Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần I .
chất lợng sản phẩm và vai trò của chất lợng sản phẩm trong hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới .
1. Các khái niệm về chất lợng sản phẩm.
Trên thế giới, khái niệm về chất lợng sản phẩm đã từ lâu luân gây ra những tranh cãi
phức tạp. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là các khái niệm về chất lợng nói
chung và chất lợng sản phẩm nói riêng đợc nêu ra dới các góc độ khác nhau của mỗi
cách tiếp cận, mỗi cách nhìn nhận riêng biệt.
Theo quan điểm triết học, chất lợng là tính xác định bản chất nào đó của sự vật,
hiện tợng, tính chất mà nó khẳng định nó chính là cái đó chứ không phải là cái khác
hoặc cũng nhờ nó mà nó tạo ra một sự khác biệt với một khách thể khác. Chất lợng
của khách thể không quy về những tính chất riêng biệt của nó mà gắn chặt với khách
thể nh một khối thống nhất bao chùm toàn bộ khách thể. Theo quan điểm này thì
chất lợng đã mang trong nó một ý nghĩa hết sức trừu tợng, nó không phù hợp với thực
tế đang đòi hỏi
Một khái niệm về chất lợng vừa mang tính đơn giản vừa dễ hiểu và có tính chất
quảng bá rộng dãi đối với tất cả mọi ngời, đặc biêt là với ngời tiêu dùng, với các tổ
chức, hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ cũng nh với các phơng
pháp quản trị chất lợng trong các tổ chức các doanh nghiệp;
Một quan điểm khác về chất lợng cũng mang một tính chất trừu tợng. Chất lợng
theo quan điểm này đợc định nghĩanh là một sự đạt một mức độ hoàn hảo mang tính
chất tuyệt đối. Chất lợng là một cái gì đó mà làm cho mọi ngời mỗi khi nghe thấy
đều nghĩ ngay một sự hoàn mỹ tốt nhất cao nhất. Nh vậy theo nghĩa này thì chất l-
ợng Vẫn cha thoát khỏi sự trừu tợng của nó. Đây là một khái niệm còn mang nặng
tính chất chủ quan, cục bộ và quan trọng hơn, khái niệm này về chất lợng vẫn cha
cho phép ta có thể định lợng đợc chất lợng. Vì vậy, nó chỉ mang một ý nghĩa nghiên
cứu lý thuyết mà không có khả năng áp dụng trong kinh doanh.
Một quan điểm thứ 3 về chất lợng theo định nghĩa của W. A. Shemart. Là một nhà
quản lý ngời mỹ, là ngời khởi xớng và đạo diễn cho quan điểm này đối với vấn đề về
chất lợng và quản lý chất lợng. Shemart cho rằng:chất lợng sản phẩm trong sản xuất
công nghệ của họ có còn thích hợp với nhu cầu về các loại sản phẩm cả sản phẩm
cùng loại và sản phẩm thay thế trên thị trờng hay không.
Nh vậy, theo khái niệm về chất lợng này các nhà sản xuất không tính đến những tác
động luôn luôn thay đổi và thay đổi một cách liên tục của môi trờng kinh doanh và
hệ quả tất yếu của nó, trong khi họ đang say xa với những sản phẩm chất lợng cao
của họ thì cũng là lúc nhu cầu của ngời tiêu dùng đã chuyển sang một hớng khác,
một cấp độ cao hơn.
Để khắc phục những hạn chế tồn tại và những khuyết tật trung khái niệm trên buộc
các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đa ra một khái
niệm bao quát hơn, hoàn chỉnh hơn về chất lợng sản phẩm. khái niệm này một mặt
phải đảm bảo đợc tính khách quan mặt khác phải phản ánh đợc vấn đề hiệu quả của
sản xuất kinh doanh mà chất lợng của sản phẩm chất lợng cao sẽ mang lại cho doanh
nghiệp, cho tổ chức. Cụ thể hơn, khái niệm về chất lợng sản phẩm này phải thực sự
xuất phát từ hớng ngời tiêu dùng. Theo quan điểm nay thì: chất lợng là sự phù hợp
một cách tốt nhất với các yêu cầu và mục đích của ngời tiêu dùng , với khái niệm
trên về chất lợng thì bớc đầu tiên của quá trình sản xuất kinh doanh phải là việc
nghiên cứu và tìm hiểu nhu cầu của ngời tiêu dùng về các loại sản phẩm hàng hoá
hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp định cung cấp trên thị trờng. Các nhu cầu của thị tr-
ờng và ngời tiêu dùng luôn luôn thay đổi đòi hỏi các tổ chức, các doanh nghiệp tham
gia sản xuất kinh doanh phải liên tục đổi mới cải tiến chất lợng, đáp ứng kịp thời
những thay đổi của nhu cầu cũng nh của các hoàn cảnh các điều kiện sản xuất kinh
doanh. Đây là những đòi hỏi rất cơ bản mang tính chất đặc trng của nền kinh tế thị tr-
ờng và nó đã trở thành nguyên tắc chủ yếu nhất trong sản xuất kinh doanh hiện đại
3
ngày nay. Mặc dù vậy, quan điểm trên đây về chất lợng sản phẩm vẫn còn những nh-
ợc điểm của nó. Đó là sự thiếu chủ động trong các quyết định sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Sự phụ thuộc quá nhiều và phức tạp của doanh nghiệp vào khách
hàng, ngời tiêu dùng có thể sẽ làm cho vấn đề quản lý trở nên phức tạp và khó khăn
hơn. Tuy vậy, nó là một đòi hỏi tất yếu mang tính chất thời đại và lịch sử.
Ngoài các khái niệm đã nêu ở trên, còn một số khái niệm khác về chất lợng sản phẩm
doanh.
a. . Chất lợng sản phẩm với hiệu quả -sản xuất kinh doanh. - Năng xuất và chất l-
ợng
Hiệu quả kinh doanh luôn luôn là vấn đề đợc các Doanh nghiệp quan tâm hàng đầu.
để đạt đợc hiệu quả kinh doanh, các DN luôn dành mọi chỉ tiêu, mọi nguần lực vào
một nỗ lực chung đem lại tính hiệu quả cao trong các hoạt động về quản lý hay các
hoạt động về tác nghiệp có liên quan mật thiết đến các hoạt động sản xuất và kinh
doanh, quá trình sản xuất các giá trị đặc biệt là giá trị gia tăng. Khi xem xét các chỉ
tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh, ngoài các chỉ tiêu thông thờng nh tỷ
xuất lợi nhuận, trên vốn, lợi nhuận trớc thuế lãi thuần v. . v. . Doanh nghiệp còn chú
ý đến mặt hiện vật của vấn đề hiệu quả, đó chính là năng xuất lao động. Năng xuất
lao động ở đây đợc gọi chung cho nhiều loại năng xuất khác nhau. Đó có thể là năng
xuất lao động và hiệu quả lao động. Năng xuất lao động đợc tính theo công thức sau:
WLĐ = Q/L
Q: Sản lợng sản phẩm sản xuất
L: Số lao động
Hoặc cũng có thể tính năng xuất lao động dựa trên các yếu tố về nguồn lực khác. Đó
có thể là năng xuất trên một đồng vốn:
WK = Q/K (K: tổng vốn)
5
Năng xuất trên vốn lu động: W = Q/VLĐ
Năng xuất trên vốn cố định: W = Q/VCĐ
Trên đây là cách tính các chỉ tiêu năng xuất mang tính chất truyền thống. Ngày nay
năng xuất, với vai trò là một yếu tố đầu tiên và cơ bản có ảnh hởng trực tiếp và quyết
định tới các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh. Việc tính toán và xem xét năng
xuất dới góc độ truyền thống tỏ ra không phù hợp nữa. Vấn đề năng xuất Hiệu
quả sản xuất kinh doanh, theo quan điểm của triết lý kinh doanh hiện đại luôn đợc
gắn liền với khái niệm chất lợng sản phẩm . Chính vì vậy, thuật ngữ năng xuất -chất
lợng ngày nay không còn là một khái niệm mới mẻ trong sản xuất kinh doanh cũng
nh trong nghiên cứu, lý luận về sản xuất kinh doanh hiện đại. Mối quan hệ giữa năng
)
ý nghĩa của tỷ số này chính là ở chỗ: khi năng xuất chất lợng tăng lên thì tỷ số này
tăng lên và ngợc lại. Đây chính là chỉ số cho phép các nhà quản lý, Đặc biệt là các
nhà quản lý chất lợng có thể lợng hoá đợc những ảnh hởng của năng xuất chất l-
ợng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh từ đó có những biện pháp phù hợp khắc phục
những khuyết tật phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh có xuất xứ từ vấn đề
chất lợng năng suất tới hiệu quả chung của toàn bộ hoạt động.
b. . Chất lợng với vấn đề về vốn công nghệ.
Năng xuất lao động (Bao gồm cả các yếu tố năng suất thành phần) luôn luôn bao
hàm cả vấn đề chất lợng sản phẩm. điều này đã đợc nhìn nhận và chứng minh khi ta
nhìn vào mối quan hệ giữa hai yếu tố đó. Mối quan hệ giã năng xuất và chất lợng.
Trong quản trị kinh doanh, để các quyết định, đặc biệt là các quyết định liên quan tới
vấn đề chất lợng sản phẩm đạt đợc các mục tiêu đã đề ra. Chất lợng sản phẩm còn
phải đợc xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố khác. Các yếu tố này có thể là các
yếu tố căn bản mang tính chất là các nguần lực đầu vào mà cũng có thể là các yếu tố
phụ, mặc dù vậy nó vẫn có ảnh hởng nhất định tới toàn bộ quá trình. Vấn đề về vốn
và công nghệ với vai trò quyết định của mình không những có một ảnh hởng to lớn
tới toàn bộ quá trình hoạt động sản suất kinh doanh mà nó còn có những tác động lớn
tới vấn đề về chất lợng sản phẩm. Thực vậy theo quan điểm hớng vào khách hàng về
vấn đề về chất lợng sản phẩm thì chất lợng chính là sự phù hợp với yêu cầu, các đòi
hỏi cà cao hơn là các chu cầu của khách hàng. Trong khi đó, nhu cầu của khách hàng
7
luôn luôn thay đổi buộc các nhà sản xuất phải phải hớng việc sản xuất của mình theo
những thay đổi này. Nhu cầu của ngời tiêu dùng lại chịu ảnh hởng không ít của sự
phát triển khoa học kỹ thuật. Hơn nữa, công nghệ sản xuất chính là yếu tố trực tiếp
nhất tạo ra sản phẩm và do đó cả chất lợng sản phẩm. Khả năng về vốn và công nghệ
là một trong các yếu tố quyết định tới chất lợng sản phẩm. Bất kỳ một nỗ lực định
hớng nào của các cấp quản trị hay của toàn bộ doanh nghiệp sẽ không thể thực hiện
đợc nếu nh khả năng về vốn, khả năng về công nghệ bị hạn chế. Ngời ta có thể hô
hào cải tiến đổi mới và nâng cao chất lợng sản phẩm nhng đó sẽ vẫn chỉ là khẩu hiệu
hay vấn đềlao động- quản lý. Khi xem xét chất lợng một cách tổng thể không thể
không tính đến các ảnh hởng của các vấn đề khác. Ngoài các yếu tố cơ bản (Vốn
công nghệ lao động). Chất lợng sản phẩm còn bị ảnh hởng trực tiếp hoặc gián
tiếp bởi các yếu tố khác nh trình độ quản lý, chất lợng các yếu tố đầu vào mà cụ thể
là các loại nguyên liệu, nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất. Ngoài ra độ ổn định
trong việc cung cấp các yếu tố trên cũng có một vai trò quan trọng quyết định tới
chất lợng sản phẩm.
Sản phẩm mà cụ thể là các đặc tính về chất lợng sản phẩm chịu sự tác động và chi
phối của nhiều những nhân tố chủ quan và khách quan. Việc đinh dạng và định lợng
đợc các nhân tố ảnh hởng này có một vai trò hết sức quan trọng trong các công tác
quản lý đặc biệt là quản lý hớng vào việc nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành
trong tính hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Đối với mỗi nhân tố vấn đề ở đây không
phải là việc đơn giản xem xét các ảnh hởng riêng rẽ của chúng mà cần phải xem xét,
đo lờng và đánh giá đợc tổng tác động trong một hệ thống nhất và các quyết định cần
phải đợc xây dựng trên cơ sở những kết luận này.
2. Xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
2. 1 Xu hớng hợp tác kinh tế .
Trong một thời kỳ phát triển của nền kinh tế thế giới sau chiên tranh có một su hớng
phát triển có thể dễ dàng nhận ra ngay đó là xu hớng hợp tác quốc tế đối với các nền
kinh tế của các quốc gia trong khu vực hay trên phạm vi toàn thế giới. Biểu hiện rõ
9
nét nhất của xu hớng này là sự hình thành và phát triển của những tổ chức thơng mại,
tổ chức kinh tế mang tính chất quốc tế. Ngoài ra các hiệp định song phơng hay đa ph-
ơng giữa các chính phủ các nớc đóng vai trò quan trọng kịch thích và góp phần đẩy
mạnh xu hớng hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế nhân tố cơ bản của tiến trình
toàn cầu hoá. Những ví dụ cơ bản nhất cho xu hớng này có thể thấy ngay ở các tổ
chức, các hiệp hội kinh tế hay thơng mại nh uỷ ban Châu Âu EEC tiền thân của
EU, hiệp hội các quốc gia Đông Nam á ASEAN với khu mậu dịch tự do AFTA.
hiệp ớc chung về thuế quan và thơng mại GATT tiền thân của tổ chức thơng mại thế
giới WTO. Ngoài ra còn có một số các tổ chức và các diễn đàn hợp tác kinh tế khác
ký hiệp định thực hiện chơng trình u đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT.
Đối với ASEAN, có thể nói , nhu cầu liên kết kinh tế thơng mại đã đợc manh nha
từ khá sớm. Năm 1977, một chơng trình nhằm thúc đẩy mậu dịch gữa các thành viên
đã đợc đa vào thoả thuận với u đãi thơng mạI, khác với TPA, quan hệ thơng mại
ASEAN theo CEPT đợc thực hiện trong môi trờng mà các hàng rào thuế quan và phi
thuế quan dần đợc loại bỏ hoàn toàn. Việc thành lập AFTA và thực thi hiệp định
CEPT đơng nhiên cũng chịu một số ảnh hởng do bối cảnh lịch sử tạo ra. Trớc hết đó
là do trên thế giới , xu hớng toàn cầu hoá đang diễn ra một cách sâu rộng tác động
mạnh mẽ tới mọi quốc gia, mọi nền kinh tế, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặc
biệt là tới lĩnh vực thơng mại kinh tế, dịch vụ và đầu t. Sự ra đời của nhiều tổ chức
liên kết và liên minh kinh tế với những thoả thuận thơng mại khu vực hay song ph-
ơng nh EU ở Tây Âu, NAFTA của khu vực Bắc Mỹ là một thách thức không nhỏ đối
với tăng trởng của ASEAN. Trong khu vực, xu thế hoà bình và hữu nghị đang là xu
hớng chung cùng cới xu hớng chung của thời đại, đó là xu hớng hoà bình, đối thoại
và hợp tác. Cùng với những nguyên nhân tồn tại đó là các đòi hỏi và các yêu cầu của
các nền kinh tế trong khu vực, sự tác động mạnh của tình hình thế giới, sáng kiến
thành lập AFTA có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng nó vừa là một giải pháp tình thế
vừa là một bớc đi chiến lợc nhằm tạo ra một khối thống nhất về thơng mại mạnh hơn
rộng hơn trong môi trờng thế giới mới.
11
Với việc thành lập AFTA, mục đích chính của các nớc thành viên là nhằm thúc đẩy
sự hợp tác kinh tế, trao đổi buôn bán trong khu vực, tạo sức cạnh tranh cao trên thị tr-
ờng thế giới. Từ đó, thu hút vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài, nâng cao năng lực sản
xuất hàng hoá và bổ xung nguần lực giữa nền kinh tế của các nớc thành viên, nâng
cao khả năng thích ứng một cách chủ động với những thay đổi về điều kiện chung
của tình hình thế giới nói chung và tình hình thơng mại nói riêng, thúc đẩy sự phát
triển của ASEAN và các nớc thành viên. Để đạt đợc điều đó, các nớc thành viên
ASEAN cần phải tiến hành giải quyết các vấn đề chủ yếu mang tính nguyên tắc và
kỹ thuật. Đó là việc cắt giảm các loại thuế nhập khẩu, loại bỏ hàng rào phi thuế quan
và hài hoà các thủ tục hải quan trong nội bộ khối.
chỉ các doanh nghiệp Việt Nam mà cả nền kinh tế nớc ta có đợc một sự tăng trởng
cao và ổn định. Tuy nhiên, để đạt đợc điều đó chúng ta cần phải thực hiện một số các
biện pháp nhằm đáp ứng đợc các yêu cầu và đòi hỏi của một nền kinh tế thị trờng
quốc tế đạt đến một trình độ tơng đối cao nh thị trờng AFTA tiến tới một thi trờng
rộng lớn hơn trong WTO, APEC Đối với các Doanh nghiệp Việt Nam và đối với
cả nền kinh tế nớc ta. Các đòi hỏi chủ yếu và duy nhất khi ra nhập AFTA có thể là:
Xây dựng một hệ thống pháp luật tạo một hành lang pháp lý vững chắc vừa đảm bảo
thúc đẩy tự do thơng mại, và kinh tế vừa là những căn cứ vững chắc trong việc kiểm
soát các hoạt động kinh tế nói chung và các hoạt động thơng mại nói riêng.
Khẩn trơng tiến hành việc cắt giảm các loại thuế xuất nhập khẩu tiến tới huỷ bỏ hoàn
toàn các cản thơng mại trong hệ thống về thuế. Việc thực hiện yêu cầu này chính là
bớc khởi động đầu tiên trong tiến trình qua nhập AFTA của nớc ta và cũng là của xu
hớng hội nhập kinh tế xu hớng chủ đạo trong phát triển và thúc đẩy tăng trởng
kinh tế hiện đại.
Trên đây là hai đòi hỏi và yêu cầu đối cới sự quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nớc
trong quá trình tham gia vào AFTA và quá trình hội nhập kinh tế thế giới.
Đối với các Doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh của Việt Nam, việc ra nhập
AFTA có thể là một cơ hội lớn cho sự phát triển, mở rộng quy mô sản xuất kinh
13
doanh, mở rộng thị phần sản phẩm ra ngoài biên giới quốc gia, đẩy mạnh tiêu thụ
hành hoá, ra tăng doanh thu và lợi nhuận Doanh nghiệp cũng còn phải thực hiện một
số yêu cầu và đáp ứng các đòi hỏi cụ thể là:
Tìm hiểu kỹ pháp luật và tập quán thơng mại quốc tế, tìm tòi và nghiên cứu các nhu
cầu của thị trờng, đặc biệt là thị trờng cuối năm trong các nớc thành viên của ASEAN
AFTA. Việc này có một ý nghĩa rất quan trọng bởi vì tự do thơng mại Tự do th-
ơng mại sẽ không có ý nghĩa gì nếu nh Doanh nghiệp không hiểu biết gì về luật pháp
quốc tế, đặc biệt là các bộ luật về thơng mại hay các tập quán thơng mại. Chúng ta
(các Doanh nghiệp Việt Nam) cũng có thể tham gia một thị trờng chung và thống
nhất trong khu vực nếu nh ta không biết khách hàng của chúng ta là ai ? ở đâu ? và
họ cần những sản phẩm gì ?