TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN DƯƠNG NGỌC THANH
Đề tài:
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở
HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Khóa học: 2008 – 2012
An Giang, 2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN DƯƠNG NGỌC THANH
Đề tài:
XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở
HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
DỤC GIÁO CHÍNH TRỊ
Nghành học
Cán bộ hướng dẫn
: Sư phạm giáo dục chính trị
: Cử nhân CHAU SÓC KHĂNG
1.1.1. Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần ...................................................... 05
1.1.2. Tính quy luật của quá trình xây dựng đời sống văn hóa tinh thần
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ................................................................. 09
1.2. Nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần và tầm quan trọng
của nó đối với huyện Phú Tân, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay .......... 12
1.2.1. Một số quan điểm cơ bản của Đảng về nhiệm vụ xây dựng đời sống
văn hóa tinh thần ....................................................................................................... 12
1.2.2. Tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần
của huyện Phú Tân, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay ................................... 18
Chương 2: Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần ở huyện Phú Tân,
tỉnh An Giang và một số kiến nghị ........................................................................ 25
2.1. Thực trạng đời sống văn hóa tinh thần ở huyện Phú Tân ...................... 25
2.1.1. Lễ hội ........................................................................................................ 25
2.1.2. Phong tục ................................................................................................... 33
2.1.3. Tôn giáo .................................................................................................... 35
2.1.4. Nghệ thuật ................................................................................................. 37
2.2. Những vấn đề đặt ra và một số kiến nghị đối với việc xây dựng đời
sống văn hóa tinh thần huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay ...................... 38
2.2.1. Những vấn đề đặt ra và nguyên nhân của nó ............................................ 38
2.2.2. Một số kiến nghị đối với việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay ................................................................... 41
Phần kết luận ........................................................................................................... 50
Danh mục tài liệu tham khảo
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa,
Sự xâm nhập của nền văn hóa bên ngoài từ nhiều luồng đã tấn công vào
nền văn hóa dân tộc vốn đã yếu sức đề kháng. Lứa tuổi thanh niên chưa ý thức
đầy đủ về nền văn hóa dân tộc của mình nên dễ tiếp thu văn hóa bên ngoài
2
không có sự chọn lọc, có biểu hiện xu hướng vọng ngoại, quay lưng lại với
những sinh hoạt văn hóa dân tộc.
Việc xã hội hóa những chương trình văn hóa nghệ thuật mang đậm đà
bản sắc văn hóa dân tộc, dù đã đạt được những kết quả khích lệ nhưng vẫn
chưa thu hút được đông đảo công chúng quan tâm thực sự.
Trước tình hình và thực trạng đó, việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ
sở, đặc biệt là xây dựng đời sống văn hóa tinh thần phải được đặt lên vị trí
tương xứng của sự phát triển văn hóa và chiến lược xây dựng con người trong
tình hình mới.
Từ tình hình trên, tôi chọn và thực hiện đề tài: “Xây dựng đời sống văn
hóa tinh thần ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay” làm khóa luận tốt
nghiệp.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
- Gs, Ts. Trần Văn Bính chủ biên Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ
thực trạng và những vấn đề đặt ra (Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội
2004).
- Nguyễn Công Bình và các tác giả, Văn hóa và cư dân đồng bằng sông
Cửu Long, (Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội 1990).
- Ngô Văn Lệ, Một số vấn đề về văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông
Nam Á, (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh 2003).
- Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, (Nhà xuất bản Văn hóa thông
tin Hà Nội 1998).
- Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, (Nhà xuất bản
xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện
nay.
3.3. Nhiệm vụ
Làm rõ những vấn đề lý luận chung về đời sống văn hóa tinh thần và
xây dựng đời sống văn hóa tinh thần trong quá trình trong quá trình đổi mới ở
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay.
Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những mặt tích cực và hạn
chế trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở huyện Phú Tân, tỉnh
An Giang hiện nay.
Đề xuất những giải pháp góp phần giữ gìn, phát triển góp phần xây
dựng đời sống văn hóa tinh thần ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay.
3.4. Phạm vi
Luận văn chỉ nghiên cứu các lĩnh vực hoạt động về lễ hội, phong tục,
tôn giáo, nghệ thuật ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay dưới góc độ
môn chủ nghĩa xã hội.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
những quan điểm cơ bản của Đảng và các phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp
so sánh, tham khảo sử dụng tư liệu của các tác giả, để đi sâu vào trọng tâm các
vấn đề nghiên cứu.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài làm rõ thực trạng của việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay.
4
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần xây dựng đời sống xây
dựng đời sống văn hóa tinh thần ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay.
2.1.3. Về tôn giáo
2.1.4. Về nghệ thuật
2.2. Những vấn đề đang được đặt ra và một số kiến nghị đối với việc xây dựng
đời sống văn hóa tinh thần huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay
2.2.1. Những vấn đề đang được đặt ra và nguyên nhân của nó
5
2.2.2. Một số kiến nghị đối với việc xây dựng đời sống văn hóa tinh
thần ở huyện Phú Tân, tỉnh An Giang hiện nay
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở
HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1. ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ TÍNH QUY LUẬT
CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1.1. Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần
Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa, tùy thuộc vào những
không gian, thời gian khác nhau và những tác giả khác nhau. Điều đó chứng tỏ
tính đa dạng phong phú và tính luôn luôn biến đổi của văn hóa. Văn hóa là
một khái niệm có nội dung rất phong phú và đa dạng, qua đó cho thấy việc xác
định khái niệm văn hóa không đơn giản bởi các tác giả khác nhau thường hiểu
nội dung của nó khác nhau tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và tùy thuộc vào việc
xuất phát từ cứ liệu riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên
cứu.
Năm 1871, E.B.Tylor công bố công trình Văn hóa nguyên thủy ở Luân
mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra đời sống vật chất. Hơn nữa, đó là một
hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà (hiện nay cũng như
hàng ngàn năm về trước) người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ, chỉ để
nhằm duy trì đời sống con người [13; tr.10-11]. Từ đây Mác cho rằng, hành vi
lịch sử đầu tiên của con người là sản xuất vật chất để đáp ứng các nhu cầu ăn,
mặc, ở, đi lại. Trên cơ sở sản xuất vật chất, con người từng bước sáng tạo ra
các giá trị tinh thần, văn hóa xuất hiện. Văn hóa như là sự thăng hoa của quá
trình sản xuất vật chất, là cái để con người khẳng định mình. Và do vậy, bản
chất con người luôn sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Quan niệm của Mác,
Ăngghen về văn hóa đã được V.I.Lênin kế thừa và phát triển. Với V.I.Lênin,
văn hóa luôn gắn liền với phát triển và hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội
[13; tr.11].
Ngày nay, văn hóa thường được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp, văn
hóa nói chung và các nền văn hóa cụ thể. Văn hóa hiểu theo cách khái quát
nhất và rộng nhất có thể coi văn hóa là để chỉ toàn bộ những sáng tạo của con
người về vật chất, về tinh thần và về ứng xử, đó là những sáng tạo và hoạt
động có ích cho cuộc sống con người, cho xã hội loài người và cho thế giới
xung quanh trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, quần thể cộng đồng
và thế giới tâm linh. Còn văn hóa hiểu theo nghĩa riêng, chính là đặc trưng đời
sống mang tính chung cho cộng đồng người, đồng thời là bản sắc riêng khi đối
sánh, phân biệt văn hóa với cộng đồng người khác.
Nhìn chung, tuy có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa nhưng
mọi khái niệm văn hóa đều thống nhất những đặc điểm sau:
Một là, văn hóa bao gồm văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất chứ
không chỉ là văn hóa tinh thần hay văn hóa nghệ thuật.
7
Hai là, văn hóa không chỉ có nghĩa là văn học nghệ thuật như thông
Lễ (tế rước mang màu sắc tâm linh) và Hội (các trò chơi dân gian, vừa thể
hiện tính khéo léo vừa nêu cao tinh thần thượng võ, tính đoàn kết của cộng
đồng).
Lễ hội tưởng nhớ các đối tượng được nhân dân thờ cúng, nó giữ gìn và
phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bên cạnh đó người dân được vui
chơi giải trí, đáp ứng nhu cầu về mặt tâm linh, con người được tham gia vào
8
phần hội, được hòa mình vào cộng đồng để có được sự thoải mái trong tâm
hồn. Ngoài ra lễ hội còn làm đa dạng và phong phú diện mạo đời sống người
dân.
Lễ hội đáp ứng những nhu cầu tinh thần, tâm linh không thể thiếu của
con người như trở về với tự nhiên, cội nguồn, là môi trường để người dân thể
hiện sức mạnh cộng đồng. Nó mang giá trị bảo tồn văn hóa và truyền thống
của dân tộc.
Thứ hai về hoạt động phong tục: là những toàn bộ thói quen của con
người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp được
cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng. Phong tục
không mang tính cố định và bắt buộc như nghi lễ, nghi thức, tuy nhiên nó
cũng không tùy tiện, nhất thời như hoạt động sống thường ngày.
Phong tục của một dân tộc, một địa phương, một tầng lớp xã hội, thậm
chí của một dòng họ và gia tộc, thể hiện qua nhiều chu kỳ khác nhau của đời
sống con người. Hệ thống các phong tục liên quan đến vòng đời của con người
như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão; phong
tục tang ma, cúng giỗ, … Hệ thống các phong tục liên quan đến chu kỳ lao
động của con người, mà với cư dân nông nghiệp là từ làm đất gieo hạt, cấy hái
đến thu hoạch, với ngư dân là theo mùa đánh bắt cá, …
mất đi mà còn phát triển những năng khiếu nghệ thuật tiềm tàng, bẩm sinh ở
mỗi con người. Với ý nghĩa đó, rõ ràng thông qua lĩnh vực hoạt động nghệ
thuật, chức năng giải trí của nghệ thuật không tách rời chức năng giáo dục,
nhằm hoàn thiện con người, phát huy sự sáng tạo của mỗi cá nhân làm bồi bổ,
phát triển trở lại nghệ thuật.
Thứ tư, về lĩnh vực hoạt động tôn giáo: là hoạt động hướng về một thế
giới siêu nghiệm với niềm tin tuyệt đối, sự trông cậy và tình cảm yêu mến đối
với thế giới siêu nghiệm đó [10; tr.38-42].
Tình cảm tôn giáo, dù là tôn giáo lớn hay nhỏ, quốc tế hay quốc gia
(loại trừ những người lợi dụng tôn giáo vì mục đích xấu) thì cũng đều là để
nhằm giải thoát con người. Sự giải thoát đó, tất nhiên tùy theo từng tôn giáo,
từng điều kiện lịch sử mà mang những hình thức khác nhau nhưng đều thể
hiện khát vọng muôn thuở của con người là vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp,
vươn tới tình thương, lẽ phải và sự công bằng trong mọi mặt đời sống, hoạt
động và quan hệ con người.
Hệ thống luân lý, đạo đức mà tôn giáo tạo ra được trong quá trình hình
thành và phát triển của nó, đương nhiên mang dấu ấn lịch sử và giai cấp nhưng
đều có điểm tương đồng, xuyên suốt từ Đông sang Tây, từ cổ đến kim là
hướng tới chân, thiện, mỹ - hệ giá trị phổ quát của mọi nền văn hóa. Trong hệ
giá trị đó, mỗi tôn giáo bằng cách riêng của mình, đã định hình thành những
tiêu chí, những qui tắc tinh thần và khuyên con người đạt tới.
Từ những phân tích về khái niệm, về hình thái tồn tại của văn hóa và
đời sống văn hóa tinh thần cũng như các lĩnh vực hoạt động của đời sống văn
hóa tinh thần nói trên có thể đi đến kết luận rằng, đời sống văn hóa tinh thần
là tổng hòa sống động các hoạt động lễ hội, phong tục, nghệ thuật, tôn giáo
để tạo ra các giá trị và làm cho các giá trị đó thấm sâu vào từng con người,
từng cộng đồng, trở thành yếu tố khăng khít của toàn bộ cuộc sống, hoạt động
10
xã hội, đời sống văn hóa tinh thần có những tính quy luật chủ yếu sau đây:
Một là, tính triệt để, toàn diện của cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
phải xây dựng thành công phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, trên cơ
sở phương thức sản xuất tiên tiến đó sẽ góp phần thay đổi các quan hệ xã hội,
đời sống tinh thần của xã hội.
Hai là, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần trong thời kỳ quá độ là quá
trình cải tạo tâm lý, ý thức và đời sống tình của của chế độ cũ để lại nhằm giải
phóng nhân dân thoát khỏi ảnh hưởng tư tưởng, ý thức xã hội cũ lạc hậu. Mặt
11
khác, còn là một yêu cầu cần thiết trong việc đưa quần chúng nhân dân thật sự
trở thành chủ thể sản xuất và tiêu dùng, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa tinh
thần. Đó là một nhiệm vụ cơ bản, phức tạp, lâu dài. Về thực chất, đây là cuộc
đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực văn hóa.
Ba là, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần trong thời kỳ quá độ là tất
yếu trong quá trình nâng cao trình độ văn hóa cho quần chúng nhân dân lao
động, khắc phục tình trạng thiếu hụt văn hóa. Đây là điều kiện cần thiết để
động đông đảo nhân dân lao động chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, nâng cao
trình độ và nhu cầu văn hóa của quần chúng.
Bốn là, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần trong thời kỳ quá độ xuất
phát từ yêu cầu khách quan: văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Năm là, “xây” và “chống” là hai mặt gắn liền nhau trong sự vận động
và phát triển của đời sống văn hóa tinh thần.
Sáu là, đời sống văn hóa tinh thần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội được hình thành và phát triển thông qua sự giữ gìn, kế thừa và phát huy di
sản văn hóa quý báu của dân tộc và tiếp thu những giá trị văn hóa của nước
ngoài, đồng thời với hai quá trình đó là sáng tạo vun đắp những giá trị mới,
triển toàn diện, hướng tới chân - thiện - mỹ. Một khi có được nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và có những thế hệ con người mới xã hội chủ
nghĩa, thì chắc chắn sẽ có những nguồn động lực thực sự vững mạnh, giữ vai
trò thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đây chính là mối quan hệ giữa xây dựng đời sống văn hóa tinh thần với
việc xây dựng con người mới, nền kinh tế mới, nền văn hóa mới, chế độ chính
trị mới dưới chủ nghĩa xã hội. Không có thế hệ những con người mới vừa
“hồng”, vừa “chuyên” - sản phẩm của quá trình xây dựng đời sống văn hóa
tinh thần theo đúng nghĩa của nó, thì cũng không thể tạo ra động lực để thúc
đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội được.
1.2. NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH
AN GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.2.1. Một số quan điểm cơ bản của Đảng về nhiệm vụ xây
dựng đời sống văn hóa tinh thần
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một hệ thống các quan điểm lý
luận mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa
Việt Nam. Nó chắc lọc, tổng hợp và kết tinh được những giá trị văn hóa của
phương Đông và phương Tây, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế
trong đó cốt lõi là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa và bản
sắc dân tộc Việt Nam [15; tr.13].
Nét đặc sắc nổi bật trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là sự kết hợp
hài hòa giữa dân tộc với quốc tế, giai cấp với nhân loại, truyền thống với hiện
đại, trên cơ sở một chủ nghĩa nhân văn tất cả vì hạnh phúc của con người, tất
cả vì sự hoàn thiện con người. Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là một di sản
vô giá, là những giá trị vĩnh cửu mà Người để lại cho dân tộc mình và cho
nhân loại. Những tư tưởng ấy không chỉ nằm trong những bài nói, mà còn nằm
trong toàn bộ hoạt động thực tiễn, trong cuộc sống, trong con người Hồ Chí
Minh, và quan trọng hơn là trong phong trào cách mạng của cả một dân tộc,
trên mặt trận ấy” [1; tr.139].
Trong khi các nhà văn hóa trên thế giới còn bàn cãi về khái niệm văn
hóa, đưa ra hàng trăm định nghĩa khác nhau, thì mấy ai biết từ năm 1942, Chủ
tịch Hồ Chí Minh có một định nghĩa rất đúng về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử
dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự
tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà
loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi
14
của sự sinh tồn” [5; tr.409]. Đây là một định nghĩa đúng nhất về khái niệm văn
hóa, được ghi nhận trong trang cuối của bản thảo Nhật kí trong tù, không quá
rộng, cũng không quá hẹp mà hoàn toàn thích hợp với con người ở những
trình độ phát triển khác nhau, ở những xã hội chưa có điều kiện phát triển cao,
cũng như xã hội có cuộc sống cao.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cần phải xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở
hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa. Tư tưởng văn hóa Hồ
Chí Minh đặc biệt quan tâm tới địa chỉ đích thực, diện mạo và bản sắc của văn
hóa, đó là tính dân tộc. Trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, Người thường nói
đến “cốt cách dân tộc”, “đặc tính dân tộc”. Người đã viết rằng: “Mỗi dân tộc
phải chăm lo đặc tính dân tộc của mình trong văn nghệ” [7; tr.93]. Văn hóa
phải biết kết hợp với văn minh. Trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, văn
minh không hoàn toàn trùng khít lên văn hóa. Coi văn minh là một trình độ,
một cơ cấu kĩ thuật của xã hội và văn hóa là trình độ người, là giá trị người
của các quan hệ xã hội [11; tr.96].
Xuất phát từ quan niệm đúng đắn đó về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng ta, đặc biệt trong Đề cương văn hóa Việt
Nam (năm 1943) và trong nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa.
Nó mãi mãi là ánh sáng soi đường cho công cuộc xây dựng và phát triển nền
văn hóa nước ta.
Nối tiếp Đề cương văn hóa 1943, năm 1948, đồng chí Trường Chinh
công bố tác phẩm Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam ở Hội nghị văn hóa
toàn quốc lần thứ hai. Với bảy phần: Văn hóa và xã hội, lập trường văn hóa
mácxít, văn hóa Việt Nam xưa và nay, tính chất và nhiệm vụ văn hóa dân chủ
mới Việt Nam, mặt trận văn hóa thống nhất trong mặt trận dân tộc thống nhất,
văn hóa Việt Nam trong mặt trận văn hóa dân chủ thế giới và mấy vấn đề cụ
thể trong văn học và nghệ thuật nước ta hiện nay. Tác phẩm này có giá trị như
Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Sự thật trong lần in thứ ba: “Từ đó đến nay,
26 năm đã trôi qua. Xã hội Việt Nam, cách mạng Việt Nam, văn hóa dân tộc
Việt Nam đã có nhiều biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh mẽ theo đường lối
của Đảng.
Những ý kiến của đồng chí Trường Chinh nêu trong bản báo cáo về
mối quan hệ giữa văn hóa và xã hội, về lập trường văn hóa mácxit, về ưu điểm
và nhược điểm văn hóa dân tộc, về tính chất và nhiệm vụ văn hóa dân chủ mới
Việt Nam, về mặt trận văn hóa thống nhất, … Vẫn giữ nguyên giá trị, soi sáng
bước đường văn hóa của nước ta” [6; tr.23]. Trong tác phẩm, khái niệm văn
hóa được đồng chí Trường Chinh mở rộng hơn: đó là một vấn đề rất lớn, bao
gồm cả văn hoc, nghệ thuật, khoa học, triết học, phong tục, tôn giáo, … Lĩnh
vực mà Đảng ta quan tâm nhiều hơn cả lúc bấy giờ khi nói về văn hóa là đời
sống tinh thần và lối sống dân tộc, đặc biệt đối với văn học nghệ thuật – hay
nghệ thuật nói chung, bao gồm cả nghệ thuật ngôn từ, bởi đây là lĩnh vực có
nhiều đặc thù mà các lĩnh vực khác không có.
Từ tính chất của nền văn hóa mới Việt Nam mà Đề cương văn hóa
1943 trình bày: “Văn hóa mới Việt Nam là một thứ văn hóa có tính chất dân
tộc về hình thức và dân chủ về nội dung” [6; tr.23]. Sau này, Đảng ta khẳng
định nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa và
phong mỹ tục, xây dựng gia đình có văn hóa, hạnh phúc.
Ba là, Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa; nghiêm cấm
các hoạt động văn hóa tổn hại cho lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo
đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam.
Tháng 1-1993, Ban chấp hành Trung ương khóa VII họp hội nghị lần
thứ tư dành riêng một nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ những
năm trước mắt. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung
ương khóa VII, đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội” [6; tr.25]. Tiếp đó, Bộ
Chính trị ra nghị quyết 09 về các định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện
nay, xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, là động lực
thúc đẩy sự phát triển, là mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội. Trong 6 định
hướng về công tác tư tưởng, có một định hướng lớn là phát triển văn hóa với
17
hai nội dung cơ bản: phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại. Điều đó chứng tỏ quan điểm đúng đắn về văn hóa và vai trò của
văn hóa đối với phát triển.
Năm 1998, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII họp Hội nghị lần thứ
năm đề ra Nghị quyết Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bản Nghị quyết gồm ba phần:
Phần thứ nhất đề cập về thực trạng văn hóa nước ta: những thành tựu,
những mặt yếu kém, những nguyên nhân chủ yếu. Phần thứ hai đề cập phương
hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa; năm quan điểm chỉ đạo cơ
bản; những nhiệm vụ cụ thể với 10 nhiệm vụ và những nhiệm vụ cấp bách đến
năm 2000. Phần thứ ba là những giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa,
gồm bốn giải pháp: mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với
thi đua yêu nước và phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
Thứ năm, Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là
một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên
trì thận trọng.
Tiếp theo đến Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định:
“Tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy
truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại”[15; tr.115] Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng
và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Gắn
kết chặt chẽ văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu
vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách
người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [3; tr.284]
Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng ta luôn xác định văn hóa là mặt
trận mà Đảng phải lãnh đạo. Đường lối về văn hóa văn nghệ của Đảng đến
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
đã định hình, đến Đại hội lần thứ IX, X tiếp khẳng định lại tầm quan trọng của
văn hóa. Trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân hiện nay là xây dựng và phát
triển một nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
1.2.2. Tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng đời sống văn
hóa tinh thần của huyện Phú Tân, tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay
Văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực sinh hoạt xã hội, có thể nói đến văn
hóa sản xuất, văn hóa nếp sống và phục vụ, văn hóa quản lý, … Trong mỗi
lĩnh vực thực tiễn xã hội, đặc tính văn hóa đều biểu hiện sức sáng tạo của con
người dưới một dạng hoạt động nào đó của nó. Hoạt động này được thực hiện
trong những hình thức sản xuất vật chất và tinh thần mang tính lịch sử – xã
hội. Sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần tương ứng được xem như hai lĩnh
vực cơ bản của sự phát triển văn hóa
Văn hóa tinh thần (hay văn hóa phi vật thể) là loại văn hóa bao gồm các
giá trị tinh thần đã được thừa nhận. Văn hóa tinh thần tồn tại dưới dạng những
sản phẩm đã thành thạo các hoạt động tinh thần: tri thức khoa học, tác phẩm
nghệ thuật, những chuẩn mực đạo đức và pháp quyền, … Văn hóa tinh thần
để con người có thể kiềm chế được những nhu cầu thấp kém của mình. Bởi
trong những hoàn cảnh cụ thể hành động của con người sẽ được chấp nhận,
tuy nhiên chỉ ở mức nhất định nào đó. Văn hóa sẽ là thước đo để đánh giá
hành vi của con người thông qua các hoạt động của con người trong cuộc
sống.
Trong giai đoạn hiện nay, văn hóa còn có ảnh hưởng rất quan trọng đối
với sự phát triển đất nước. Vai trò văn hóa ngày càng được coi trọng đối với
sự phát triển kinh tế – xã hội. Văn hóa vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự
phát triển. Ngày nay, vấn đề phát triển là vấn hàng đầu của mọi quốc gia, đồng
thời là thách thức hết sức gay gắt đối với toàn nhân loại. Cần phát huy những
nguồn lực nào để phát triển và làm gì để ngăn ngừa những tiêu cực phát sinh
trong quá trình phát triển đang là câu hỏi lớn đối với từng quốc gia. Chính
trong điều kiện đó, vai trò của văn hóa được thừa nhận một cách chính xác.
Những ý kiến coi văn hóa đứng ngoài kinh tế hay lệ thuộc một cách thụ động
vào kinh tế không còn được chấp nhận. Tuy nhiên, không vì vậy mà đặt vị trí
văn hóa cao hơn kinh tế mà cần đặt chúng trong sự gắn bó để cùng hướng tới
20
mục tiêu phát triển. Những thành tựu hoặc vấp váp trong quá trình phát triển
kinh tế – xã hội ở nhiều nước trên thế giới đều chứng minh tầm quan trọng của
nhân tố văn hóa, trước hết là có bảo vệ, phát triển được hay không những tiềm
năng phong phú và đặc sắc của văn hóa dân tộc đối với sự phát triển của đất
nước. Sự đúng đắn hay sai lạc trong định hướng phát triển văn hóa đều đưa
đến thành công hay thất bại không riêng cho văn hóa mà cho cả kinh tế và mọi
mặt khác của đới sống xã hội, đặc biệt là về tư tưởng, đạo đức, lối sống.
Ở Viêt Nam hiện nay, giao lưu văn hóa là quy luật tồn tại và phát triển
của mọi nền văn hóa và mọi xã hội từ xưa đến nay. Bởi không có nền văn hóa
nào dù lớn hay có ảnh hưởng sâu rộng đến đâu lại có thể tiếp tục phát triển
sản xuất quanh năm, nhộn nhịp nhất là tháng giáp Tết. Các kỳ hội chợ hay
triển lãm tại An Giang, Cần Thơ hoặc thành phố Hồ Chí Minh, bánh phồng
Phú Mỹ đều có mặt trong gian hàng trưng bày sản phẩm đặc sản của An
Giang. Làng bánh phồng Phú Mỹ đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang
công nhận làng nghề truyền thống vào cuối năm 2006. Nếu có dịp đến An
Giang, bánh phồng Phú Mỹ là một món quà rất có ý nghĩa để du khách mang
về làm quà cho người thân [14].
Khái quát về con người Phú – Tân – An Giang
Với đặc điểm sinh thái địa lí vừa thuận lợi vừa khó khăn của vùng đất
Miền Nam, quá trình đấu tranh cho cuộc sống mới đã để lại những dấu ấn
riêng. Trong đời sống văn hóa và tâm linh của những lưu dân người Việt vừa
kế thừa và phát huy những tôn giáo đã du nhập vào Việt Nam trước đó như:
Kito giáo, Phật giáo, Hồi giáo, ... Vừa góp phần tạo nên một bản sắc Nam Bộ
mà đặc biệt là sự hình thành những tôn giáo bản địa từ nữa cuối thế kỷ XIX
đến quá đầu thế kỷ XX: Bửu Sơn Kì Hương, Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu
Nghĩa, Đạo Dừa, …
Do đặc điểm của người dân Nam bộ là “ăn ngay nói thẳng” nên những
từ ngữ, hình ảnh của họ dùng mang tính hình tượng rất cao để dễ diễn đạt ý
muốn nói. Đặc trưng của ngôn ngữ Nam Bộ là giàu tính hình tượng cụ thể,
giàu hình ảnh và giàu chất hài.Tính giàu hình tượng cụ thể, có thể là một đặc
trưng của ngôn ngữ Nam Bộ.
Nói đến nghệ thuật ca hát dân ca cổ truyền Nam Bộ chúng ta sẽ nghĩ
ngay đến các loại hình nghệ thuật phổ biến như: Đờn ca tài tử, cải lương,
tuồng, ... Và một kho tàng dân ca nhạc cổ phong phú. Có được kho tàng âm
nhạc độc đáo như vậy cũng nhờ Nam Bộ có sự đa dạng và hài hòa giữa con
người và thiên nhiên. Lễ hội Nam Bộ còn có nội dung tưởng niệm những anh
hùng lịch sử địa phương thời cận đại, những người có công khai hoang mở
đất, bảo vệ đất nước (Nguyễn Trung Trực, Trương Định, …) bắt nguồn từ nhu
cầu bảo đảm liên kết cộng đồng để sống còn trước những thử thách nghiệt ngã