật sư và là niềm hạnh phúc của thân chủ của Luật sư.
Ngay như một bản án mà Tòa đã tuyên, có tính bất lợi đối với thân chủ của


Luật sư, đôi khi Luật sư cũng có thể nhận được sự cảm thông chia sẻ, thậm
chí sự mang ơn từ chính thân chủ của mình. Bởi vì Họ đã cảm nhận được
năng lực thực sự của Luật sư, về công sức mà Luật sư đã làm và về trách
nhiệm nghề nghiệp mà Luật sư đã thể hiện đối với những yêu cầu của Họ.
Sự đánh giá tốt của khách hàng đối với Luật sư bao giờ cũng là một chứng cứ
hết sức quan trọng mang tính đánh giá nghề nghiệp và năng lực của Luật sư
khi tham gia hoạt động tố tụng trong một vụ án hình sự.
Hơn ai hết, Luật sư phải là người hiểu rõ việc tham gia vào giai đoạn xét xử
tại tòa án là một hoạt động tố tụng hết sức quan trọng đối với việc hành nghề
của mình và đối với chính hợp đồng dịch vụ pháp lý mà Luật sư đã xác lập
với khách hàng của mình.
Chính vì tính chất quan trọng như vậy, Luật sư cần phải có sự chuẩn bị kỹ
lưỡng cho giai đoạn xét xử, mà quan trọng nhất, có thể nói là việc chuẩn bị
bài bào chữa hoặc là bài bảo vệ cho thân chủ của mình.

Tuy nhiên trong một số trường hợp, quan điểm của Luật sư có thể sẽ là không
đồng tình với việc truy tố của VKS vì đã bỏ sót tội phạm và hình phạt.
Thể hiện tất cả những vấn đề vừa nêu trên trong bài bảo vệ, mục đích của
Luật sư là muốn khẳng định bị cáo đúng là người phạm tội, giữa hành vi
phạm tội của bị cáo và kết quả dẫn đến sự mất mác, thiệt hại đến quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị hại, bị cáo là người có lỗi cho nên bị cáo phải có
trách nhiệm bồi thường TNDS và khắc phục những hậu quả mà mình đã gây
ra.


Trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu là một việc đương
nhiên theo quy định của pháp luật. Không một ai có thể yêu cầu hoặc đòi hỏi
về hình thức, mức độ, biện pháp chế tài về hình sự đối với người phạm tội
ngoại trừ Viện Kiểm Sát Nhân Dân.
Trách nhiệm dân sự của bị cáo trong việc bồi thường tổn thất về vật chất
cũng như tinh thần cho khách hàng của Luật sư, mới chính là mục đích mà
Luật sư bảo vệ cho người bị hại và phía người bị hại hướng đến.
Cũng giống như bài bào chữa, bài bảo vệ sẽ được Luật sư trình bày bằng cách
đọc nguyên văn hoặc làm dàn ý để từ đó làm căn cứ phát biểu ngay trong
phần tranh luận tại phiên tòa, sau khi vị đại diện VKS đọc bản luận tội.

II/-BÀI BÀO CHỮA, BÀI BẢO VỆ LÀ MỘT TÀI LIỆU QUAN
TRỌNG KẾT TINH CÔNG SỨC VÀ KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ
TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.
Bài bào chữa, bài bảo vệ trước hết thể hiện kỹ năng viết của Luật sư. Nhưng
để viết được một tài liệu có tính chặt chẽ, ngắn gọn, đầy đủ nội dung, có văn
hóa, có trí tuệ, có căn cứ xác đáng và có tính thuyết phục cao như vậy, Luật
sư còn phải vận dụng những kỹ năng khác trong hoạt động nghề nghiệp của
Luật sư.
Có kỹ năng hành nghề tốt, Luật sư còn phải có một nền tảng kiến thức khoa


20. Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền:
a)-Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b)-Được thông báo về kết quả điều tra;
c)-Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch theo quy định của Bộ luật này;
d)-Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường;
đ)-Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
e)-Khiếu nại quyết định; hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi
thường cũng như hình phạt đối với bị cáo.
30. Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy
định tại Điều 105 của Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp
pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
40. Người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án; nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có
thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự.
50. Trong trường hợp người bị hại chết thì người đại diện hợp pháp của họ có
những quyền quy định tại điều này.
Theo thói quen đôi khi chúng ta thường hay sử dụng thuật ngữ “Phía Người
Bị Hại” để chỉ “Người Đại Diện Hợp Pháp Của Người Bị Hại” trong trường
hợp người bị hại đã chết trong vụ án.

II/-NHỮNG YÊU CẦU BỒI THƯỜNG TỪ NGƯỜI BỊ HAI VÀ


NĐDHPCNBH.
Trong một vụ án hình sự, người bị hại là người đã có thiệt hại:
-Về mặt thể chất: có nghĩa rằng họ có thể đã bị mất đi mạng sống của mình,

thiếu căn cứ sẽ không được chấp thuận, thì không phải bất cứ yêu cầu yêu
cầu bồi thường nào, với mức độ nào, biện pháp bảo đảm nào, của người bị
hại cũng đều được Hội đồng xét xử chấp thuận.
Bên cạnh đó các Luật sư bào chữa của bị cáo ngay tại phiên tòa cũng luôn có
xu hướng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ TNDS của bị cáo trong vụ án.
Vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi của người bị hại trong vụ án hình sự là một
nhiệm vụ không dễ dàng và là một hoạt động nghề nghiệp có tính kỹ năng
cao của L.sư.

III/-KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC CHUẨN BỊ BÀI BẢO
VỆ CHO NGƯỜI BỊ HẠI:
1/-Mục đích, yêu cầu của việc viết bài bảo vệ:
a)-Mục đích:
Mục đích viết bài bảo vệ là giúp cho Luật sư có điều kiện xem lại các tài liệu
đã thu thập, ghi chép được, nhờ đó mà hiểu thấu đáo hơn về nội dung vụ án.
Khi viết cũng là lúc Luật sư cân nhắc đáng giá từng tài liệu, tình tiết, so sánh,
đối chiếu và tổng hợp các chứng cứ, để phát hiện và sử dụng được các chứng
cứ có lợi, bác bỏ những chứng cứ bất lợi cho thân chủ.


Trên cơ sở phân tích và tổng hợp các chứng cứ, Luật sư đưa ra các quan điểm
bảo vệ sẽ toàn diện và không bỏ sót những vấn đề quan trọng.
Bài bảo vệ được chuẩn bị kỹ lưỡng, sắp xếp các luận cứ một cách lô gíc,
khoa học, là tài liệu cần thiết để Luật sư sử dụng trong lúc bảo vệ. Nhờ có
dàn ý đã được chuẩn bị, Luật sư trình bày các vấn đề có trọng tâm, không bị
bỏ sót và cũng không mang tính dàn trãi tràn lan.
Nếu Luật sư chỉ tin vào trí nhớ và tài hùng biện của mình mà không chuẩn bị
bài bảo vệ, thì có nhiều trường hợp vì quá say sưa trình bày về một vấn đề
nào đó mà quên mất các vấn đề quan trọng khác cần phải được trình bày. Sau
khi bảo vệ xong mới phát hiện ra là còn thiếu thì rất nuối tiếc.

đơn, biên nhận…
-Các tài liệu, chứng cứ mới được thu thập bổ sung:
+Các tài liệu ghi chép được khi Luật sư gặp bị can, bị cáo;
+Các tài liệu Luật sư thu thập được từ việc tiếp xúc với thân nhân gia đình
người bị hại…
-Các tài liệu và văn bản pháp luật có liên quan:
+Bộ luật hình sự;
+Bộ luật tố tụng hình sự;
+Nghị quyết của HĐTP TANDTC, Nghị định chính phủ, Thông tư liên tịch,
và các văn bản dưới luật khác có liên quan đến việc bảo vệ của Luật sư.
b)-Đánh giá phân tích tài liệu, chứng cứ:
Là người bảo vệ cho quyền lợi của người bị hại, Luật sư phải nghiên cứu các


tài liệu và chứng cứ nói trên, để đánh giá và phân tích, từ đó đưa ra những kết
luận về những nội dung, tình tiết có lợi cho thân chủ của mình, như là:
-Xác định hành vi phạm tội của bị cáo, xác định tội danh và khung hình phạt
cho bị cáo;
-Xác định những thiệt hại thực tế đã xảy ra;
-Xác định những tình tiết thể hiện việc yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của
người bị hại hoặc người ĐDHPCNBH là hợp lý, đúng đắn, chính xác và có
căn cứ.
3/-Xác định định hướng viết bài bảo vệ:
a)-Xác định hình thức viết:
Tùy thuộc vào tính chất của vụ án là phức tạp hay đơn giản, số lượng bị cáo
nhiều hay ít, các tài liệu chứng cứ trong vụ án là đầy đủ hay con thiếu, phù
hợp hay có mâu thuẩn với nhau, bị cáo nhận tội hay không nhận tội… mà bài
bảo vệ của Luật sư cần được viết chí tiết hay chỉ ở dạng dàn ý và nó được gửi
đến Tòa án để Tòa án có điều kiện xem xét kỹ từng tình tiết nội dung yêu cầu
của người bị hại mà Luật sư nêu ra hay chỉ là tài liệu mà Luật sư sẽ sử dụng

phiên tòa.
b)-Phần nội dung:
-Phân tích TNHS của bị cáo:
+Nếu VKS truy tố đúng người đúng tội, đúng với nhận định phân tích của
Luật sư thì Luật sư cũng cần phải nêu ý kiến, đề nghị HĐXX chấp nhận việc
truy tố của VKS.


+Nếu VKS truy tố chưa đúng người đúng tội, chưa đúng với phân tích của
Luật sư thì Luật sư cũng phải nêu quan điểm của mình, nếu cần thiết thì đề
nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
-Phân tích TNDS của bị cáo:
+Phân tích chứng minh thiệt hại của thân chủ là có thật, do chính hành vi của
bị cáo gây ra, hành vi của bị cáo là hành vi trái pháp luật.
+Việc yêu cầu bồi thường của người bị hại là có căn cứ.
c)-Phần kết luận:
-Tóm tắt lại những nội dung chính đã trình bày, không cần thiết phải lập lại
toàn bộ nội dung, nội dung lập lại phải không mâu thuẫn với nội dung đã
trình bày;
-Đưa ra những đề xuất cụ thể về cách giải quyết vụ án theo hướng có lợi nhất
cho thân chủ của mình với Hội đồng xét xử.
PHẦN THỨ 3:
PHẦN KẾT LUẬN
Tóm lại, “Bài bảo vệ cho người bị hại” của Luật sư trong vụ án hình sự là
một văn bản được sử dụng trong phần tranh luận tại phiên tòa với mục đích
nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hại trong chính vụ án hình sự đó.
Bài bảo vệ là một tài liệu quan trọng kết tinh công sức của Luật sư. Thể hiện
kết quả của một quá trình tích cự nghiên cứu, khai thác, đánh giá, phân tích
hồ sơ tài liệu của vụ án, để tìm ra những những tình tiết, những chứng cứ
quan trọng cần thiết phục vụ cho việc bảo vệ quyền lợi của người bị hại là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status