Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay, nếu thương mại được cho là nhựa sống của
kinh tế thế giới thì vận tải biển được coi là mạch máu lưu thông những dòng nhựa đó.
Trong xu thế chung đó, dù vận tải biển chiếm 80% lưu lượng xuất nhập khẩu của Việt
Nam, nhưng đội tàu trong nước nhận được hợp đồng vận tải rất ít. Tất cả các doanh
nghiệp đang cạnh tranh với nhau gay gắt, Công ty vận tải biển Vinalines không phải là
một ngoại lệ.
Công ty vận tải biển Vinalines trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, tuy mới
được thành lập, nhưng công ty đã chứng tỏ được năng lực của mình thông qua thực hiện
tốt các công việc được giao từ Tổng công ty và hoàn thành xuất sắc các bản hợp đồng
với các đối tác. Công ty là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải nên đặc
điểm kinh doanh cũng có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh. Từ đó dẫn đến đặc điểm hoạt động tài chính của các công ty cũng khác biệt so
với các ngành sản xuất vật chất. Tuy tỷ trọng TSLĐ trong công ty nhỏ hơn so với TSCĐ
nhưng loại TS này lại chiếm một vị trí quan trọng không kém gì TSCĐ. Trong bất kỳ
một doanh nghiệp nào quản lý TSLĐ luôn là một trong ba vấn đề trọng tâm của quản lý
tài chính. TSLĐ nếu được sử dụng một cách hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng TS, từ đó sẽ góp phần giúp công ty phát triển, khẳng định vị trí của công ty trên thị
trường. Đối với Công ty vận tải biển Vinalines, một công ty mới được tách ra khỏi Tổng
công ty Hàng hải Việt Nam thì vấn đề sử dụng TSLĐ cũng chiếm một vị trí quan trọng.
Trong thời gian thực tập tại Công ty em nhận thấy được tầm quan trọng đó và những mặt
hạn chế của công tác quản lý TSLĐ, do đó em đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử
dụng TSLĐ tại Công ty vận tải biển Vinalines” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình.
Chuyên đề được cấu trúc thành 3 chương:
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
1
Chương I: Khái quát về tài sản lưu động và hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
trong doanh nghiệp.
Chương này đề cập đến những điểm cơ bản về liên quan đến lý thuyết về doanh
1.1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp.
• Khái niệm doanh nghiệp:
Trong một nền kinh tế tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập. Chính các chủ thể kinh
tế đã tạo ra của cải vật chất cho xã hội, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế phát triển, trong
đó các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng và cũng chính là bộ phận thực hiện các mục
tiêu kinh tế quan trọng của một quốc gia. Vậy doanh nghiệp là gì? Sau đây là một vài
khái niệm về doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh
doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu.
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có
nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải
các cá nhân.
(Theo Luật doanh nghiệp): Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
• Các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam
Ở Việt Nam nền kinh tế đang được phát triển theo hướng đa dạng hình thức sở hữu
và doanh nghiệp cũng bao gồm các loại hình: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
3
nhân. Các loại hình doanh nghiệp trên phân biệt với nhau ở hình thức sở hữu và phạm vi
trách nhiệm, chẳng hạn như: với doanh nghiệp nhà nước vốn do Nhà nước nắm giữ
100%, còn các loại hình còn lại vốn có thể là do nhiều cá nhân góp lại. Hình thức doanh
nghiệp phổ biến nhất hiện nay và cũng là xu hướng đó là công ty cổ phần. Bởi vì loại
hình này có những ưu điểm như: công ty do nhiều cổ đông góp vốn như vậy việc huy
động vốn sẽ dễ dàng hơn, đồng thời các cổ đông có quyền và nghĩa vụ đối với công ty.
Phần lợi tức mà họ nhận được phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả kinh doanh. Thêm vào
thuộc vào số lượng cổ đông, và trách nhiệm của công ty là hữu hạn.
Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với
quy mô và trình độ phát triển nhất định. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt
động dưới hình thức công ty, đây cũng chính là loại hình phát triển nhất của doanh
nghiệp.
• Môi trường hoạt động của doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp trong giai đoạn nền kinh tế thị trường đều phải hoạt động trong
một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Muốn đứng vững và phát triển được bản thân mỗi
DN phải thích ứng với tất cả những nhân tố bên ngoài, có thể kể đến đó là khoa học công
nghệ, chính sách của Nhà nước… Các nhân tố đó tác động trực tiếp đến các doanh
nghiệp. Khoa học công nghệ là đòn bẩy giúp nền kinh tế phát triển bởi nó làm thay đổi
phương thức sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động. Vậy các DN phải làm sao áp
dụng công nghệ một cách kịp thời để không bị lạc hậu so với các DN khác. Hay chính
sách của Nhà nước tác động mạnh mẽ tới hoạt động của DN bởi vì một chính sách nới
lỏng hay thắt chặt sẽ có thể khuyến khích hoặc hạn chế doanh nghiệp trong việc sản
xuất, kinh doanh một loại hàng hóa nào đó. Từ đó tác động tới doanh thu và lợi nhuận
của doanh nghiệp. Mặt khác phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh nên buộc mỗi
doanh nghiệp phải dự tính được rủi ro, đồng thời phải có biện pháp nâng cao chất lượng,
mẫu mã… để có thể chiến thắng các đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp cũng đồng thời
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
5
phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn.
Tóm lại doanh nghiệp trong thời kì hiện nay luôn phải cạnh tranh nhau một cách khốc
liệt để đứng vững và quan trọng hơn đó chính là việc dự đoán được các rủi ro tài chính
có thể xảy ra để có những quyết định quản lý phù hợp.
1.2. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp
Một doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có phải có hai
khoản mục là tài sản và nguồn vốn. Khoản mục tài sản nằm bên phải trái bảng cân đối kế
toán. Vậy tài sản được hiểu như thế nào?
• Khái niệm tài sản: Tài sản là khoản mục nằm bên trái bảng cân đối kế toán
TSCĐ là những tài sản thoả mãn đồng thời hai điều kiện: có thời gian sử dụng từ
một năm trở lên, và có giá trị từ mười triệu đồng trở lên.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu và có đặc điểm cơ bản là tham
gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, không có sự thay đổi về hình thái vật chất từ chu kỳ sản
xuất đầu tiên cho đến khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất. Mọi tư liệu lao động là tài
sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẻ liên kết
với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một
bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được.
Qua khái niệm về tài sản cố định ta thấy những tư liệu lao động được coi là tài sản
cố định khi đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn sau:
Tiêu chuẩn về thời gian: Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
Tiêu chuẩn về giá trị: Những tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên
Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay, khi khoa học đã trở thành một
lực lượng sản xuất trực tiếp thì khái niệm về tài sản cố định cũng được mở rộng nó bao
gồm cả những tài sản cố định không có hình thái vật chất. Loại này là những chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra cũng đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn nêu trên và thường bao gồm:
chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về bằng phát minh sáng chế…
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
7
Tài sản cố định là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của bất kỳ một
doanh nghiệp. Dù là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
thương mại dịch vụ, tài sản đóng vai trò không thể thiếu đối với các doanh nghiệp nhất
là khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển hiện nay. Các doanh nghiệp ra sức hiện
đại hoá tài sản cố định nhằm nâng cao năng lực sản xuất của mình. Tuy nhiên tỷ trọng
của tài sản cố định trong tổng tài sản ở từng doanh nghiệp khác nhau cũng có sự khác
nhau do đặc điểm ngành nghề kinh doanh chẳng hạn như: đối với các doanh nghiệp sản
xuất tài sản cố định chiếm chủ yếu trong tổng tài sản. Còn đối với các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, tài sản cố định chiếm một phần không lớn vì
hoạt động của họ chủ yếu là sử dụng tài sản lưu động, tuy nhiên vai trò của tài sản cố
định cũng hết sức quan trọng nó cũng góp phần lớn vào việc tạo ra lợi nhuận cho doanh
động được hiểu là gì?
2.1.Khái niệm tài sản lưu động (TSLĐ)
TSLĐ là tất cả những tài sản ngắn hạn, và thường xuyên luân chuyển trong quá
trình kinh doanh. Tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh,
thay đổi hình thái vật chất và chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm được sản xuất.
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất, kinh doanh tiến
hành bình thường đều phải cần có tài sản lưu động. Trong suốt quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp tài sản lưu động được phân bổ. Việc dự tính lượng tài sản lưu
động hay nói cách khác quá trình quản lý và sử dụng tài sản lưu động là một việc hết sức
quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Đối với bất kì một doanh nghiệp nào
tài sản lưu động được xem là lượng tiền ứng trước nhằm thỏa mãn nhu cầu về các đối
tượng lao động. Do tài sản lưu động tồn tại ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh nên nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động đó diễn ra một cách liên tục. Nếu sử dụng
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
9
một cách hợp lý tài sản lưu động thì quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ
bị gián đoạn, làm tăng chi phí và làm quá trình sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng xấu.
Nhu cầu về tài sản lưu động của doanh nghiệp khác nhau là khác nhau. Cơ cấu tài
sản lưu động trong tổng tài sản phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ví dụ như đối với
doanh nghiệp thương mại TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn hơn so với TSCĐ nhưng trong một
doanh nghiệp sản xuất thì điều này lại ngược lại. Cơ cấu về tài sản lưu động còn cho biết
tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp, về khả năng thanh toán và các rủi ro tài
chính của doanh nghiệp.
2.2.Phân loại TSLĐ
Tài sản lưu động được phân loại theo nhiều cách theo các tiêu thức khác nhau:
2.2.1. Phân loại theo lĩnh vực tham gia luân chuyển
TSLĐ được phân thành: TSLĐ sản xuất, TSLĐ lưu thông, TSLĐ tài chính, TSLĐ
dự trữ
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm những tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất
(nguyên, nhiên vật liệu công cụ dụng cụ…đang dự trữ trong kho) và tài sản trong sản
hội đầu tư kiếm lời đến nếu có đủ lượng tiền sẽ đem đến doanh nghiệp những khoản lợi
lớn.
Thứ tư: Việc nắm giữ tiền mặt đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến
động không lường trước được của các luồng tiền vào và ra. Loại tiền này tạo nên số dư
dự phòng.
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
11
Thứ năm: Doanh nghiệp có thể được hưởng lợi thế trong việc thương lượng khi
mua hàng khi có một lượng tiền mặt đủ lớn trong doanh nghiệp. Loại tiền này tạo nên số
dư đầu cơ.
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp việc giữ tiền mặt trong doanh
nghiệp có lợi thế sau: Do có đủ lượng tiền mặt thanh toán tiền trước hoặc thanh toán
đúng hạn nên khi doanh nghiệp mua hàng hoá dịch vụ có thể được hưởng lợi thế chiết
khấu. Việc nắm giữ tiền mặt ở mức hợp lý làm cho khả năng thanh toán ngắn hạn được
duy trì tốt giúp có thể mua hàng với những điều kiện thuận lợi và được hưởng mức tín
dụng rộng rãi. Thêm vào đó khi có đủ lượng tiền mặt cũng giúp doanh nghiệp có thể ứng
phó kịp thời với các nhu cầu trong chiến dịch Marketting của đối thủ cạnh tranh cũng
như với những trường hợp khẩn cấp như: hỏa hoạn, đình công, hay vượt qua khó khăn
do các yếu tố thiên nhiên; thời vụ; hay chu kỳ kinh doanh
Quản lý tiền mặt
Quản lý tiền mặt liên quan chặt chẽ tới việc quản lý các loại tài sản gắn liền với tiền
mặt như các chứng khoán có khả năng thanh khoản cao.
Các loại chứng khoán gần như tiền mặt có vai trò như là bước đệm của tiền mặt,
khi lượng tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào các chứng khoán thanh khoản,
khi cần có thể chuyển chúng thành tiền mặt mà ít tốn kém chi phí. Các nhà quản trị tài
chính sử dụng những chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì lượng tiền
mặt mong muốn. Ta có thể thấy được điều này qua sơ đồ luân chuyển sau:
Doanh nghiệp sẽ phải bán các chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao nếu
lượng tiền mặt dự trữ không đủ đáp ứng nhu cầu. Ở đây chúng ta cũng áp dụng mô hình
quản lý dự trữ EOQ để xác định lượng dự trữ tiền mặt tối ưu. Trong đó chi phí cho việc
b
: Phương sai của thu chi ngân quỹ.
i : Lãi suất.
Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau:Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
13
i
CM
bn
..2
Obj115Obj116
Thứ hai: Các khoản phải thu
Các khoản phải thu hay còn gọi là các khoản tín dụng thương mại. Khoản phải thu
xuất hiện khi doanh nghiệp bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ trả tiền sau, chưa nhận được
tiền ngay khi bán hàng. Khoản phải thu bao gồm các khoản phải thu khách hàng, trả
trước cho người bán, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản
phải thu khác.
Để giành lợi thế trong kinh doanh các doanh nghiệp có thể có các chiến lược khác
nhau như: quảng cáo, tập trung vào chất lượng sản phẩm…Trong nền kinh tế cạnh tranh
gay gắt thì việc phát triển mạng lưới khách hàng giúp cho doanh nghiệp đứng vững trên
thị trường. Do vậy khi tiến hành sản xuất doanh nghiệp cần phải có các mối quan hệ
rộng rãi nhằm tiêu thụ được sản phẩm vì vậy việc mua bán chịu cho các khách hàng tin
cậy là không thể thiếu. Việc bán chịu tạo ra các lợi thế như sau:
Thứ nhất: Tín dụng thương mại tác động đến doanh thu bán hàng do với chính sách
này thì doanh nghiệp sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn và số tiền trả chậm bị khách
hàng chiếm dụng nên doanh nghiệp sẽ quy định giá cao hơn,
Thứ hai: Chính sách bán chịu sẽ khuyến khích việc bán hàng hóa, do vậy hàng tồn
kho sẽ giảm xuống, từ đó tín dụng thương mại làm giảm chi phí tồn kho của doanh
Nếu các điều kiện kinh tế không thuận lợi thì khả năng trả nợ, khả năng về vốn
cũng giảm xuống, điều đó sẽ ảnh hưởng đến quyết đinh tới chính sách tín dụng
thương mại của doanh nghiệp đối với khách hàng.
Phân tích các khoản tín dụng được đề nghị: Việc phân tích đánh giá khoản tín
dụng thương mại được đề nghị để quyết định nên cấp hay không được dựa vào việc
tính NPV của khách hàng. Tuy nhiên khi sử dụng chỉ tiêu này thì doanh nghiệp phải
tính tới các rủi ro và chi phí trong việc cấp tín dụng thương mại như: rủi ro trong
việc không thể thu hồi được nợ…
Nếu NPV > 0 thì doanh nghiệp sẽ cấp tín dụng thương mại cho khách hàng
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
15
Nếu NPV < 0 thì doanh nghiệp sẽ không cấp tín dụng thương mại cho khách
hàng
Nếu NPV = 0 Doanh nghiệp sẽ xem xét kèm theo các điều kiện khác rồi sẽ
quyết định có cấp tín dụng thương mại hay không.
Theo dõi các khoản phải thu: Muốn quản lý tốt cũng như sử dụng chính sách tín
dụng thương mại một cách có hiệu quả, các nhà quản lý phải theo dõi các khoản
phải thu, để xác định được đúng thực trạng của chúng. Trên cơ sở đó có thể thay
đổi chính sách tín dụng thương mại kịp thời. Thông thường người ta dựa vào các
chỉ tiêu, phương pháp, mô hình sau:
Khi kì thu tiền bình quân tăng lên mà doanh thu không tăng tức là các khoản phải
thu tăng lên, điều đó có nghĩa vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng ở khâu thanh toán, hay
doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn.
- Sắp xếp “tuổi” các khoản phải thu: theo phương pháp này các nhà quản lý sắp xếp
các khoản phải thu theo độ dài thời gian để tiện theo dõi và có biện pháp thu nợ khi đến
hạn. Nếu làm công việc này tốt sẽ giảm thiểu được những rủi ro về sự biến động các
khoản nợ về mặt thời gian.
- Xác định số dư các khoản phải thu: Phương pháp này ngược với phương pháp sắp
xếp theo “tuổi” các khoản nợ. Theo phương pháp này, các khoản phải thu sẽ không
phải chịu ảnh hưởng của yếu tố thay đổi theo mùa vụ của doanh số bán. Sử dụng
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
17
Dự trữ và tồn kho đối với một doanh nghiệp là không thể tránh khỏi. Điều quan
trọng ở đây là các nhà quản lý tài chính phải có phương pháp quản lý tồn kho một cách
hiệu quả đảm bảo lượng tồn kho là hợp lý để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình
thường, nhưng cũng không quá nhiều làm tăng chi phí lưu kho.
Có nhiều phương pháp quản lý hàng tồn kho nhưng ở đây chúng ta chỉ đề cập đến
một số các phương pháp như sau:
Quản lý hàng tồn kho theo phương pháp cổ điển- EOQ
Mô hình được giả định những lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau. Khi doanh
nghiệp tiến hành dự trữ hàng hoá sẽ kéo theo hàng loạt các chi phí như chi phí bốc xếp
hàng hoá, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm… nhưng nói chung có hai loại chi phí
chính:
- Chi phí lưu kho: đây là những chi phí liên quan tới việc tồn trữ hàng hoá bao gồm
chi phí hoạt động (chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng hoá, chi phí hao hụt
mất mát, chi phí bảo quản…); chi phí tài chính (trả lãi tiền vay, chi phí về thuế, khấu
hao…).
- Chi phí đặt hàng (chi phí hợp đồng): bao gồm chi phí quản lý giao dịch và vận
chuyển hàng hoá. Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn định không
phụ thuộc vào số lượng hàng hoá được mua.
Gọi Q là số lượng mỗi lần cung ứng hàng hoá thì dự trữ trung bình sẽ là Q/2.
Gọi C
1
là chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá thì tổng chi phí lưu kho của doanh
nghiệp là
Nếu gọi D là toàn bộ lượng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời gian
( tháng, quý, năm) thì số lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q. Gọi C
2
là chi phí mỗi
lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là:
trữ nào đó của doanh nghiệp và phải kết hợp với các phương pháp quản lý khác.
Thứ tư: Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm đầu tư chứng khoán ngắn hạn có khả năng
thanh khoản cao, đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn... Đây là tài
sản có tính thanh khoản cao của doanh nghiệp nhưng vẫn có khả năng sinh lời cho doanh
nghiệp hơn là việc giữ tiền mặt. Khi có nhu cầu thanh toán doanh nghiệp sẽ bán các chứng
khoán này.
Thứ năm: Tài sản lưu động khác
Tài sản lưu động khác bao gồm các khoản tạm ứng chưa thanh toán, chi phí trả trước, chi
phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý và các khoản thế chấp, kí cược, kí quỹ…
Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mục trên trong tài
sản lưu động của doanh nghiệp. Thường các doanh nghiệp chỉ có ba mục chính đó là :
ngân quỹ, phải thu và tồn kho và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn.
1.3. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
3.1.Khái quát về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
1.3.1.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Trong thực tế đời sống cụm từ hiệu quả được sử dụng rất nhiều. Hiệu quả theo cách
hiểu thông thường chính là việc bỏ ra một chi phí ít nhất nhưng lại đem lại kết quả
cao nhất. Điều đó có nghĩa là có nhiều cách để làm một việc gì đó, tuy nhiên cách
làm mà ít tốn chi phí nhất nhưng vẫn mang lại kết quả tương tự như khi dùng các
cách làm khác. Trong việc sử dụng tài sản cũng vậy, các nhà quản lý đều quan tâm
đến việc sử dụng tài sản làm sao cho hiệu quả nhất. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu
sẽ tập trung vào hiệu quả sử dụng TSLĐ. Vậy hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là
gì?
20
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động: là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực
khai thác và sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi phí.
1.3.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ
3.2.1. Các nhân tố chủ quan
• Khả năng quản lý doanh nghiệp: Việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động là cần
thiết đòi hỏi trình độ cán bộ phải hiểu biết và có chuyên môn cao trong lĩnh vực
quản lý. Đó là khả năng lập kế hoạch sản xuất và dự trữ. Người quản lý phải tính
toán và dự tính được nhu cầu cũng như những biến động trong tương lai để đưa ra
một kế hoạch phù hợp. Trong quá trình sử dụng tài sản lưu động cần phải quản lý
sao cho không bị lệch kế hoạch cũng như phù hợp với tình hình phát triển kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy trình độ quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng
quyết định tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
• Trình độ nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là một nhân tố quan trọng chính trong
bất cứ doanh nghiệp nào. Đó là một trong những nhân tố quyết định trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhân lực chính là những người góp
phần tạo dựng chính sách sử dụng, quản lý và thực hiện chính sách đó. Như vậy
sẽ góp phần quyết định hiệu quả của việc sử dụng TSLĐ. Nếu doanh nghiệp có
một đội ngũ nhân viên có đủ trình độ và năng lực sẽ đưa ra được những chính
sách và phương pháp sử dụng tài sản lưu động một cách hiệu quả nhất.
• Kế hoạch sản xuất và tiêu thụ hàng hoá: Kế hoạch này liên quan đến kế hoạch dự
trữ. Những doanh nghiệp khác nhau có năng lực sản xuất và năng lực tài chính
khác nhau. Do đó ở từng thời kỳ khác nhau thì lượng dự trữ, và tồn kho của
doanh nghiệp là khác nhau từ đó dẫn đến lượng tài sản lưu động cũng khác nhau.
• Ngành nghề kinh doanh:
22
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Ngành nghề quyết định tới cơ cấu TSLĐ trong tổng TS. Mà nhu cầu TSLĐ trong tổng
tài sản đối với những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau là khác nhau.
Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chuyên sản xuất có tỷ trọng tài sản lưu
động trong tổng tài sản nhỏ hơn so với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương
mại. Từ sự khác biệt đó dẫn tới việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động cũng khác nhau,
và hiệu quả sử dụng cũng khác nhau.
• Cơ sở hạ tầng: Khi doanh nghiệp có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo sẽ giúp
chính sách quản lý và sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp. Có thể đó là các chính sách tác
động làm thay đổi nguồn tài trợ TSLĐ, hoặc có thể tác động tới kế hoạch sản xuất kinh
doanh, dự trữ của doanh nghiệp. Ví dụ như: Khi lạm phát cao buộc chính phủ phải tăng
lãi suất tiền gửi tiết kiệm đồng nghĩa với lãi suất cho vay cũng tăng lên, như vậy nguồn
vốn vay tài trợ cho TSLĐ trở nên đắt đỏ hơn, vì vậy doanh nghiệp cần phải có biện pháp
nhằm quản lý và sử dụng tài sản lưu động một cách tiết kiệm và hợp lý nhằm mang lại
hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp.
• Trình độ phát triển khoa học công nghệ:
Khoa học công nghệ tác động đến tất cả các mặt của nền kinh tế xã hội, doanh
nghiệp chịu rất nhiều tác động của công nghệ, nếu áp dụng công nghệ đúng chỗ và tiên
tiến sẽ giúp doanh nghiệp phát triển sản phẩm, từ đó tạo ra những ưu thế về mặt công
nghệ trước các đối thủ cạnh tranh và hiệu quả sử dụng tài sản lưu động cũng tăng lên.
3.3.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng TSLĐ.
3.3.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động của tài sản lưu động
Vòng quay TSLĐ =
24
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Chỉ tiêu này cho ta biết, cứ một đồng TSLĐ thì tạo được bao nhiêu đồng doanh thu
thuần, chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng tạo ra doanh thu của TSLĐ càng lớn.
Độ dài bình quân một vòng quay TSLĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân cần thiết để tài sản lưu động thực hiện một
vòng quay trong kỳ. Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ thời gian của một vòng luân chuyển
nhỏ và như vậy tốc độ luân chuyển càng nhanh, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng
cao. Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển của trình độ quản lý và sử dụng tài sản trong
doanh nghiệp.
Vòng quay hàng tồn kho =
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức độ hợp lý, hiệu quả trong hoạt động quản lý dự trữ của
doanh nghiệp. Tỷ số này cho biết số lần hàng tồn kho được luân chuyển trong kỳ. Chỉ
tiêu này lớn chứng tỏ hàng tồn kho được luân chuyển nhanh như vậy tức là hàng hóa và
nguyên nhiên vật liệu không bị ứ đọng, thì sẽ giảm chi phí lưu kho và giảm rủi ro cho