ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
A. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI:
Bao gồm các phần sau:
Tìm hiểu về các Web server thông dụng hiện nay:
+ Microsoft Internet Information Server
+ Apache Web Server
Trình bày về đặc điểm về khả năng, cài đặt, vận hành, hỗ trợ các ứng
dụng Web và so sánh các điểm mạnh, yếu, các ưu nhược điểm giữa chúng.
Tìm hiểu về hệ thống mailing list: Tìm hiểu về các nghi thức truyền nhận
mail cơ bản như SMTP và POP3.
Tìm hiểu cách vận hành và cài đặt của các hệ thống mail trên các hệ điều
hành thông dụng:
+ Internet Mail.
+ Linux Mail.
B. CƠ SỞ LÝ THUYẾT:
CHƯƠNG I
TÌM HIỂU VỀ CÁC WEB SERVER THÔNG DỤNG
I. GIỚI THIỆU VỀ HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS NT
1. Thếâ nào là một hệ điều hành mạng:
Mạng bao gồm các tài nguyên (máy trạm, máy in…) và các thiết bò truyền
thông (router, bridge). Với việc ghép nối các máy tính thành mạng thì cần thiết
phải có một hệ thống phần mềm có chức năng quản lý tài nguyên, tính toán và
xử lý truy cập một cách thống nhất trên mạng, hệ như vậy được gọi là hệ điều
hành mạng. Mỗi tài nguyên của mạng như file, đóa, thiết bò ngoại vi được quản
lý bởi một tiến trình nhất đònh và hệ điều hành mạng điều khiển sự tương tác
giữa các tiến trình và truy cập đến các tiến trình đó.
Quản lý các tài nguyên: tập tin ở xa, nạp và chạy các App dùng chung, I/O
với các thiết bò mạng dùng chung, chỉ cấp phát CPU trong tiến trình NOS.
Căn cứ vào việc truy cập tài nguyên trên mạng mà người ta chia thực thể
trong mạng thành hai loại chủ và khách, trong đó máy khách (Client) truy cập
nhau. Hai bản này gọi là Windows NT Workstation và Windows NT server. Với
hệ điều hành chuẩn của NT ta có thể xây dựng mạng ngang hàng, server mạng
và mọi công cụ quản trò cần thiết cho server mạng, ngoài ra còn có thể có nhiều
giải pháp về xây dựng mạng diện rộng. Cả hai bản Windows NT Workstation và
Windows NT server cùng được xây dựng trên cơ sở nhân NT chung và các giao
diện và cả hai cùng có những đặc trưng an toàn theo tiêu chuẩn C2. Windows NT
Workstation được sử dụng để kết nối những nhóm người sử dụng nhỏ, thường
cùng làm việc trong một văn phòng. Tuy nhiên với Windows NT server ta có một
khả năng chống hỏng hóc cao, những khả năng cung cấp dòch vụ mạng lớn và
những lựa chọn kết nối khác nhau, Windows NT server không hạn chế số người
có thể thâm nhập vào mạng.
Với Windows NT server ta cũng có những công cụ quản trò từ xa vào mạng
mà có thể thực hiện việc quản trò những máy tính ở xa. Nó tích hợp với tất cả
những sơ đồ mạng BUS, STAR, RING và hỗn hợp.
Windows NT là hệ điều hành có sức mạnh công nghiệp đầu tiên cho số
lượng khổng lồ các máy tính IBM compatible, Windows NT là một hệ điều hành
thực sự dành cho người dùng, các cơ quan, các công ty xí nghiệp. Windows NT là
một hệ điều hành đa nhiệm, đa xử lý với đòa chỉ 32 bit bộ nhớ. Nó yểm trợ các
trang 2
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
ứng dụng của DOS, Windows, Win 32 GUI và các ứng dụng dựa trên ký tự.
Windows NT server là hệ điều hành mạng, đáp ứng cho mạng cục bộ (LAN) vừa
đáp ứng cho mạng diện rộng (WAN) như Intranet, Internet.
Windows NT server hơn hẳn các hệ điều hành khác bởi tính mềm dẻo, đa
dạng trong quản lý. Nó vừa cho phép quản lý mạng theo mô hình mạng phân
biệt (Client/Server) vừa quản lý theo mô hình mạng ngang hàng (Peer to Peer).
Windows NT server đáp ứng tốt nhất các dòch vụ viễn thông, một dòch vụ
được sử dụng rộng rãi trong tương lai.
Windows NT server cài đặt đơn giản, nhẹ nhàng và điều quan trọng nhất là
nó tương thích với hầu như tất cả các hệ mạng, nó không đòi hỏi người ta thay
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
HTML là nguồn sống của Web. Nó là một ngôn ngữ đánh dấu đơn giản
được sử dụng để đònh dạng văn bản. Trình duyệt thông dòch các thông tin đánh
dấu này và hiển thò các thông tin cần đáp ứng này với khả năng tốt nhất có thể.
Quan trọng hơn nữa, HTML cho phép liên kết với các tài liệu và tài nguyên
khác, đây là sự thể hiện tính siêu văn bản của Web.
Siêu văn bản cho phép người sử dụng xem một tài liệu khác lưu trữ ở trên
cùng một máy hoặc trong một máy khác đặt ở một nơi khác trên thế giới. Nó cho
phép thông tin tồn tại hầu như dưới dạng ba chiều. Người sử dụng không những
chỉ có thể đọc tài liệu mà còn có thể chuyển đến một chỗ khác.
Tiến trình tìm và mang thông tin về hoàn toàn trong suốt đối với người sử
dụng. Nó là một ngôn ngữ uyển chuyển và dễ sử dụng. Sự điều hướng thông tin
qua nhiều thông tin theo một cách đặc biệt. Nó cho phép ngwời sử dụng thu thập
thông tin một cách dễ dàng và hiển thò chúng theo cách mà người sử dụng dễ lựa
chọn nhất.
Nếu bất ngờ người sử dụng hỏi bằng cách nào để tạo ra một trang Web.
Thì họ sẽ giáp mặt với hàng loạt các vấn đề có liên quan mà họ cần phải tìm
hiểu trước khi bắt đầu viết mã một trang HTML đầu tiên. Vấn đề quan trọng
nhất và là lý do cơ bản nhất là phải lựa chọn phần mềm server nào để sử dụng,
với những thông tin cơ bản nhất mà cuốn báo cáo này cung cấp, sự lựa chọn có
lẽ là không khó.
Các vấn đề mà cần phải quan tâm khi lựa chọn một Web server để giao
phó công việc cho nó.
- Phần mềm trả tiền hay đươc miễn phí.
- Dễ cài đặt.
- Dễ cấu hình.
- Dễ mở rộng hoặc tuỳbiến một vài diện mạo của server.
- Các đặc trưng cơ bản.
- Sự phát triển liên tục.
- Hỗ trợ bảo mật.
và Java Component Nó cũng hỗ trợ các ứng dụng CGI dành cho các ngôn ngữ
lập trình Web cơ sở và ISAPI mở rộng và các bộ lọc.
1. Cài đặt IIS trên Windows NT server:
Microsoft cung cấp các chương trình cài đặt khá thân thiện để cài đặt IIS
trên Windows NT server. Các bước cơ bản là lấy chương trình từ NT Option Pack
hoặc tải từ Internet và chạy Setup.exe.
Windows NT Option Pack: IIS là một thành phần của Windows NT Option
Pack. Một bộ Windows NT Option Pack sau khi cài đặt đầy đủ phải bao gồm các
thành phần sau:
Microsoft Transaction Server. (MTC)
Microsoft Management Console. (MMC)
Microsoft Index Server.
Microsoft Certificate Server.
Microsoft Site Server Express. (SSE)
- MTS là một thành phần cơ bản giải quyết các tiến trình hệ thống cho các
quá trình phát triển, phá huỷ và quản lý sự thi hành ở mức cao và các ứng dụng
server mạnh.
- MMC là một ứng dụng xuyên suốt phân chia các công cụ quản lý mà nó
có thể đưa ra các cách để quản trò các chương trình mạng, thêm vào đó MMC
được kết hợp với các sản phẩm của Microsoft như: Windows NT và tất cả các
sản Office.phẩm thuộc MS Back
Trong khi MMC tự nó không đưa cho người sử dụng bất kỳ một chức năng
nào được thêm vào cả mà chỉ cung cấp một môi trường chung cho snap-ins.
Snap-ins cung cấp môi trường quản trò ảo cho mỗi sản phẩm tương thích của nó.
trang 5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Snap-ins được trình bày trong IIS như là một dòch vụ quản lý Internet (ISN). Khi
IIS khởi động, MMC cũng sẽ được khởi động và nạp vào snap-ins.
Trong tương lai tất cả các sản phẩm của MS Back Office bao gồm cả
Windows, Windows NT, các công cụ quản trò mạnh sẽ được chuyển sang MMC.
+ Các phần mở rộng CGI: Các API này cho phép người sử dụng viết các
CGI DLL mà nó ở trong vùng bộ nhớ giống như IIS. Đây là sự khác biệt từ một
CGI bình thường có thể thi hành, mà nó là một tiến trình rời rạc. Sử dụng các
phần mở rộng này làm tăng khả năng thi hành của server và làm giảm bộ nhớ
yêu cầu.
trang 6
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
+ Bộ lọc: Các API này có thể được sử dụng để viết các DLL mà nó ngăn
chặn tất cả khảng năng tải HTTP đang được nhận bởi server. Một ứng dụng có
thể được viết mà nó thực hiện nén, giải nén, mã hóa, giải mã hoặc thêm vào các
xác thực.
+ Internet Service Manager:
Công cụ này được sử dụng để cấu hình và theo dõi tất cả các IIS trên một
mạng. Nó sử dụng RPC để cấu hình IIS trên một máy khác.
+ Các ứng dụng client:
IIS hỗ trợ các giao thức HTTP, Gopher, FTP và các client những giao thức
này như là các trình duyệt : Internet Explorer, Netscape.
+ Internet Database Connector (IDC):
- Với IDC người sử dụng có thể:
- Truy cập ODBC tương thích với các cơ sở dữ liệu.
- Tạo trang Web quản lý cơ sở dữ liệu.
- Chèn, cập nhật và xóa thông tin cơ sở dữ liệu do người sử dụng muốn
nhập vào từ trang Web.
- Thực hiện các câu lệnh SQL khác.
3. IIS WWW Server:
WWW là một bộ tập hợp các thông tin của client và server. Dữ liệu siêu
văn bản (hyper text) được chia xẻ bởi các server đang chạy phần mềm Web và
được truy cập bởi các client đang chay một phần mềm ứng dụng Web gọi là trình
duyệt Web.
WWW server cung cấp các thông tin phân tán và phần mềm, nhưng theo
WWW cung cập một cách dễ dàng nhất để truy cập dữ liệu trên Internet
hoặc trên mạng Intranet của các công ty.
A) CÁC TIỆN LI CỦA VIỆC SỬ DỤNG DỊCH VỤ WWW:
- Trình duyệt WWW hỗ trợ nhiều kiểu dữ liệu. Một trình duyệt WWW có
thể tự động tải xuống và hiển thò các file văn bản, hình ảnh, chạy video, sound
clip và khởi chạy các ứng dụng trợ giúp cho tất cả các loại file phổ biến. Người
sử dụng không cần biết trình duyệt tải xuống hoặc sử dụng các file dữ liệu ở xa
như thế nào chỉ đơn giản là trình duyệt đã giúp ta trong việc tải xuống và hiển
thò các file.
Một ví dụ: Một WWW client đang mở một file ảnh BMP, người sử dụng
sẽ thấy nó hiển thò ngay lập tức nó trong cửa sổ ứng dụng của WWW client. Nếu
sử dụng một ứng dụng khác, chẳng hạn như FTP sẽ chỉ tải file xuống và lưu trên
đóa, người sử dụng sẽ phải chạy một ứng dụng khác chẳng hạn như Paint Bruh để
xem nó.
- Trình duyệt WWW hỗ trợ nhiều giao thức. Trình duyệt WWW không có
giới hạn để truy cập chỉ một kiểu server. Trình duyệt WWW hỗ trợ nhiều giao
thức để truy cập file trên một FTP server, các bảng chọn trên Gopher server,
Newgroups và tài nguyên WWW.
B) GIỚI THIỆU VỀ GIAO THỨC HTTP:
HTTP là một giao thức được sử dụng chủ yếu trên Internet ngày nay.
HTTP là một giao thức đi tiên phong trong sự phát triển Web. Nó có một đặc
điểm chung là tính không biên giới.
Giao thức hướng đối tượng này được sinh ra từ sự cần thiết cho một giao
thức toàn cầu để làm đơn giản việc truy cập vào Internet.
HTTP là một giao thức client/server nằm ở tầng ứng dụng của mô hình
phân tần Internet. Bằng việc mở rộng những phương thức hay dòng lệnh, người
sử dụng có thể sử dụng HTTP cho nhiều chức năng khác nhau, kể cả chức năng
quản lý hệ thống tên server và các đối tượng phân tán. HTTP không ngừng được
cải tiến, dẫn đến việc W3C được đưa ra vào năm 1994 đã phát triển thành một
tiêu chuẩn chung cho Web.
yêu cầu chứa trong dòng lệnh yêu cầu. Server sau đó sẽ trả lời.
Dòng Status : Chỉ ra yêu cầu thành công hoặc bò lỗi.
Message Header Field: Nó cung cấp các thông tin về server và kiểu dữ
liệu trả về.
Dữ liệu trả lời: Đây là dữ liệu yêu cầu ở dạng bit.
4/ Đóng kết nối.
D) GIỚI THIỆU VỀ SECURE SOCKETS LAYER (SSL)
SSL cung cấp một kết nối bảm đảm bằng cách mã hóa và giải mã dữ liệu.
Một SSL-enable server giống như IIS có thể kết nối với một SSL-enable client
chẳng hạn như trình duyệt Internet Explorer.
Giao thức SSL nằm ở tầng trình diễn OSI và di chuyển dữ liệu từ tầng ứng
dụng HTTP đến tầng chuyển vận TCP. Nó chòu trách nhiệm cho việc chứng
nhận, mã hóa và kiểm tra tính toàn vẹn của dữ liệu. Chức năng chứng nhận bảo
đảm rằng dự liệu được gửi đến đúng một server cần gửi và server thì bảo đảm.
Việc mã hóa dữ liệu bảo đảm dữ liệu không thể bò đọc bởi bất kỳ một người nào
khác ngoài server nhận. Giải mã dữ liệu bảm đảm dữ liệu không bò sửa đổi hoặc
thay thế trong quá trình truyền đi.
trang 9
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Khi một client kết nối đến một WWW server sử dụng SSL sẽ xảy ra các
tiến trình sau:
Client dành lấy chứng nhận server: Client và Server tự giới thiệu về chúng
lẫn nhau bằng thông điệp HELLO và trao đổi thông tin (chứa các phương thức
mã hóa) để sử dụng, tại phiên trao đổi thông tin, chứng nhận server (chứa một
khoá công khai ủa server) và dữ liệu ngẫu nhiên sẽ được truyền đi.
Client xác minh server: Client xác minh chứng nhận server từ một chứng
thực và sau đó sử dụng nó để gửi một thông điệp để xác thực server. Nếu server
không chuyển lại việc xác thực là đúng, client sẽ cảnh báo cho người sử dụng
“server is not who it claims to be “ hoặc có thể là một “trojan” server.
Client/server xác nhận khóa chứng thực để sử dụng cho phiên này:
C:\inetpub\wwwroot
Sub Dir:
Sub Dir là một thư mục kế thừa một ánh xạ URL từ một cấu trúc hệ thống
file. Ví dụ, nếu thư mục này đã tồn tại:
C:\intetpub\wwwroot\sale3
Sau đó, URL này cũng đã tồn tại:
http://www.myserver.com/sales
Thư mục con không cần được đònh nghóa đến Web server bởi người quản trò
hệ thống. Bởi vì chỉ cần tạo ra một thư mục cha bằng Explorer là thư mục sẽ
được tạo, không cần phải điều chỉnh trong cấu hình IIS.
Virtual Root:
Virtual Root là một thư mục con của một URL mà nó được ánh xạ đến các
thư mục trong hệ thống file mà không thừa kế sự tồn tại của các hệ thống file
này.
Ví dụ: Nếu người sử dụng muốn site của họ chứa trong một URL đến:
C:\inetpub\maketing\website\extenal
Thư mục ảo sẽ tạo ra một Web site hiển thò như thể nó là một cấu trúc thư
mục khác hơn hiện tại nó có trong hệ thống file.
Khi nào thì cần sử dụng thư mục ảo:
Thư mục ảo được sử dụng khi thư mục con không được sử dụng. Bởi vì thư
mục con không giống như một Web server và chúng không có tất cả chức năng
của một thư mục ảo, chúng có thể được dùng ở mọi nơi. Thêm vào đó, thư mụ
con còn tổ chức tất cả các file chứa trong một nơi trung tâm cho các Web site.
Các thư mục ảo dược dùng khi tất cả các file trong thư mục ảo không thể
chứa được trên cùng một ổ đóa. Ví dụ: Nếu người sử dụng có một Web site mà
lớn hơn 2 Gb họ không thể chứa tất cả chúng trên cùng một ổ đóa. Trong trường
hợp này họ sẽ cần đến các Web site phân tán trong nhiều thư mục ảo trên các
thư mục ở mỗi ổ đóa. Để làm được người sử dụng phải chia Web site của họ lên
nhiều đóa. Về mặt lý thuyết, các truy cập ngẫu nhiên ngang qua nhiều ổ đóa sẽ
nhanh hơn các truy cập trên cùng một đóa.
bảng thuộc tính của Web site đó. Sau khi một file được tạo ra thì các thuộc tính
được cấu hình ở mức file.
6. Bảng thuộc tính WWW:
Dòch vụ WWW trên IIS có thể cấu hình 9 bảng thuộc tính sau:
Web Site: Sử dụng bảng thuộc tính Web Site để thiết lập sự nhận biết Web
site, chỉ rõ số kết nối cho phép và cho phép hoặc cấm truy cập vào một Web
site.
Operators: Sử dụng bảng thuộc tính Operators để điều khiển các tài khoản
người dùng nào có quyền quản trò các Web site của người sử dụng.
Performance: Sử dụng bảng thuộc tính Performance để điều chỉnh cho thật
tốt sự thi hành của các Web site.
ISAPI filter: Sử dụng bảng thuộc tính ISAPI filter chứa các bộ lọc ISAPI.
Người sử dụng có thể sử dụng ISAPI để chạy các ứng dụng từ xa. Yêu cầu một
URL mà nó ánh xạ đến một bộ lọc đang hoạt động tại các ứng dụng đó. Có thể
sử dụng các thông sô cài đặt của nó để ánh xạ một tên file đến bộ lọc cho phép
trên một Web server.
Home Direcory: Sử dụng bảng thuộc tính Home Direcory để thay đổi thư
mục chứa các Web site và điều chỉnh các thuộc tính của nó.
Document: Sử dụng bảng thuộc tính Document để chỉ đònh một tài liệu mặc
đònh và gán các chức năng mặc đònh cho Web site.
Directory Security: Sử dụng bảng thuộc tính Directory Security để cấu
hình các tính năng bảo mật cho Web server.
trang 12
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
HTTP Header: Sử dụng bảng thuộc tính HTTP Header để thiết lập các gia
trò trả về của trình duyệt trong phần header của một trang HTML.
Custom Error: Sử dụng bảng thuộc tính Custom Error để liệt kê các thông
báo trả về trình duyệt dành cho các lỗi HTTP.
7. Cấu hình WWW
- Chia xẻ thư mục, file:
IIS (WWW hoặc FTP) nhưng nó xuất hiện trong suốt đối với người sử dụng vào
các Web site này.
trang 13
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Thư mục ảo tăng khả năng linh hoạt cho việc người sử dụng quyết đònh
lưu trữ file ở đâu trên server của họ. Bằng cách sử dụng các thư mục ảo để có
thể cập nhật và truy cập dễ dàng nhất. Nó cũng cho phép tăng thêm dung lượng
lưu trữ cho Web site mà không cần phải tắt server.
Thư mục ảo có thế thiết lập cho cả dòch vụ WWW lẫn FTP chạy trên IIS.
Thư mục ảo có thể tạo ra các thư mục đònh vò ở:
- Trên cùng một đóa: Như là các thư mục chủ WWWroot hoặc FTProot.
- Một đóa ở một máy khác trong mạng cục bộ.
- Ở một đóa của máy khác trên mạng, mà máy này phải cùng tên miền với
máy có dòch vụ IIS.
a) Thư mục ảo cục bộ:
Người sử dụng có thể tạo ra các thư mục ảo cục bộ cho các thư mục được
lưu trữ trên bất kỳ đóa nào trên một máy tính được cài đặt IIS.
Khi cấu hình mộït thư mục ảo cục bộ, người sử dụng phải cài đặt một biệt
danh cho thư mục. Biệt danh này có thể là tên thư mục hoặc một tên bất kỳ nào
khác mà nó nhận diện một Web site đến người sử dụng. Họ cũng phải cung cấp
một đường dẫn đầy đủ cho thư mục ảo.
b) Thư mục ảo từ xa:
Sử dụng thư mục ảo từ xa cho các thư mục đã được cài đặt trên các máy
khác với tên miền của máy đã cài đặt IIS.
Cũng như đối với các thư mục ảo cục bộ, khi người sử dụng cấu hình một
thư mục ảo từ xa, họ được yêu cầu tạo một biệt danh cho thư mục và phải cung
cấp một một đia chỉ cho thư mục tuân theo quy ước UNC (quy ước đặt tên đòa chỉ
toàn cục). Để truy cập thư mục với một UNC, phải nhập vào một tên của người
sử dụng và password phù hợp. Tên người sử dụng và password sẽ được sử dụng
bởi người truy cập vào dữ liệu chứa trong thư mục ảo.
miền. Tuy nhiên chỉ site WWW mới có thể sử dụng Host Header. Server ảo cũng
tập trung hóa việc áp dụng và đơn giản hóa việc nâng cấp các phần mềm server.
Việc host nhiều server ảo lên cùng một máy có thể giảm bớt sự thi hành
của phía server nói chung và server ảo sử dụng Host Header đòi hỏi một giao
thức HTTP phiên bản 1 tương hợp với trình duyệt Web.
Host Header:
Khả năng của các Host Header của HTTP phiên bản 1 cho phép người sử
dụng kết hợp nhiều tên của máy Host với chỉ một đòa chỉ IP. IIS sử dụng thông
tin Host Header để đổi đòa chỉ các tên khác nhau của server ảo. Để sử dụng Host
Header người sử dụng phải chuyển đổi từ Host name thành đòa chỉ IP sử dụng cả
hệ thống tên miền (DNS) server hoặc các file của các Host. Chức năng của file
host là hỗ trợ sự chuyển đổi từ các tên Host thành các đòa chỉ IP.
Chú ý:
IIS cung cấp các trình duyệt Web không tương thích với một danh sách các
server tương thích với đòa chỉ IP cho trước. Khi người sử dụng chọn một server,
một cookie mới sẽ được thay thế trên ổ đóa của người sử dụng và cookie này sẽ
được sử dụng cho những lần truy cập sau đến server ảo.
10. IIS FTP Server:
FTP là một giao thức được dùng để truyền nhận file giữa hai máy trên
mạng Internet.
FTP là một giao thức ra đời sớm nhất được sử dụng trên mạng TCP/IP và
mạng Internet. Mặc dù WWW đã thay thế hầu hết các chức năng của FTP, FTP
vẫn còn được sử dụng để chép một file từ một client đến một server trên
Internet. Không như HTTP, FTP sử dụng 2 cổng, một để truyền và một để nhận
trang 15
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
file. Như vậy FTP vẫn còn có hiệu lực hơn HTTP cho những tác vụ đặc biệt của
việc truyền file.
Để sử dụng FTP truyền file giữa hai máy, cả hai máy đều phải có vai trò
riêng, một là FTP Client, một là FTP Server. FTP Client ra lệnh cho server tải
Messages. (Thông báo)
Home Directory. (Thư mục gốc)
Directory Secuity. (Bảo mật thư mục)
Trong suốt quá trình cài đặt, IIS gán các giá trò mặc đònh cho việc thiết lập
trên các bảng thuộc tính khác nhau. Người sử dụng có thể dùng chung các tài
liệu trên site FTP của họ mà không phải thay đổi các thiết lập mặc đònh này
trang 16
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
nhưng cũng dễ dàng trong việc thay đổi các thuộc tính được thiết lập theo ý
thích.
Mỗi site FTP được tạo ra và mỗi file ứng với mỗi site FTP đều có một
thuộc tính riêng mà người sử dụng có thể điều chỉnh để tuỳ biến những cấu hình
thiết lập tên từng site một hoặc từng file một. Họ cũng có thể điều chỉnh việc
thiết lập các thuộc tính mặc đònh các site và các file con đã thiết lập tuỳ biến
trước đó.
Có 3 kiểu (hoặc các lớp) của các bảng thuộc tính FTP với IIS và chúng
tương tự như 3 lớp của bảng thuộc dùng trên các site WWW. Các lớp thuộc tính
FTP gồm: Master, Dedault và File. Người sử dụng có thể tuỳ biến cấu hình của 3
kiểu thuộc tính này của bảng thuộc tính nhưng khi thay đổi cấu hình ở một nơi
nào đó thì nó cũng ảnh hưởng đến các site và các file con mà họ đã tạo.
b) Bảo mật FTP
Các đặc trưng bảo mật của dòch vụ FTP cũng giống như dòch vụ WWW.
Khác nhau cơ bản ở chỗ không có giao thức cho việc thiết lập bảo mật dữ liệu
của FTP giống như HTTP và SSL
- Truy cập phía server: Dòch vụ i có thể được cấu hình trên trang thuộc tính
Security Account cho các kết nối đến client và những đòa chỉ IP đặc biệt. Đây là
một cách tốt để ngăn chặn những người sử dụng không mong muốn truy cập vào
server.
- Truy cập phía người dùng: Dành cho các server với các file chung, các
client thường kết nối dưới một tên người dùng ẩn danh. Nếu dòch vụ FTP được
những câu hỏi: Người sử dụng có thể làm gì để dễ dàng giữ gìn Web site của
mình? Các quy ước nào sẽ làm đơn giản Web site của họ?
3. Cài đặt Apache trên Windows:
Chạy file Apache.msi đã tải Apache về, người sử dụng sẽ phải nhập các
thông tin sau:
- Có hay không việc chạy Apache cho tất cả mọi người sử dụng (như một
dòch vụ) hoặc cài đặt Apache để chạy trên một cửa sổ giao tiếp khi chọn shortcut
khởi động Apache.
- Tên Server, tên miền và tài khoản email của người quản trò.
- Tên thư mục để cài Apache vào (mặc đònh là C:\Program Files\Apache
Group\Apache mặc dù người sử dụng có thể thay đổi sang một thư mục bất kỳ
mà họ muốn)
- Kiểu cài đặt. Chức năng “Complete” sẽ cài đặt mọi thứ, bao gồm cả mã
nguồn nếu người sử dụng đã tải về gói –srm.msi. Chọn cài đặt “Custom” nếu
không muốn chọn cài đặt tài liệu hoặc mã nguồn từ gói cài đặt này.
Trong suốt quá trình cài đặt Apache sẽ cấu hình các file trong thư mục
conf cho thư mục lựa chọn cài đặt của người sử dụng, tuy nhiên nếu bất kỳ
những file nào trong thư mục này đã tồn tại chúng sẽ không bò chép chồng lên.
Sau khi cài đặt xong, người sử dụng sẽ phải sửa đổi các file cấu hình trong
thư mục conf. Những file này sẽ được cấu hình trong suốt quá trình cài đặt để
sẵn sàng cho Apache chạy từ thư mục mà họ đã cài đặt vào với các tài liệu phục
vụ từ thư mục con htdocs. Có rất nhiều chức năng trước khi bắt đầu thực sự sử
dụng Apache. Tuy nhiên, để việc khởi động nhanh chóng các file này nên làm
việc theo các cài đặt mặc đònh.
Nếu người sử dụng tháo cài đặt Apache khỏi hệ thống, các cấu hình và
các file log sẽ không được gỡ ra. Người sử dụng phải sẽ cần phải xóa các cây
trang 18
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
thư mục đã cài đặt (mặc đònh là C:\Program File\Apache Group\Apache) nếu
người sử dụng không muốn giữ các cấu hình của họ và các file Web khác. Từ khi
Apache có chứa khoảng trắng.
Ngoài ra để Stop Apache trên cửa sổ giao tiếp còn có thể ấn tổ hợp phím
Ctrl + C hoặc Ctrl + Break.
b) Chạy Apache trên cửa sổ giao tiếp:
Một khi đóng cửa sổ giao tiếp sẽ kết thúc việc chạy Apache.
Tại biểu tượng Start menu và trình Windows NT Service Manager có thể
cung cấp một giao diện đơn giản để quản trò Apache. Nhưng dễ dàng nhất để
làm việc là từ dòng lệnh.
trang 19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Khi làm việc với Apache điều quan trọng nhất là việc tìm các file cấu
hình. Người sử dụng có thể chỉ ra file cấu hình bằng hai cách (dùng các dòng
lệnh):
* -f chỉ đến đường dẫn một file cấu hình:
apache –f c:\myserver\conf\my.conf
apache –f test\test.conf
* -n đường dẫn đến một file cấu hình của một dòch vụ Apache đã được cài
đặt.
apache –n “service name”
Trong các trường hợp trên, Server Root phải được thiết lập trong file cấu
hình.
Nếu người sử dụng chỉ ra một tên file cấu hình với –n và –f. Apache sẽ sử
dụng tên file được biên dòch ở trong server, thường là “conf/httpd.conf”. Gọi đến
Apache với ký hiệu chuyển đảo –v sẽ hiển thò các giá trò đã đánh nhãn
SERVER-CONFIG-FILE. Apache sẽ quyết đònh ServerRoot của nó bằng các
cách sau:
- Một chỉ thò SeverRoot qua ký hiệu chuyển đảo –c.
- Ký hiệu chuyển đảo –d trên dòng lệnh.
- Thư mục đang làm việc hiện thời.
- Một khóa registry được tạo nếu người sử dụng cài đặt nhò phân.
Apache sẽ đọc lại các file cấu hình cho phép thực hiện bất kỳ một tiến trình nào
để hoàn thành mà không xảy ra gián đoạn. Bất kỳ một yêu cầu nào cũng sẽ
được phục vụ với việc sử dụng cấu hình mới.
5. Kiểm tra Apache trên Windows:
Chạy Command Prompt danh sách Program của trình đơn Start.
Chọn thư mục đã cài đặt Apache vào và gõ lệnh apache và đọc các thông
báo lỗi (nếu có). Sau đó xem lại file error.log cho các cấu hình bò thiết lập sai.
Nếu người sử dụng chấp nhận mặc đònh khi cài đặt Apache, các dòng lệnh sẽ là:
c:
cd "\program files\apache group\apache"
apache
Wait for Apache to exit, or press Ctrl+C
more <logs\error.log
Sau khi xem file error.log người sử dụng sẽ thấy một vài vấn đề bò lỗi và
họ có thể sửa chữa và khởi động lại một lần nữa.
Sau khi khởi động, Apache sẽ chạy (như ở cửa sổ giao tiếp hoặc như một
dòch vụ) và sẽ bắt đầu lắng nghe ở cổng 80, trừ phi người sử dụng thay đổi Port,
Listen hoặc BindAddress (trong file cấu hình). Hãy thực hiện kết nối đến server
và truy cập trang Web mặc đònh bằng cách mở trình duyệt và nhập vào URL sau:
http://localhost/
Trình duyệt sẽ trả lại một trang Welcome và một liên kết đến sổ hướng
dẫn Apache như sau:
trang 21
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Nếu không người sử dụng sẽ nhận được một thông báo lỗi, có thể xem lại
file error.log trong thư mục log. Nếu máy tính không nối mạng, họ có thể sử
dụng URL sau đây:
http://127.0.0.1/
Một khi các cài đặt cơ sở đang làm việc, người sử dụng phải cấu hình các
thuộc tính của nó bằng cách sửa đổi nội dung các file trong thư mục conf.
từ một người quản trò cá nhân cho phép một server đơn giản trên mạng và chạy
như nhiều máy khác nhau thay vì dành cho phần cứng và tiền bạc để mỗi site
được đưa lên, một vài server cấu hình các lệnh để đưa ra các kết quả như nhau:
một virtual site. Bởi vì phí tổn để cài đặt một server có thể chia xẻ cho nhiều
site, thời gian để cấu hình và quản lý Web site được giảm đi rất nhiều.
Virtual host đã đem lại một khía cạnh chắc chắn của việc tạo ra một trang
Web di động. Khi một site là ảo, nó dễ dàng di chuyển đến một Web server khác
trong cùng một mạng hoặc ở một nơi nào khác. Đây chính là vấn đề của việc
chuyển chỗ các trang HTML của các site đến một máy mới và điều chỉnh các
thông tin DNS (Domain Name Server) của site đưa lên một server mới. Để việc
thích nghi với DNS được cập nhật, đơn giản chỉ cần tạo ra sự đổi hướng trên
server cũ . Điều này cho phép sự lưu thông được trôi chảy mà không có sự sai
sót, đó là một vấn đề quan trọng với các site đang lớn mạnh đang được lưu thông
để tạo ra kinh doanh.
Về mặt lòch sử, khi người sử dụng muốn một site đang host sử dụng tên
miền của họ, sự lựa chọn có thể được là mua hoặc thuê một máy tính và dùng nó
để cấu hình như một Web server. Phải chòu các phí tổn để tiêu tốn cho việc quản
lý server này. Các phí tổn này dễ thường là rất lớn, việc này đã thúc đẩy các nhà
cung cấp dòch vụ Internet (ISP) thêm vào các cách để hỗ trợ nhiều Web site trên
một host, điều này dẫn đến một vài giải pháp gần đây, chẳng hạn như Home
Page Approach.
Home Page Approach tạo ra một đòa chỉ giống như:
http://www.isp.dom/~name.
Home Page Approach là một cách thích hợp để phục vụ các trang người
dùng cục bộ. Nhưng khi dùng nó để phục vụ cung cấp thông tin lớn và đang được
truy cập thường xuyên bởi một số lớn người sử dụng thì việc này sẽ tạo ra một
đòa chỉ tồi mà rất khó nhớ, tên nhạp vào dài, dễ xảy ra sai sót phía người sử dụng
và trông không được chuyên nghiệp lắm.
Xây dựng một virtual host:
Các phạm vi liên quan của virtual host, virtual site và multihomed server
multihome là DNS. DNS cung cấp một tên máy đến dòch vụ chuyển sang IP. Khi
tên máy được đánh số, con người thích sử dụng tên máy hơn. DNS chuyển các
tên sang số và các số sang tên. Sự thay đổi này có ý nghóa là nếu người sử dụng
kết nối với Internet, và đang chạy với một tên server . Nếu không thì ngược lại
không một ai khác chạy nó. Nếu người sử dụng không phải đang chạy với DNS
của chính mình, họ sẽ cần phải ngang hàng với quyền quản trò mạng của chính
mình để thi hành bất kỳ sự thêm vào hoặc thay đổi DNS.
8. Cấu hình Apache trên Windows:
a) Các file cấu hình của Apache server:
Web server sẽ đọc 3 file chứa các chỉ thò cấu hình. Bất kỳ một chỉ nào nào
được hiển thò trong các file này đều sẽ được thực hiện.
Conf/httpd.conf: Chứa các chỉ thò mà nó điều khiển sự thi hành của
server. Tên file có thể được lướt qua với ký hiệu khả chuyển –f.
trang 24
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Nguyễn Ngọc Bình
Conf/srm.conf: Chứa các chỉ thò mà nó điều khiển sự chỉ đònh các
tài liệu mà server cung cấp cho các client. Tên file có thể được lướt qua với chỉ
thò ResourceConfig.
Conf/access.conf: Chứa các chỉ thò mà nó điều khiển sự truy cập các
tài liệu. Tên file có thể được bỏ qua với chỉ thò AccessConfig.
b) Thiết lập cấu hình Apache trên Windows:
Apache được cấu hình bởi các file trong thư mục conf. Các file này cũng
giống như các file được sử dụng để cấu hình cho Unix nhưng có một vài chỉ thò
khác cho Apache trên Windows.
Quá trình cấu hình sẽ được bắt đầu bằng cách tham khảo httpd.conf và các
chỉ thò của nó. Mặc dù các file access.conf và srm.conf còn tồn tại song chúng là
những file cũ mà không được sử dụng nhiều bởi hầu hết các nhà quản trò và
người sử dụng sẽ không tìm thấy bất kỳ chỉ thò nào ở đó.
Httpd.conf chứa rất nhiều các tư liệu của chính nó, được sinh ra bởi các chỉ
thò cấu hình mặc đònh gửi gắm khi khởi động với Apache server. Bắt đầu bằng