MỘT SỐ MÔ HÌNH ĐỊNH MỨC TÍN NHIỆM ÁP DỤNG CHO KHACH HÀNG - Pdf 32

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường với xu hướng toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá
các luồng tài chính đã làm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng, hoạt động
kinh doanh ngày càng trở nên phức tạp. Thực tế đó đòi hỏi hệ thống các
ngân hàng thương mại (NHTM) phải có những cải cách mạnh mẽ để nâng
cao năng lực quản trị rủi ro. Rủi ro là một điều rất phổ biến và gần như mang
tính tất yếu đối với mọi hiện tượng cả trong tự nhiên lẫn trong đời sống kinh
tế, xã hội của con người. Vì vậy, chấp nhận và đối đầu với rủi ro là một điều
bình thường , không tránh khỏi, nhưng vấn đề đặt ra ở đây không phải có
hay không có rủi ro, mà ở chỗ phải phòng ngừa để giảm thiểu rủi ro ở mức
chấp nhận được. Kinh doanh tiền tệ của các NHTM càng không phải là một
ngoại lệ, càng khó tránh được rủi ro.
Thực tiễn hoạt động kinh doanh của các NHTM đã cho thấy, rủi ro đối
với NHTM trong điều kiện kinh tế thị trường gồm nhiều loại như rủi ro tín
dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái... trong đó rủi ro tín
dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì thế, quản lý và đánh giá rủi ro vỡ nợ được
đặt ra như một vấn đề trọng tâm trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng,
các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư. Việc ước lượng chính xác rủi ro vỡ
nợ của khách hàng vay hoặc danh mục đầu tư có ý nghĩa rất lớn đối với các
nhà đầu tư, mỗi tổ chức ngân hàng và hệ thống tài chính .Vì vậy chấm điểm
tín dụng và xếp hạng khách hàng có vai trò hết sức quan trọng nó hỗ trợ
trong việc: ra quyết định cấp tín dụng , xác định hạn mức tín dụng của một
khách hàng, số tiền cho vay/bảo lãnh, thời hạn, mức lãi suất/phí, biện pháp
bảo đảm cho khoản tín dụng.
Trong quá trình học tập tại trường kết hợp với thời gian thực tập tại ngân
hàng Techcombank chi nhánh Hoàng Quốc Việt và sự định hướng của thầy
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trần Trọng Nguyên , em xin được đưa ra đề tài : “MỘT SỐ MÔ HÌNH
ĐỊNH MỨC TÍN NHIỆM ÁP DỤNG CHO KHACH HÀNG ”.

có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Rõ ràng, các ngân
hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực
hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ không chỉ chức năng của các ngân
hàng đang thay đổi mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính sách của
ngân hàng cũng không ngừng thay đổi. Thực tế là, rất nhiều tổ chức tài
chính - bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công tymôi giới
chứng khoán, quĩ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng
cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân hàng cũng đối phó với
các đối thủ cạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở
rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản và môi giới
chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quĩ tương hỗ và thực
hiện nhiều dịch vụ mới khác.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Sơ đồ 1 – 1. Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay:

Các dịch vụ truyền thông của ngân hàng:
Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ
ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng
đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một lại tiền khác,
chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Sự trao đổi đó là rất quan
trọng đối với khách du lịch vì họ sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi
có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố họ đến. Trong thị
trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng
lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao,
đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao.
Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các
ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

thành lập để tài trợ cho cuộc đấu tranh xóa bỏ sự đô hộ của nước Anh và đưa
Mỹ trở thành quốc gia có chủ quyền. Cũng như vậy, trong thời kỳ nội chiến,
Quốc hội đã lập ra một hệ thống ngân hàng liên bang mới, chấp nhận các
ngân hàng quốc gia ở mọi tiểu bang miễn là các ngân hàng này phải lập Quỹ
phục vụ chiến tranh.
Cung cấp các tìa khoản giao dịch. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu
và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dịch vụ ngân hàng
mới. Một dịch vụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là
tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit) – một tài khoản tiền gửi cho
phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ.
Việc đưa ra loại tài khỏan tiền gửi mới này được xem là một trong những
bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện
đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh
trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
Cung cấp dịch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện
việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh
nghiệp thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài
sản hay quy mô họ quản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dịch
vụ ủy thác (trust service). Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại:
dịch vụ ủy thác thông thường cho cá nhân, hộ gia đình; và ủy thác thương
mại cho các doanh nghiệp.
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
Cho vay tiêu dùng. Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho
vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu
dùng nói chung có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó
làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Đầu thế ký này, các ngân hàng
bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món
vay thương mại lớn. Và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền

chuyển vốn trong nhiều quĩ tương hỗ, viết séc, và sử dụng thẻ tín dụng cho
khoản vay tức thời.
Dịc vụ thuê mua thiết bị. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh
doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp
đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê.
Ban đầu các qui định yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị
phải trả tiền thuê (mà cuối cùng sẽ đủ để trang trải chi phí mua thiết bị) đồng
thời phải chịu chi phí sửa chữa và thuế. Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu
cho phép ngân hàng quốc gia sở hữu ít nhất một số tài sản cho thuê sau khi
hợp đồng thuê mua đã hết hạn. Điều đó có lợi cho các ngân hàng cũng như
khách hàng bởi vì bới tư cách là một người chủ thực sự của tài sản cho thuê,
ngân hàng có thể khấu hao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế.
Cho vay tài trợ dự án. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong
việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dùng này nói chung là cao nên
chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công
sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà thầu, là thành viên của
công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để
chia sẻ rủi ro. Những ví dụ nổi bật về loại hình công ty đầu tư này là
Bankers Trust Venture Capital anh Citicorp Venture,Inc
Bán các dịch vụ bảo hiểm. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo
hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường
hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế. Trong khi các quy định ở
Mỹ cấm ngân hàng thương mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều
ngân hàng hi vọng có thể đưa ra các hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông
thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản như ôtô hay nhà cửa trong
tương lai. Hiện nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua
các liên doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó một

hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau, có thể làm cho hoạt động của NHTM giảm
thiểu được rủi ro, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng ngân hàng. Nhưng
chúng cũng có thể gây ra những tổn thất, thậm chí rất lớn, dẫn tới phá sản
của một hoặc một số NHTM. Chẳng hạn sự yếu kém, thiếu đồng bộ, thiếu
nhất quán trong cơ chế, chính sách cho vay, dẫn tới tình trạng cán bộ quản lý
của NHTM, hoặc người đi vay lợi dụng, đặc biệt nguy hại khi cán bộ nắm
quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của NHTM bị sa sút phẩm chất đạo đức
nghề nghiệp.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trên thực tế, việc quản lý rủi ro tín dụng được các ngân hàng đặc biệt chú
trọng và được đề cập rất nhiều bằng việc đưa ra các mô hình nghiên cứu và
quản trị rủi ro tín dụng. Khía cạnh rủi ro đạo đức tuy đã được nghiên cứu
nhưng rất khó đo lường vì tính chất định tính và việc quản lý là rất khó khăn
do liên quan đến yếu tố con người. Bài viết này xin được làm sáng tỏ khía
cạnh trên đây.
1.2.1 Rủi ro xuất phát từ phía nhà quản lý ngân hàng
Về chủ quan: Khi nói đến rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng ngân
hàng, chúng ta thường đề cập đến rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng mà ít
nói đến rủi ro đạo đức của người quản lý. Một nhà quản lý làm đúng chức
năng, nhiệm vụ thì phòng ngừa được sự phát sinh của loại rủi ro này. Nhưng
trên thực tế, vì lợi ích cá nhân hay một nhóm tập thể cán bộ quản lý trong
công tác điều hành đã vô tình hoặc cố ý tạo điều kiện, kẽ hở cho loại rủi ro
này phát triển. Chẳng hạn khi nhà quản lý hay bộ phận nhóm cán bộ quản lý
đã có quan hệ lợi ích với khách hàng, mặc dù điều kiện khách hàng vay vốn
có thể chưa hội tụ đủ, thậm chí không đủ điều kiện và đã được cán bộ tín
dụng, thẩm định ghi rõ nguyên nhân trong báo cáo thẩm định là không duyệt
cho vay. Thông thường thì những khoản vay đó sẽ không được phê duyệt,
nhưng vì một lý do tế nhị nào đó, nhà quản lý hay nhóm cán bộ quản lý đã
bằng cách này hay cách khác, hướng dẫn khách hàng hợp thức hoá hồ sơ,

rủi ro.
Thứ ba, hoạt động ngân hàng trong cơ chế thị trường, nhất là khi hội nhập
WTO, không ít nhà lãnh đạo ngân hàng không nắm bắt và tìm hiểu thông tin
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
liên quan đến khoản vay một cách chính xác, thiếu thận trọng trong phân
tích diễn biến thị trường về mặt hàng khách hàng kinh doanh...
Rủi ro xuất phát từ phía cán bộ trực tiếp làm công tác tín dụng (cán bộ tín
dụng, cán bộ thẩm định...)
Cần nhấn mạnh rằng rủi ro trong hoạt động tín dụng là khó có thể tránh
khỏi. Dù cán bộ tín dụng, những người liên quan đến công tác thẩm định,
cho vay đã rất tận tâm nhưng cũng không thể tránh được hoàn toàn rủi ro. Vì
một nguyên nhân khách quan là không phải khách hàng nào vay vốn ngân
hàng cũng kinh doanh có hiệu quả. Chúng ta phải thừa nhận rằng ở đâu chú
trọng đến công tác tín dụng, luôn tuân thủ các quy trình từ xét duyệt cho
vay, kiểm tra giám sát việc sử dụng tiền vay, thu hồi nợ, xử lý nợ nghi ngờ,
nợ xấu.
1.2.2 .Rủi ro tín dụng xuất phát từ phía người vay vốn
Rủi ro đạo đức trong kinh doanh của các NHTM không phải chỉ do
cán bộ quản lý, cán bộ nhân viên tín dụng của ngân hàng mà còn do một số
đối tượng là những người vay vốn. Có thể thấy rõ rủi ro tín dụng xuất phát
từ phía người vay vốn chia làm hai loại đối tượng: (1) không thực hiện nghĩa
vụ theo cam kết; (2) không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
Cũng không ít khách hàng để đạt được mục tiêu vay vốn của mình đã giả tạo
hồ sơ, hợp đồng mua bán vòng vo nhằm vay vốn ngân hàng. Điều đó đòi hỏi
NHTM nói chung, cán bộ tín dụng, thẩm định nói riêng phải làm tốt, chính
xác việc phân loại đối tượng vay vốn, từ đó có các biện pháp kiểm tra, đôn
đốc, giúp đỡ, hướng dẫn, phòng ngừa rủi ro tương ứng, hữu hiệu.
Như vậy rủi ro là một điều rất phổ biến và gần như mang tính tất yếu
đối với mọi hiện tượng cả trong tự nhiên lẫn trong đời sống kinh tế, xã hội

tính điểm tín dụng và hành vi, dường như chưa nhậ được sự quan tâm đúng
mức. Lý thuyết về lĩnh vực này tương đối hạn chế với số lượng ít ỏi công
trình đánh giá tổng quan như khảo sát các phương pháp định lượng trong
quản lý tín dụng của Rosenberg và Gleit; các phương pháp phân loại thống
kê tín dụng thể nhân của Hand và Henley; các công trình của Thomas về mô
hình quản lý rủi ro tài chính, các phương pháp phân loại tín dụng thể nhân,
tổng quan về các phương pháp tính điểm tín dụng và hành vi; sách về thống
kê trong tài chính của Hand và Jacka; sách về tính điểm tín dụng của Lewis;
sách về tính điểm tín dụng và kiểm soát tín dụng của Thomas, Crook, và
Edelman, sách mô hình hóa rủi ro tín dụng Mays.
Kể tự khi ra đời, lý thuyết về tính điểm tín dụng ghi nhận hai thànhtựu
quan trọng: (1) thực sự tồn tại nhu cầu phát triển các kỹ thuật dự báo rủi ro
của khách hàng tương thích với biến đọng điều kiện kinh tế; và (2) mục đích
tính điểm chuyển từ việc xác định các khách hàng khả năng vỡ nợ cao sang
tìm kiếm các khách hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận tốt nhất. Chất xúc tác
quan trọng cho các phát triển này chính là sự bùng nổ về thông tin của giao
dịch của khách hàng.
Hai kỹ thuật đánh giá cơ bản hỗ trợ tổ chức tín dụng ra quyết định cấp
tín dụng cho khách hàng là tính điểm tín dụng và tính điểm hành vi. Để ra
quyết định cấp tín dụng cho khách hàng giao dịch lần đầu tiên, tổ chức tín
dụng sử dụng kỹ thuật tính điểm tín dụng. Các quyêtd định đối với khách
hàng hiện tại (có tăng hạn mức tín dụng không? áp dụng chính sách
marketing nào? nếu khách hàng không trả nợ đúng hẹn thì xử lý ra sao?)
được đưa ra dựa trên điểm số về hành vi của khách hàng.
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Kỹ thuật tính điểm sử dụng thông tin về khách hàng có được qua hai
nguồn quan trọng: các thông tin do chính khách hàng cung cấp thông qua
mẫu đơn đăng ký tín dụng và thông tin có được qua nguồn tham khảo trung
gian. Ngoài ra, quá trình ra quyết định còn có thể sử dụng nguồn số liệu thu

- Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi được để trích lập
dự phòng rủi ro tín dụng.
- Giúp các nhà kinh doanh trong việc ra quyết định đầu tư .
II. Các phương pháp Định mức tín nhiệm công ty trên thế giới hiện nay
1. Phương pháp truyền thống
Đa số các tổ chức đánh giá tín nhiệm sử dụng phương pháp truyền
thống . Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là dự đoán khả năng vỡ nợ
và dự đoán giá trị hợp đồng tại những thời điểm có khả năng vỡ nợ bằng
việc phân tích các yếu tố đặc trưng. Nói chung về nguyên tắc phương pháp
của các công ty là tương đối giống nhau như một số mô hình sau:
Standard& Poors: Chia lĩnh vực phân tích thành kiểu loại theo rủi ro
kinh doanh (bao gồm: đặc tính ngành, vị thế cạnh tranh, quản lý) và rủi ro tài
chính (bao gồm: tình hình, chính sách tài chính, lợi nhuận, cấu trúc vốn,
dòng tiền mặt, sự linh hoạt tài chính).
Moody: Đánh giá khả năng trả nợ của riêng công ty theo một số yếu
tố chính như: Khuynh hướng của ngành và của quốc gia; Chất lượng quản lý
và thái độ của nhà quản lý với rủi ro; Các hoạt động kinh doanh chủ yếu và
vị thế cạnh tranh; Tình hình tài chính và các nguồn tiền mặt; Cơ cấu của
công ty ; Các cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ ; Các biến cố đặc biệt.
Một số mô hình khác: Phân tích ngành, phân tích tài chính và phân
tích những yếu tố phi tài chính như quản lý, ảnh hưởng từ nước ngoài và các
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ràng buộc khác.
2. Phương pháp xây dựng thang điểm
Sử dụng bảng cho điểm, chia các yếu tố phân tích thành nhiều hạng mục
khác nhau, cung cấp một thang điểm cho tất cả các chỉ tiêu khi đánh giá một
đối tượng nhất định và được trình bày dưới hình thức các biểu tượng đơn giản
để các nhà đầu tư dễ hiểu và dễ nhận rõ. Chẳng hạn như các trái phiếu thường
sắp hạng từ AAA ( là những trái phiếu có rủi ro thanh toán thấp nhất) cho tới D

15 Credit Rating Services of India Ltd P-1 tới T-5 AAA tới D
Bảng định mức tín nhiệm được chia làm 2 loại: Bảng ký hiệu Định
mức tín nhiệm biểu hiện cho các công cụ nợ ngắn hạn và bảng ký hiệu Định
mức tín nhiệm biểu hiện cho các công cụ nợ dài hạn. Nhìn vào kí hiệu về
Định mức tín nhiệm được ấn định cho bất cứ một doanh nghiệp nào, nhà đầu
tư đều có thể biết được mức độ rủi ro đối với các công cụ vay nợ của doanh
nghiệp đó.
Bảng 1.2. Ký hiệu sắp xếp hạng tín nhiệm sử dụng cho nợ dài hạn
Moody S&P Diễn giải
Aaa AAA Chứng khoán được định mức loại này có chất lượng cao nhất, có độ rủi
ro thấp nhất, đây thường là các Chứng khoán vàng có khả năng trả nợ
mạnh nhất.
Aa AA Chứng khoán được định mức loại này có chất lượng cao, mức độ rủi ro
thấp và do đó có khả năng trả nợ cao.
A A Đây là loại chứng khoán đạt trên mức trung bình các nhân tố đảm bảo về
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khả năng trả nợ ngắn và dài hạn, tuy chưa thật chắc chắn nhưng có độ
tin cậy cao. Do đó chứng khoán này được xếp loại có khả năng trả nợ.
Baa BBB Đây là loại chứng khoán trung bình, mức an toàn và rủi ro không cao,
không thấp. Khả năng trả nợ gốc và lãi hiện thời không thật chắc chắn
nhưng không có dấu hiệu nguy hiểm. Tuy nhiên chứng khoán loại này
có tính đầu cơ hơn là đầu tư. Do đó khả năng trả nợ của loại chứng
khoán này đạt mức trung bình.
Ba BB Chứng khoán loại này có nhiều tính đầu cơ, tương lai của loại chứng
khoán này khó xác định, do đó khả năng trả nợ gốc và lãi không thật
chắc chắn và an toàn như loại trên
B B Nhìn chung chứng khoán loại này thiếu sự hấp dẫn cho đầu tư. Sự đảm
bảo về hoàn trả gốc và lãi trong tương lai là rất nhỏ, do đó có tính đầu cơ
cao.

Dài hạn Ngắn hạn Dài hạn Ngắn hạn
AAA Aaa
A-1+
AA+ Aa1
AA Aa2
AA- Aa3
A+ A1
A A2
A- A3
BBB+ Baa1
BBB Baa2
BBB- Baa3
BB+ Ba1
3. Phương pháp đánh giá
Theo phương pháp này, Ngân hàng tiến hành phân tích, đánh giá các
khách hàng vay vốn thông qua hệ thống các chỉ tiêu. Trong đó các chỉ tiêu
chính là:
1. Dòng ngân lưu
2. Khả năng thanh khoản
3. Chất lượng tài sản
4. Lợi nhuận
5. Đòn bẩy tài chính.
Phương pháp này tập trung chủ yếu vào các chỉ tiêu tài chính của
khách hàng để dự đoán khả năng chi trả trong tương lai, nhưng lại thiếu đi
các yếu tố định tính, không được tính toán dựa trên lịch sử vay vốn của
khách hàng do đó có thể không phản ánh được đầy đủ và toàn diện thông tin
liên quan đến khách hàng.
4. Phương pháp sử dụng các mô hình.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368






mnmm
n
n
xxx
xxx
xxx
......
..................
.......
........
21
22221
11211
Tiến hành tách X thành k lớp hữu hạn, trong đó các công ty ở mỗi lớp
giống nhau tối đa, và các công ty ở các lớp khác nhau thì khác biệt tối đa.
+ Mô hình CAPM: Mô hình này xếp hạng tín nhiệm dựa trên hệ số rủi
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ro của lợi suất cổ phiếu do thị trường đánh giá. Bằng số liệu theo chuỗi thời
gian của lợi suất cổ phiếu mỗi công ty, mô hình sẽ đưa ra hệ số rủi ro và xếp
hạng tín nhiệm của các công ty tương ứng với mức độ rủi ro tìm được. Tuy
nhiên mô hình CAPM chỉ có thể áp dụng được đối với các công ty đã niêm
yết trên thị trường.
+ Mô hình điểm số Z: Được Edward I.Almtman (Mỹ) đưa ra, nhằm
đánh giá xếp hạng khách hàng dựa trên điểm số Z, là tổng điểm của 5 chỉ

trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp hạng khách hàng và
nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.
III . Cách xác định hạn mức tín dụng
Một số nội dung cơ bản trong hoạt động xét cấp HMTD tại các ngân
hàng hiện nay, như sau:
• Cho vay theo HMTD là một trong hai phương thức cho vay ngắn hạn
phổ biến đối với các doanh nghiệp hiện nay.
• Việc xét cấp HMTD không có một khuôn mẫu chung thống nhất giữa
các ngân hàng, hay nói cách khác là luôn có sự khác nhau giữa các
ngân hàng, tuỳ theo đối tượng khách hàng, phương án, lĩnh vực, xu
hướng ngành nghề khác nhau.
• Kỹ thuật xác định HMTD hiện nay tại các ngân hàng đang áp dụng
thông thường dựa trên 2 cách : (a) Dựa vào chênh lệch nguồn và sử
dụng nguồn; (b) Dựa vào lưu chuyển tiền tệ.
• Điều kiện áp dụng đối với loại hình cho vay ngắn hạn này thường là
những khách hàng đã có quan hệ tín dụng có uy tín với ngân hàng, có
25

Trích đoạn Định mức tín nhiệm của chi nhánh HQV với một công ty Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status