Tình hình thu hút vốn FDI của VN trong những năm qua - Pdf 32

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
A. Cơ sở lí thuyết của mối quan hệ giữa vốn và tăng trưởng kinh tế
I. Cơ sở lí thuyết để xét mối quan hệ giữa vốn và tăng trưởng kinh tế:
Vốn sản xuất là giá trị của những tài sản được sử dụng làm phương tiện
trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất và dịch vụ bao gồm vốn cố định và vốn
lưu động.
Vốn đầu tư sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí nhằm duy trì hoặc gia
tăng mức vốn sản xuất.
Vốn giữ một vai trò quan trọng trong tăng trưởng .Sự tác động của vốn sản
xuất và vốn đầu tư đến tăng trưởng kinh tế không phải là quá trình riêng lẻ mà
nó là sự kết hợp, đan xen lẫn nhau,tác động liên tục vào nền kinh tế.
Mối quan hệ này được xây dựng trên cơ sở của 3 mô hình lý thuyết, đó là:
mô hình Harrod-Domar, mô hình Slow và mô hình Cobb_Douglas. Đi xem xét
từng mô hình, chúng ta sẽ thấy rõ vốn và tăng trưởng kinh tế được xây dựng trên
cơ sở lý thuyết như thế nào.
Đầu tiên là mô hình Harrod-Domar – 1 mô hình được sử dụng rộng rãi ở
các nước đang phát triển để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các
nhu cầu về vốn.Mô hình này coi đầu ra bất kỳ một đơn vị kinh tế nào dù là một
công ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế phụ thuộc vào tổng số
vốn đầu tư của nó.
Mô hình Harrod - Domar xem xét duy nhất vai trò của nhân tố vốn trong
tăng trưởng kinh tế (sau khi đã loại trừ các nhân tố khách quan và chủ quan khác
tác động đến tăng trưởng kinh tế). Mô hình đưa ra công thức tính toán, đo lường
khối lượng vốn đầu tư cần thiết cho tăng trưởng kinh tế theo mục tiêu dự định.
Mô hình Harrod - Domar lại đánh giá cao vai trò của nhân tố vốn trong tăng
trưởng kinh tế. Mô hình đưa ra hàm sản xuất:
G = s/k
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trong đó:
g: tốc độ tăng trưởng kinh tế


L


Trong đó: g: Tăng trưởng kinh tế hàng năm
K: Vốn đầu tư
L: Lao động
A: Biểu thị hiệu quả sản xuất và là hằng số
: Hệ số co dãn của vốn
: Hệ số co dãn của lao động
Khác với mô hình Harrod - Domar - chỉ nghiên cứu nhân tố vốn đối với
tăng trưởng kinh tế, mô hình Cobb - Douglas đưa 2 nhân tố vốn và lao động vào
xem xét, đánh giá tác động của chúng đối với tăng trưởng kinh tế. Hai nhân tố
vốn và lao động được kết hợp với nhau theo tỷ lệ bất kỳ, có thể thay thế lẫn
nhau, gắn với việc nghiên cứu hệ số co dãn của vốn ( ) và lao động ( ). Hệ số 
này cho phép tính toán, đo lường được tỷ lệ phần trăm đóng góp của các nguồn
lực đầu vào trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy, mô hình
Cobb-Douglas đã tiến một bước dài trong nghiên cứu, nếu được áp dụng vào dự
báo, phát triển, đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế; xác định rõ nhân tố đầu
vào nào đã và đang đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế và cần thiết điều chỉnh
chiến lược tăng trưởng kinh tế ra sao khi sử dụng 2 nguồn lực đầu vào vốn và
lao động.
Cũng xuất phát từ mô hình Cobb-Douglas ,Mô hình Solow lại có cách tiếp
cận hết sức độc đáo. Mô hình Solow cũng nghiên cứu vai trò của các nguồn lực
đầu vào: vốn, lao động đối với tăng trưởng kinh tế nhưng đặt trong điều kiện
tiến bộ không ngừng của khoa học - công nghệ; đo lường, tính toán được chính
xác tỷ lệ phần trăm đóng góp của các nguồn lực đầu vào trong tăng trưởng kinh
tế, với tiến bộ khoa học - công nghệ theo thời gian. Đây là điểm khác biệt lớn
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368

4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tiết kiệm cũng chỉ có thể tạo nên gia tăng tốc độtăng trưởng kinh tế trong ngắn
hạn chứ không thể đạt được trong dài hạn.Nếu như mô hình Harod-Domar chỉ
xét đến vai trò của vốn sản xuất( thông qua tiết kiệm và đâu tư) đối với tăng
trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm han tố lao động và tiến bộ công nghệ
vào phương trình tăng trưởng.
Lượng vốn là yếu tố quyết định sản lượng của nền kinh tế, nhưng lượng
vốn có thể thay đổi theo thời gian, dẫn tới tăng trưởng kinh tế.Mô hinh Solow
xác định 2 lực lượng tác động tới sự thay đổi của lượng vốn là đầu tư(làm tăng
lượng vốn) và khấu hao (làm giảm lượng vốn), cụ thể là:
Thay đổi lượng vốn = Đầu tư – khấu hao.
Mối quan hệ giữ vốn và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian vừa
qua:
Lý thuyết của tăng trưởng kinh tế chỉ ra rằng nguồn gốc của tăng trưởng
kinh tế bao gồm cải tiến, nâng cao tiến bộ khoa học công nghệ, tăng lượng vốn
tài sản và tăng lực lượng lao động.. Để tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội
một cách bền vững thì một trong những điều kiện cực kỳ quan trọng đối với mọi
quốc gia là phải mở rộng đầu tư hay nói cách khác Để có tăng trưởng cao vốn
đầu tư đóng vai trò tiền đề quan trọng nhất, đó là yếu tố then chốt để phát triển
nền kinh tế . Người ta hay nói đến một trong những nguyên nhân chính làm cho
kinh tế của 5 con rồng Châu Á tăng trưởng nhanh trong một thời gian dài là do
vốn đầu tư phát triển tăng liên tục và thường chiếm khoảng 30% trong GDP
Đầu tư và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ, đầu tư là yếu tố
quyết định cho sự tăng trưởng nó ảnh hưởng tới sự tăng trưởng kinh tế về cả hai
mặt nhu cầu và sn xuất.
Nền kinh tế Việt Nam từ 1991 - 1998 có nhiều khó khăn và thử thách
nhưng đây cũng là thời kỳ mà hoạt động đầu tư diễn ra sôi động nhất c về quy
mô lẫn các thành phần tham giá c trong và ngoài nước. Bên cạnh những thành
5

triển (giá so sánh
1994) (tỷ đồng)
% tăng so với năm về
trước
GDP
Vốn đầu tư
phát triển
1995 195 567 68 047,8 9,54
1997 231 264 96 870,4 8,15 12,36
1998 244 596 97 336,1 5,76 0,48
1999 256 272 103 771,9 4,77 6,61
2000 273 570 120 6000 6,75 16,22
2001
(1)
292 173 139 8960 6,80 16,00
Nguồn: Tổng cục Thống kê
(1)
Trong bài này số liệu năm 2001 là số dự tính
Vốn đầu tư phát triển được đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau, độ trễ về
thời gian phát huy tác dụng để tăng trưởng kinh tế cũng rất khác nhau. Chẳng
hạn, nếu đầu tư cho sản xuất thì có những lĩnh vực phát huy tác dụng ngay trong
năm như vốn mua sắm phương tiện vận tải, vốn đầu tư xây dựng khách sạn, nhà
hàng, ... Song nếu đầu tư cho việc trồng cây lâu năm như cao su, trồng quế, ... thì
phải từ 7 đến 10 năm sau mới có kết quả. Còn nếu như đầu tư cho giáo dục - đào
tạo, đầu tư cho nghiên cứu khoa học thì thời gian của độ trễ còn dài hơn so với đầu
tư cho sản xuất.
Chính do độ trễ và sự chuyển dịch trong cơ cấu đầu tư làm cho tốc độ tăng
trưởng GDP không hoàn toàn tỷ lệ thuận theo một hằng số với vốn đầu tư phát
triển.
Từ năm 2004, Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa chủ yếu vào sự đóng

sau: Tính chung ICOR của Việt Nam trong thời kỳ 1991-2007 là 4,86 lần, cao
hơn nhiều so với 2,7 lần của Đài Loan (trong thời kỳ 1961-1980), 3 lần của Hàn
Quốc (trong thời kỳ 1961- 1980), 3,7 lần của Indonesia (trong thời kỳ 1981-
1995), 4 lần của Trung Quốc (trong thời kỳ 2001-2006), 4,1 lần của Thái Lan
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
(trong thời kỳ 1981-1995); cũng cao hơn so với 4,6 lần của Malaysia (trong thời
kỳ 1981-1995).
Điều đó chứng tỏ, hiệu quả đầu tư của Việt Nam còn thấp
Hiệu quả đầu tư còn được tính theo cách lấy GDP chia cho vốn đầu tư hàng
năm (đều tính theo giá thực tế). Theo cách này, thì GDP/vốn đầu tư (có nghĩa là
1 đồng vốn đầu tư tạo ra được bao nhiêu đồng GDP) của Việt Nam đã bị sút
giảm qua các thời kỳ: nếu thời kỳ 1991-1995 đạt 3,55 đồng/đồng, thì năm 1996-
2000 còn 3,0 đồng/đồng, 2001-2005 còn 2,56 đồng/đồng, 2006-2007 còn 2,46
đồng/đồng.
Một nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn, mà hiệu quả đầu tư thấp,
nhất là hiệu quả đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước còn thấp hơn; năng suất
lao động thấp,... nên nhu cầu đối với tiền tệ, yêu cầu cung tiền luôn luôn cao, tạo
sức ép làm tăng lạm phát. Sức ép này cộng hưởng với lạm phát trên thế giới
trong khi đồng Việt Nam được neo giá chặt với USD mà USD lại mất giá lớn so
với các đồng tiền mà Việt Nam có quan hệ buôn bán lớn nhất lại càng tạo ra sưc
ép lạm phát tại Việt Nam lớn hơn các nước.
II. Vai trò của các nguồn vốn và mối quan hệ giữa các nguồn vốn:
1. Vai trò của nguồn vốn trong nước:
Tổng vốn đầu tư trong nươc được hình thành bởi 3 nguồn tiết kiệm cơ bản
là:
+ tiết kiệm từ ngân sách chính phủ (Sg)
+ tiết kiệm từ các doanh nghiệp (Sc)
+ tiết kiệm từ trong dân cư (Sh)
Nguồn vốn đầu tư trong nước luôn luôn đóng vai trò quyết định đến khả

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
triển sản xuất hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường với
hàng trăm nghìn doanh nghiệo tu nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ
phần, hàng chục nghìn hợp tác xã kiểu mới, hang trăm nghìn trang trại ra đời…
Thứ hai, đây là nguồn vốn của kinh tế tư nhân nên việc đầu tư được tính
toán kĩ, itý bị lãng phí, thất thoát nên hiệu quả đầu tư cao hơn khu vực nhà nước.
Để tăng 1 đồng GDP lượng vốn đầu tư ở khu vực này chỉ tốn bằng 2/3 khu vực
nhà nứoc. Một đồng vốn đầu tư đã tạo ta GDP cao gấp rưỡi khu vực nhà nước.
Thứ ba, lượng vốn tồn đọng trong dân còn khá lớn khoảng 80 nghìn tỷ
đồng ( theo số liệu điều tra năm 2007 ), đây là một tiềm năng lớn có thể khai
thác để đầu tư phát triển.
2. Vai trò của nguồn vốn nước ngoài:
Nguồn vốn nứơc ngoài bao gồm:
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp FDI
- Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA
- Nguồn vốn đầu tư gián tiếp
- Nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ
- Nguồn vốn vốn kiều hối
Nguồn vốn nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho sự thiếu hụt
của nguồn vốn trong nước.
Đây là nguồn vốn gắn với ngoại tệ mạnh, với kĩ thuật công nghệ hiện đại,
có lực lượng hùng hậu là các công ty mẹ ở nứoc ngoài hậu thuẫn, có thế mạnh
về quảng cáo, tiếp thị tiêu thụ, trình độ quản lí, lực lượng lao động, tay nghề…
Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách và đầu tư nước ngoài còn hạn hẹp,
với sự xuất hiện của nguồn vốn đầu tư nước ngoài, các địa phương sẽ có điều
kiện để đầu tư chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế.
Cụ thế:
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Vai trò của nguồn vốn FDI:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status