Kỹ năng của luật sư trong việc chuẩn bị bản luận cứ bào chữa - Pdf 32

Kỹ năng của luật sư trong việc chuẩn bị bản luận cứ bào chữa
Các chức danh tư pháp mỗi chức danh có một văn bản đặc trưng riêng.
Thẩm phán có bản án, Kiểm sát viên có bản cáo trạng, điều tra viên có
bản kết luận điều tra. Một trong những văn bản quan trọng của luật sư
khi tham gia tố tụng đó là luận cứ bào chữa cho bị cáo và luận cứ bảo vệ
cho bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan hay các đương sự trong
giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.
Tại phiên toà phúc thẩm luận cứ bào chữa hay luận cứ bảo vệ đều là văn bản
thể hiện quan điểm của luật sư trong việc bào chữa hoặc bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình. Đây là những văn bản
quan trọng nhất của luật sư trong hoạt động tham gia bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của thân chủ tại Toà án, đây cũng chính là sản phẩm của quá trình
nghiên cứu hồ sơ, tham gia tố tụng, nghiên cứu các văn bản pháp luật, thu
thập, tìm kiếm những chứng cứ có giá trị chứng minh để bảo vệ tốt nhất
quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ.
Đối với luật sư thì bản luận cứ bào chữa hay luận cứ bảo vệ chính là tiếng nói
chính thức của luật sư tại phiên toà, thể hiện khả năng tranh tụng và văn hoá
ứng xử của luật sư, thể hiện kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội để luật sư
thể hiện tranh tụng tại phiên toà; đây cũng chính là chỗ dựa vững chắc về mặt
tâm lý cho thân chủ, giúp thân chủ tin tưởng vào sự công bằng của pháp luật,
đồng thời cũng thể hiện được chất lượng và khả năng của luật sư khi tham gia
bào chữa, bảo vệ cho thân chủ thể hiện ở bản luận cứ đầy súc tích, cô đọng,
lập luận chặt chẽ, thuyết phục người nghe.


Là một đề tài tiểu luận người viết lựa chọn một văn bản trong những văn bản
quan trọng của luật sư khi tham gia tố tụng để nghiên cứu đó là: “ Kỹ năng
của luật sư khi chuẩn bị bản luận cứ bào chữa, bảo vệ trong giai đoạn xét
xử phúc thẩm vụ án hình sự”. Với sự hiểu biết của một học viên đang vào
nghề nên bài viết của tôi có thể chưa đầy đủ cần sự đóng góp ý kiến. Rất
mong được sự góp ý của các thầy, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.

Trong quá trình gặp và trao đổi với bị cáo trong trại tạm giam luật sư cần
trao đồi về những hệ quả phát sinh từ phiên tòa phúc thẩm, khi phán quyết có
hiệu lực pháp luật để bị cáo xác định tốt tư tưởng, chuẩn bị cho việc khiếu nại
theo trình tự giám đốc thẩm hoặc chấp nhận thi hành bản án . Có thể nói việc
gặp và trao đổi với bị cáo trước phiên tòa là một loạt thao tác cần đòi hỏi luật
sư mận cảm sự thấu đáo hiểu biết về vụ án, có như vậy luật sư mới viết được
bản luận cứ tốt để bào chữa cho thân chủ tại phiên tòa phúc thẩm một cách
tốt nhất.
4. Trao đổi đề xuất với Viện kiểm soát, Tòa án.


Luật sư có thể liên hệ, đề nghị bằng văn bản qua phòng xin gặp Kiểm sát
viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc lãnh đạo của họ đề trình bày những
vấn đề liên quan đến những tình tiết sự kiện mới phát sinh, hoặc để nộp
chứng cứ tài liệu bổ sung. Việc gặp trao đồi vơi Viện kiểm soát và Tòa an
giúp cho luật sư có thêm chứng cứ mới, biết được quan điểm của Viện kiểm
sát và tào án để có thể viết bản luận cứ bào chữa tại phiên tào phúc thẩm một
cách tốt hơn.
5. Chẩn bị bản bào chữa.
Bản bảo chữa tại phiên tòa phúc thẩm mà luật sư chẩn bị cần đảm bào ba
phần chính; đó là phần mở đầu, phần quan điểm pháp lý ( Phần đánh giá
chứng cứ, các dấu hiệu của tội phạm căn cứ áp dụng pháp luật) và phần đề
xuấn giải pháp, kết luận. Tùy theo định hướng bào chữa của luật sư mà nội
dung từng phần có thể điều chỉnh cho phù hợp với bản bào chữa:
a) Phần mở đầu
Phần này phải giới thiệu tư cách luật sư, giới thiệu về bản thân, văn phòng
luật sư mà mình đang tham gia, nêu lý do mà mình tham gia bào chữa cho
thân chủ. Cần lư ý điểm khác của bản luận cứ tại phiên tòa phúc thẩm so với
phiên tòa sơ thẩm. Phần mở đầu của bản luận cứ tại phiên tòa phúc thẩm cần
phải đánh giá tổng quát bản án sơ thẩm về tội danh và mức hình phạt đối vớí

cắp tài sản quy định ” người nào trộn cắp tài sản của người khách có giá trị từ
hai triệu đồng đến dưới năm triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã
bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì
bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba
năm ”. Ở trường hợp này luật sư cần chứng minh trong bản luận cứ của mình
là tài sản bị cáo trộm cắp không có giá trị đến 2 triệu đồng thông qua việc
chúng minh kết luật giám định là không phù hợp với giá trị thực tể của tài
sản, và cũng cần phải chứng minh thân chủ minh chưa bị phạt vi phạm hành
chính hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản…
Nếu người bị hại không có yêu câu khởi tố hoặc đã rút yêu cầu khởi tố trước
khi mở phiên tòa sơ thẩm mà tòa án vẫn xét phúc thẩm và tuyên bị cáo cớ tội
thì luật sư cần bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tại phiên tòa
phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định
điều 251 BLTTHS. Trong trường hợp này cần chỉ ra các cơ quan tiến hành tố
tụng đã vi phạm nghiêm trọng thủ tụng tố tụng trong quá trình điều tra, truy
tố, xét xử bị cáo. Luật sư cần bám sát vào những căn cứ quy buộc của án sơ
thẩm và kết luận của Viện kiểm sát, phân tích những điểm mâu thuẫn, không
phù hợp, chỉ ra được tính thiếu căn cứ trong việc giám định, những vì phạm
về thủ tục tơ tụng khi thu thập chứng cứ dùng làm căn cứ buộc tơi bị cáo, từ
đó đề xuất đường lối giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận kháng cáo của bị
cảm, tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án theo Điều 251 BLTTHS
năm 2003.


Luật sư cũng cần vận dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi để cấp đến việc
bản án sở thẩm được tuyên trên cơ sở đánh giá chứng cứ một chiều mang
nặng tính suy diễn của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong một sề trường
hợp, bị cáo không phạm tội như án sở thẩm đã tuyên, nhưng có dấu hiệu
phạm vào một tội khác, chẳng hạn như Trần Đức C bị án sơ thầm tuyên phạt

hợp với lý luận khoa học của luật hình sự và thực tiễn áp dụng. Ngoài việc
chuẩn bị bản luận cứ bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm theo hướng
đề nghị chuyển sang khung hình phạt nhẹ hơn thì luật sư cũng cần phải làm
rỡ những căn cứ pháp lý của việc áp dụng những tình tiết giảm nhẹ TNHS
theo quy định của pháp luật mà bản án sơ thẩm chưa đề cập đến. Đó là các
tình tiết giảm nhẹ TNHS theo khoản 1 điều 46 của BLHS. Có trường hợp
kháng cáo kêu oan, nhưng đến trước phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nhận thức
được sai phạm của mình, thống nhất với luật sư về việc thay đổi yêu cầu
kháng cáo. Đây có thể coi là là một sự chuyển biến căn bàn về nhận thức, là
tình tiết mới cớ thế tác động lớn đến phiên tòa phúc thâm, luật sư cần tập
trưng phân tích về căn nguyên sự chuyển biến nhận thức từ chỗ kêu oan sang
nhận tội, vận dụng các tình tiết giảm nhẹ khác để đề xuất sửa bản án sơ thẩm
(Điều 249 BLTTHS năm 2003) theo hướng giảm nhẹ đáng kể hình phạt cho
bị cáo theo nguyên tắc được quy định tại khoản 2 điều 46 và điều 47 BLHS.
Việc đề nghị xin giảm hình phạt cho bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm có thể đề
nghị theo hướng giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, chuyển sang cải tạo


không giảm giữ, chuyển sang áp dụng án treo, chuyển sang đề nghị miễn
trách nhiệm hình sự cho bị cáo hoặc miễn hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên,
luật sư cần lưu ý chỉ nên tập trung vào các tình tiết làm cơ sở để đề nghị Tòa
phúc thẩm giảm nhẹ TNHS cho bị cáo khi bản án sơ thẩm chưa đề cập đến
hoặc tuy có đề cập đến nhưng việc áp dụng trong bản án sơ thẩm chưa thỏa
đáng với bị cáo.
Thứ ba, bào chữa theo hướng để xuất Tòa phúc thẩm hủy bản án sơ
thẳm để điểu tra lại hoặc xét xử lại.
Trong bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị, luật sư phát hiện thấy
những sai phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc áp dụng không đúng
pháp luật, đánh giá không toàn diện về chứng cứ hoặc luật sư thu thập được
một số chứng cứ tài liệu mới, cần phải được đánh giá, xem xét lại bản chất vụ

đã có những hoạt động, thu thập chứng cứ, gặp gỡ bị hại để trao đổi về những
vấn đề liên quan đến nội dung vụ án, những yêu cầu của bị hại đưa ra kiểm
tra tính phù hợp, mâu thuẫn giữa các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; giữa các
đồ vật, tài liệu liên quan mà luật sư đã thu thập được với chứng cứ trong hồ
sơ vụ án.


Luật sư nghiên cứu nội dung và phạm vi kháng cáo của bị hại, nghiên cứu
các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chứng minh cho yêu cầu kháng cáo
của thân chủ mình, kiểm tra tính phù hợp, mâu thuận giữa các chứng cứ có
trong hồ sơ. Viêc nghiên cứu các tài liệu chứng cứ cần phải gắn với yêu cầu
kháng cáo của thân chủ mà luật sư nhận trách nhiệm bảo vệ, nghiên cứu tính
hợp pháp của bản án sơ thẩm liên quan đến nội dung thân chủ mình kháng
cáo.
2. Chuẩn bị các tài liệu liên quan phục vụ cho việc bảo vệ
Đó là việc chuẩn bị những tài liệu liên quan để phục vụ cho việc chuẩn bị bài
luận cứ bào vệ cho bị hại bao gồm:
2.1. Văn bản pháp luật: bao gồm Bộ luật hình sự; bộ luật tố tụng hình sự; các
văn bản pháp luật liên quan, đặc biệt là các văn bản như Nghị quyết của Hội
đồng thẩm phán hoặc các công văn hướng dẫn có liên quan đến hoạt động
bảo vệ cho bị hại tại Toà án.
2.2. Các tài liệu khác: các tại liệu liên quan đến nhân thân của bị cáo, bị hại
và các tài liệu khác liên quan đến tình tiết của vụ án hoặc để phục vụ cho việc
chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ cô đọng và đi vào lòng người.
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án
Nghiên cứu nội dung phạm vi kháng cáo. Nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, kiểm tra tính phù
hợp mâu thuận giữa các chứng cứ có trong hồ sơ. Việc nghiên cứu các tài liệu



Sau khi dự thảo luận cứ bào chữa luật sư cần trao đổi một lần nữa về yêu cầu
của thân chủ và trao đổi thống nhất phản ánh đúng bản chất quyền và lợi ích
hợp pháp của thân chủ.
6. Chuẩn bị bản bảo bảo vệ
a. Phần mở đầu
Đây là phần có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ quá trình tranh luận của
luật sư để thu hút sự chú ý của Hội đồng xét xử và của chủ toạ. Giới thiệu về
bản thân mình và nêu lý do được tham gia bảo vệ cho bị hại thế hiện rõ tư
cách của luật sư tại phiên toà là người được tham gia phiên toà để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trong vụ án. Trong thực tế có một số
cách mở đầu cho bài luận cứ bảo vệ như sau:
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị đại diện Viện kiểm sát!
Thưa vị luật sư đồng nghiệp!


Tôi là Nguyễn Văn A là luật sư thuộc văn phòng Luật sư A và cộng sự,
Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Nhận lời mời của gia đình bị hại và được sự
chấp thuận của Hội đồng xét xử tôi tham gia phiên toà hôm nay để bảo vệ
cho bà Nguyễn Thị B là bị hại trong vụ án “ Mua bán phụ nữ”. Sau đây tôi
xin trình bày một số quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà
Nguyễn Thị B:
Ngay từ lời mở đầu của bản luận cứ bảo vệ cho bị hại, Luật sư phải thể hiện
lời tự giới thiệu về bản thân và khẳng định tư cách tham gia tố tụng tại phiên
toà. Tuỳ từng bối cảnh của mỗi phiên toà mà luật sư có thể đưa ra những lời
mở đầu khác nhau, tạo ra ấn tượng, cách tiếp cận vấn đề khác nhau. Nó hoàn
toàn không bị ràng buộc bởi sự bất biến, rập khuôn, mà thể hiện sự thích ứng,
linh hoạt của luật sư đối với mỗi vụ án khác nhau.
b. Phần nội dung
Đây là phần trọng tâm chủ yếu của bài bảo vệ của luật sư, chính là sự kết tinh

một luật sư để tránh đồng nhất mình với vài trò của Kiểm sát viên còn quyền
quyết định tội danh và hình phạt là thuộc về Hội đồng xét xử.
+ Kháng cáo chuyển tội danh sang tội khác nặng hơn.


Khi chuẩn bị bản luận cứ để bảo vệ cho bị hại theo hướng kiến nghị tòa phúc
thẩm sửa án sơ thẩm chuyển sang tội danh nặng hơn thì luật sư cần căn cứ
vào các dấu hiệu đặc trưng của hai tội, dựa tội nặng hơn và tội nhẹ hơn để
phân biệt. Chẳng hạn theo hồ sơ vụ án thì thể hiện Q phạm tội giết người theo
khoản 1 Điều 93 BLHS cáo trạng bản án sơ thẩm lại định tội danh Q là vô ý
làm chết người theo điều 98 BLHS.
+ Yêu cầu bị cáo thực hiện trách nhiệm dân sự
Luật sư phải định hướng về việc yêu cầu bồi thường hoặc phản đối lại yêu
cầu bồi thường của phía đối tụng với thân chủ của mình. Bản định hướng
phải chi tiết và cụ thể, có căn cứ pháp lý, và chi phí hợp lý
Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại luật sư phải xác định được bao gồm: Có
thiệt hại xảy ra ( thiệt hại bảo gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh
thần); Phải có hành vi trái pháp luật ; thiệt hại xảy ra là do hành vi trái pháp
luật; người gây thiệt hại phải có lỗi ( lỗi cố ý và lỗi vô ý).
Luật sư phải xem xét đến năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
bị cáo; tính chi phí hợp lý bao gồm những chi phí thực tế cần thiết, phù hợp
với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá cả trung bình của thị
trường ở từng địa phương tại thời điểm chi phí.
Luật sư khi tham gia bảo vệ về bồi thường thiệt hại cần yêu cầu bị hại có
nghĩa vụ chứng minh. Bị hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy
ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ
về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại.


+ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ
cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp
nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc
mộ…Những khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có
nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết; Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do
tính mạng bị xâm phạm.
+ Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm gồm có thiệt hại do
danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm bao gồm những chi phí
hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị giảm sút; Bù đắp
tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.
- Viết bản luận cứ bảo vệ người bị hại khi người bị hại kháng cáo Tòa án
tuyên bố người phạm tội không có tội.
Người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội với thân chủ mình nhưng tòa
án lại tuyên bố bị cáo không phạm tội. Đối với trường hợp này khi viết bản
luận cứ bảo vệ cho thân chủ tại phiên tòa phúc thẩm thì luật sư cần dựa trên


các tình tiết khách quan của vụ án, căn cứ vào các văn bản pháp luật hình sự
để phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, nhấn
mạnh vào các dấu hiệu đặc trưng của tội đó. Nếu không có căn cứ cho rằng bị
cáo phạm tội thi luật sư phải phân tích cho bi hại hiểu và giải thích cho bi hại
biết về hành vi của bị cáo là không vi phạm pháp luật hoặc vi phạm pháp luật
nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
c. Phần kết luận
Luật sư cần tóm tắt những điểm chính đã trình bày, đưa ra các đề xuất đề áp
dụng pháp luật để giải quyết vụ án theo hướng có lợi cho thân chủ, tóm tắt lại
đề xuất về trách nhiệm hình sự của bị cáo và trách nhiệm dân sự mà bị cáo
phải thực hiện bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Phần kết luận là phần khép lại của bản luận cứ bảo vệ, bởi thế luật sư phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status