LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với nền kinh tế của đất nước trong 15 năm tiến hành công cuộc đổi
mới vừa qua, lĩnh vực chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng trong các
doanh nghiệp Việt Nam chúng ta đã có những bước tiến đáng phấn khởi Điều
này rất có ý nghĩa,bởi chất lượng sản phẩm vốn là điểm yếu kém kéo dài nhiều
năm ở nước ta trong thời kỳ bao cấp. Tuy nhiên trong nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần hiện nay cùng với quá trình mở cửa, với sự phát triển như vũ
bão của nền kỹ thuật,công nghệ hiện đại và xu thế hội nhập khu vực hoá, toàn
cầu hoá kinh tế, sự cạnh tranh trên thị trường sẽ ngày càng gay gắt quyết liệt.
Các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối đầu với những thử thách to lớn như :
Sức ép của hàng nhập, của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Môi trường
kinh doanh mới mẻ đầy biến động. Cung thường xuyên vượt cầu. Hàng rào thuế
quan dần bị xoá bỏ.Những thị trường quan trọng như thị trường Châu Âu, thị
trường Mỹ, thị trường Nhật Bản lại hết sức nghiêm ngặt về thủ tục và tiểu chuẩn
chất lượng sản phẩm. Vì vậy vấn đề chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng
trong các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng cấp bách và trở thành vấn đề
ưu tiên hàng đầu. Như ông Hoàng Mạnh Tuấn nguyên Tổng cục phó Tổng Cục
Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất Lượng đã nói: "chất lượng sản phẩm ngày nay đang
trở thành một nhân tố cơ bản để quyết định sự thắng bại trong cạnh tranh, quyết
định sự tồn tại, hương vong trong từng doanh nghiệp nói riêng cũng như sự
thành công hay tụt hậu của nền kinh tế đất nước nói chung".
Với sự hấp dẫn và tầm quan trọng mang tính chiến lược đó. Em
chọn"Vấn đề chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng trong các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay" làm đề tài cho đề án của mình.
1
CHƯƠNG I: CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ QUẢN LÝ CHẤT
LƯỢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THỜI KỲ KẾ HOẠCH HOÁ
TẬP TRUNG
I. Quan niệm về chất lượng sản phẩm, nội dung, phương pháp quản
lý chất lượng và thực trạng chất lượng sản phẩm thời kỳ bao cấp.
α Nội dung quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp là cụ thể hoá
các chỉ tiêu pháp lệnh về chất lượng của mình thành các kế hoạch sản xuất sau
đó áp đặt xuống các phân xưởng. Thứ hai là đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về
ý nghĩa của chất lượng sản phẩm nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức, tư
tưởng của người lao động. Thứ ba là đẩy mạnh công tác kiểm tra chất lượng sản
phẩm. Thành lập các phòng KCS trong các doanh nghiệp. Thứ tư là xây dựng
và đăng ký các tiêu chuẩn chất lượng.
b. Phương pháp quản lý
Phương pháp quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp Việt Nam thời
kỳ bao cấp cơ bản là sử dụng các mệnh lệnh hành chính và kết hợp phương
pháp tuyên truyền giáo dục.
c. hậu quả của nội dung và phương pháp quản lý
nội dung và phương pháp quản lý trên dẫn đến thực tế trong các doanh
nghiệp sau:
* Cơ quan chỉ đạo của các doanh nghiệp thường chỉ nêu lên yêu cầu mong
muốn, có khi áp đặt về chất lượng. Nhưng thường không đầu tư thích đáng,
không tạo được những điều kiện vật chất, kỹ thuật tương ứng, để giải quyết
những vấn đề tồn tại của chất lượng.
* Người lãnh đạo các doanh nghiệp thường "khoán" cho các cán bộ kỹ
thuật bộ phận kỹ thuật hoặc bộ phận kiểm tra chất lượng tiến hành các công tác
quản lý chất lượng với tinh thần được đến đâu hay đến đó ít quan tâm chỉ đạo
công tác.
3
* Công tác đăng ký chất lượng đã phát huy tốt tác dụng ban đầu nhưng
do thiếu thường xuyên cải tiến nên ngày càng kém hiệu quả.
Mặt khác trong điều kiện nền sản xuất lạc hậu, sản xuất không đủ
đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Vấn đề chính của sản xuất là đáp ứng
được số lượng còn chất lượng chưa được đưa lên hàng đầu.Người sản xuất và
người tiêu dùng không có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Người sản xuất không
hình chất lượng sản phẩm và trình độ quản lý chất lượng hiện tại của chúng ta.
Hoạt động quản lý chất lượng đã tồn tại cùng với quá trình sản xuất của
con người từ hàng nghìn năm nay. Song nó chỉ trở thành một hoạt động chức
năng nằm ngoài sản xuất khi nền sản xuất thủ công phát triển mạnh trong các
công trường ở Châu Âu. Quản lý chất lượng trong cac doanh nghiệp dã trải qua
các giai đoạn từ kiểm tra chất lượng rồi kiểm soát bằng thông kê,tới đảm bảo
chất lượng, từ quản lý cục bộ tới quản lý tổng hợp (TQM) và quản lý theo hệ
thống (ISO 9000, HACCP).
Quá trình tiếp xúc, du nhập mạnh mẽ các phương thức quản lý chất lượng
tiên tiến của Tây Âu, Mỹ và Nhật Bản, cùng với sự kế thừa những điểm phù hợp
trong quản lý chất lượng thời bao cấp và những kinh nghiệm quý giá rút ra
trong 15 năm tực hiện kinh tế thị trường đã hình thành nên cơ sở lý thuyết toàn
diện về quản lý chất lượng của các doanh nghiệp Việt Nam. Có thể khái quát cơ
sở lý thuyết đó như sau:
5
1. lý thuyết về chất lượng sản phẩm
a. Khái niệm.
Có nhiều quan điểm về chất lượng sản phẩm song có một số quan điểm cơ
bản sau:
- Quan điểm tiếp cận theo sản xuất: Chất lượng sản phẩm là những đặc
trưng, đặc tính kinh tế kỹ thuật nội tại phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của
sản phẩm đó, đáp ứng những yêu cầu định trước của sản phẩm trong những điều
kiện xác định về kinh tế - xã hội.
- Quan điểm tiếp cận theo người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự
phù hợp với nhu cầu, với mục đích sử dụng của người tiêu dùng.
- Quan điểm của ISO 9002: Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu,
những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của nó thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu
trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng sản phẩm mà
người tiêu dùng mong muốn.
phẩm thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm. Những đặc tính
khách quan này phụ thuộc rất lớn vào trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm.
Mỗi tính chất được biểu thị bằng các chỉ tiêu cơ lý hoá nhất định cơ thể đo
lường, đánh giá được. Vì vậy, nói đến chất lượng phải đánh giá thông qua hệ
thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. Đặc điểm này khẳng định những sai lầm cho
rằng chất lượng sản phẩm là các chỉ tiêu không thể đo lường, đánh giá được.
Nói đến chất lượng sản phẩm là phải xem xét sản phẩm đó thoả mãn đến
mức độ nào nhu cầu của khách hàng. Mức độ thoả mãn phụ thuộc rất lớn vào
chất lượng thiết kế và những tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra cho mỗi sản phẩm. ở các
nước tư bản qua phân tích thực tế chất lượng sản phẩm trong nhiều năm qua
người ta đi đến kết luận rằng chất lượng sản phẩm tốt hay xấu thì 75% phụ thuộc
vào giải pháp thiết kế, 20% phụ thuộc vào công tác kiểm tra kiểm soát và chỉ có
5% phụ thuộc vào kết quả nghiệm thu cuối cùng.
Chất lượng sản phẩm còn mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêu
dùng. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi vùng đều có thị hiếu tiêu dùng khác nhau.
Một sản phẩm có thể được xem là tốt ở nơi này nhưng lại là không tốt, không
7
phù hợp với nơi khác. Trong kinh doanh không thể có chất lượng như nhau cho
tất cả các vùng mà căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phương án chất
lượng cho phù hợp. Chất lượng chính là sự phù hợp về mọi mặt với yêu cầu của
khách hàng.
Chất lượng sản phẩm thể hiện ở hai cấp độ và phản ánh hai mặt khách
quan, chủ quan hay còn gọi là hai loại chất lượng:
+ Chất lượng trong tuân thủ thiết kế thể hiện ở mức độ sản phẩm đạt được
so với tiêu chuẩn thiết kế đề ra. Khi sản phẩm sản xuất ra có những đặc tính kinh
tế, kỹ thuật càng gần với tiêu chuẩn thiết kế thì chất lượng càng cao, được phản
ánh thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ phế phẩm, sản phẩm không đạt yêu cầu thiết
kế. Loại chất lượng này phản ánh những đặc tính bản chất khách quan của s ản
phẩm do đó liên quan chặt chẽ đếnkhả năng cạnh tranh và chi phí.
gắn liền với tiến bộ khoa hoa công nghệ trên thế giới. Bắt đầu từ cuộc cách
mạng khoa học lần thứ nhất, chủng loại và chất lượng sản phẩm không ngừng
thay đổi với tốc độ tương đối nhanh. Tiến bộ khoa học công nghệ có tác động
như một lực đẩy tạo khả năng đưa chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên.
Nhờ khả năng to lớn của tiến bộ khoa học công nghệ đã sáng chế ra những sản
phẩm mới, tạo ra và đưa vào sản xuất với công nghệ mới có các chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật cao hơn, thay thế nguyên liệu mới tốt hơn và rẻ hơn, hình thành phương
pháp và phương tiện kỹ thuật quản trị tiên tiến góp phần giảm chi phí đồng thời
nâng cao chất lượng sản phẩm, rút ngắn chu kỳ sống sản phẩm, chu kỳ sản xuất
kinh doanh.
- Cơ chế quản lý.
Khả năng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp
phụ thuộc rất chặt chẽ vào cơ chế quản lý của mỗi nước. Cơ chế quản lý vừa là
môi trường vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải
tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp. Kế hoạch hoá phát
triển kinh tế cho phép xác định trình độ chất lượng và mức độ chất lượng tối ưu,
xác định cơ cấu mặt hàng, xây dựng chiến lược con người trong tổ chức phù hợp
với đường lối phát triển chung.
9
Hệ thống giá cả cho phép các doanh nghiệp xác định đúng giá trị sản
phẩm của mình, doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lược cạnh tranh và tìm
mọi cách nâng cao chất lượng sản phẩm mà không sợ bị chèn ép về giá.
Chính sách đầu tư quyết định quy mô và hướng phát triển sản xuất. Dựa
vào đó các nhà sản xuất có kế hoạch đầu tư cho công nghệ, huấn luyện đào tạo
để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Chính sách thương mại về chất lượng, tổ chức hệ thống quản lý chất
lượng đều có những vai trò nhất định đối với chất lượng sản phẩm của các
doanh nghiệp.
Tóm lại, thông qua cơ chế, chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước tạo
chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt. Trình độ công nghệ của cãc doanh
nghiệp không tách rời trình độ công nghệ trên thế giới. Muốn sản phẩm có chất
lượng đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường đặc biệt là thị trường quốc tế mỗi
doanh nghiệp cần có chính sách công nghệ phù hợp cho phép sử dụng những
thành tựu khoa học trên thế giới đồng thời khai thác tốt đa nguồn công nghệ
nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao với chi phí hợp lý.
- Vật tư, nguyên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư nguyên liệu của
doanh nghiệp.
Nguyên vật liệu là yếu tố tham gia trực tiếp cấu thành nên sản phẩm.
Những đặc tính của nguyên liệu sẽ được đưa vào sản phẩm, vì vậy chất lượng
của nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra.
Không thể có chất lượng sản phẩm cao từ những nguyên liệu có chất lượng tồi.
Chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ và chất lượng nguyên vật liệu có ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.
Ngoài ra, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn
vào việc thiết lập hệ thống cung ứng nguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở tạo
dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa con người sản
xuất và người cung ứng, đảm bảo khả năng cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác
đúng nơi cần thiết.
- Trình độ tổ chức quản trị và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
Trình độ quản trị lnói chung và trình độ quản trị chất lượng nói riêng là
một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tốc độ cải tiến, hoàn
11
thiện chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp. Các chuyên gia quản trị chất
lượng đồng tình cho rằng trong thực tế có tới 80% những vấn đề về chất lượng
là do quản trị chất lượng gây ra. Vì vậy, nó đến quản trị chất lượng ngày nay
người ta cho rằng trước hết đó là chất lượng của quản trị.
Các yếu tố của sản xuấta như nguyên liệu, máy móc thiết bị, dây chuyền
sản xuất và người lao động dù ở trình độ nào nhưng nếu không được tổ chức
chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng phương
tiện như lập kế hoạch, điều kiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiền chất
lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng”.
Có thể hiểu quản trị chất lượng là việc ấn định mục tiêu, đề ra nhiệm vụ
và tìm con đường đạt tới, giải quyết nó một cách có hiệu quả nhất. Mục tiêu của
quản trị chất lượng trong các doanh nghiệp là đảm bảo chất lượng sản phẩm
phù hợp với nhu cầu và chi phí tối ưu. Đó chính là sự kết hợp giữa nâng cao
những đặc tính kinh tế, kỹ thuật hữu ích của sản phẩm đồng thời giảm lãng phí
và khai thác mọi tiềm năng để mở rộng thị trường.
b. Bản chất
Thực chất của quản trị chất lượng là một tập hợp các hoạt động của chức
năng quản trị như hoạch định, tổ chức, kiểm và soát điều chỉnh. Đó là một hoạt
động tổng hợp về kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Chỉ khi nào toàn bộ các yếu tố kinh
tế, xã hội, công nghệ và tổ chức được xem xét đầy đủ trong mối quan hệ thống
nhất rằng buộc với nhau trong hệ thống chất lượng mới có cơ sở để nói rằng chất
lượng sản phẩm sẽ được đảm bảo.
Quản trị chất lượng phải được thực hiện thông qua một cơ chế nhất định
bao gồm hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn đặc trưng về kinh tế kỹ thuật biểu thị
mức độ thoả mãn về nhu cầu thị trượng, một hệ thống tổ chức điều kiển về hệ
thống chính sách khuyến khích phát triển chất lượng. Chất lượng được duy trì
đánh giá thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê trong quản trị chất
lượng.
Quan niệm hiện nay về quản trị chất lượng cho rằng vấn đề chất lượng
sản phẩm được đặt ra và giải quyết trong toàn bộ hệ thống bao gồm tất cả các
13