mục lục
A. lời nói đầu.
B.nội dung.
phần i. Cơ sở lý luận và mối quan hệ của quan điểm toàn diện trong
nền kinh tế thị trờng ở nớc ta.
I. Cơ sở lý luận và mối quan hệ của quan điểm toàn diện.
1. Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện.
2. Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến của sự vật.
II. Việc vận dụng quan điểm toàn diện trong triết học Mác - Lênin vào
hoạt động nền kinh tế thị trờng.
1. Khái niệm nền kinh tế thị trờng.
2. Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động nền kinh tế thị trờng.
Phần II.Vận dụng những yêu cầu của quan điểm toàn diện để phân tích
việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng ở nớc ta.
I. Những yêu cầu của quan điểm toàn diện.
II. Vận dụng quan điểm toàn diện vào việc chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trờng ở Việt Nam.
1. Chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc trong việc chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trờng.
1
2. Kinh tế thị trờng dới sự quản lý của Nhà nớc ở Việt Nam.
phần iii. Một số kiến nghị và giải pháp.
1. Nền kinh tế các nớc trên thế giới.
2. Một số kiến nghị và giải pháp của Đảng và Nhà nớc ta để nâng cao sự
phát triển của nền kinh tế thị trờng.
c. tài liệu tham khảo.
2
A-LờI nói đầu.
Xã hội loài ngời đã tồn tại và phát triển trong quá trình lịch sử lâu dài,
đã trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội và luôn gắn liền với hoạt động lao
động sản xuất ra của cải vật chất. Hay sản xuất ra của cải vật chất là nền
tiểu luận của mình. Chính là việc kết hợp giữa học tập và nghiên cứu thực tế
làm hiểu rõ và sâu hơn về nền kinh tế nớc ta. Em xin chân thành cảm ơn thày
giáo PGS Vũ Ngọc Pha đã hớng dẫn em hoàn thành bài tiểu luận đầu tay
này.
4
B-NộI DUNG.
phần I: cơ sở lý luận và mối quan hệ của quan điểm
toàn diện trong nền kinh tế thị trờng của nớc ta.
I - cơ sở lý luận và mối quan hệ của quan điểm toàn
diện.
1 - Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện.
Triết học ra đời vào khoảng thế kỷ VI tr.CN và đợc tiếp nối cho đến
ngày nay với những thành tựu rực rỡ. Triết học là hình thái xã hội, vì thế từ
khi ra đời triết học Mác - Lênin đã trở thành cơ sở lý luận cho mọi khoa học
khác và là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tích cực của xã hội. Những quy
luật mà triết học Mác - Lênin phát hiện nó đã giúp con ngời nhận thức đúng
đắn hơn vvè thế giới khách quan, từ đó tích cực lao động sản xuất cải tạo thế
giới nâmf phục vụ cho cuộc sống con ngời.
Một trong những quan điểm đúng đắn mà chủ nghĩa Mác - Lênin đa
ra phải kể đến quan điểm toàn diện. Nội dung của quan điểm toàn diện là:
"Khi con ngời xem xét sự vật hoạt động thì phải tìm ra đợc hết các mối liên
hệ vốn có của nó đồng thời có sự phân loại và đánh giá vai trò của từng mối
liên hệ một. Từ đó thấy ra đợc sự vật với tất cả các mặt, các yếu tố, các thuộc
tính khác nhau của nó".
Xét về mặt lý luận thì quan điểm này là hoàn toàn đúng đắn và tuân
theo quy luật khách quan. Thật vậy, muốn xem xét đánh giá một sự vật nào
đó ta cần xem xét một cách toàn diện dới mọi góc độ, mọi phơng diện và đặt
nó trong mối liên hệ với sự vật khác để tánh rơi và sự đánh giá phiến diện
5
nh những mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác.
II - việc vận dụng quan điểm toàn diện trong triết
học mác - lênin vào hoạt động nền kinh tế thị trờng.
1 - Khái niệm về kinh tế thị trờng.
"Một nền kinh tế mà trong đó các vấn để cơ bản của nó do thị trờng
quyết định đợc xem là nền kinh tế thị trờng". Trong nền kinh tế thị trờng là
hàng loạt những quy luật kinh tế của nó nh: quy luật cạnh tranh, quy luật giá
trị, quy luật cung cầu, quy luật lu thông tiền tệ Cơ chế hoạt động của nền
kinh tế thị trờng tuân theo những quy luật trên đó chính là cơ chế thị trờng.
"Cơ chế thị trờng đợc hiểu là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế vốn có của nó.
Cơ chế đó giải quyết ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế là: cái gì? nh thế
nào? và cho ai? Cơ chế thị trờng bao gồm các nhân tố cơ bản là cung - cầu
và giá cả thị trờng".
2 - Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động nền kinh tế thị trờng.
Mọi hệ thống kinh tế đợc tổ chức để huy động tối đa các nguồn lực
của xã hội và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó để sản xuất ra hàng hoá
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Vì thế, vấn đề cơ bản của hoạt động
kinh tế là làm thế nào đáp ứng tốt nhất các nguồn lực và tổ chức sản xuất,
đáp ứng tốt nhất nhu cầu hàng hoá của xã hội.
Theo quy luật của sự tồn tại thì lĩnh vực kinh tế cũng biện chứng. Đó
là kinh tế luôn đòi hỏi các nhà hoạt động kinh tế phải tuân theo nguyên tắc
7
toàn diện trong vấn đề sản xuất nh sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản
xuất nh thế nào. Tức là hoạt động sao cho hiệu quả kinh tế đem lại là lớn
nhất. Vậy làm thế nào để đáp ứng đợc nhu cầu đó.
Ta biết khi lý luận của triết học Mác - Lênin cha ra đời đã có những
hoạt động kinh tế nhng cha nắm bắt đợc các quy luật khách quan của thế
giới nên các hoạt động kinh tế còn mò mẫm và bị các quy luạat của tự nhiên
chi phối dẫn đến năng suất lao động còn thấp. Từ khi triết học Mác - Lênin
ra đời, các quan điểm đúng đắn của nó trở thành cơ sở lý luận làm kim chỉ
diện phân tích việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trờng ở nớc ta.
I - những yêu cầu trong quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện có những yêu cầu sau:
- Khi nghiên cứ xem xét sự vật hiện tợng phải đặt nó trong mối liên hệ
với các sự vật hiện tợng khác, xem vai trò của nó ảnh hởng đến sự vật hiện t-
ợng đó nh thế nào? Và xem xét sự tác động của các sự vật hiện tợng khác
ảnh hởng đến tính chất, đến xu hớng của sự vận động ra sao? Xem xét sự
liên hệ tác động giữa các yếu tố cấu thành sự vật, chỉ ra thực trạng và xu h-
ớng vận động của sự vật.
- Mối liên hệ của sự vật rất đa dạng phong phú song vai trò của từng
liên hệ đối với sự phát triênr của từng sự vật lại không giống nhau. Do đó,
9
khi xem xét sự vật hiện tợng phải đặc biệt quan tâm đến các liên hệ bên
trong, liên hệ bản chất tất yếu, liên hệ cơ bản. Vì những liên hệ này quy định
sự tồn tại, phát triển của sự vật, quy định tính chất và xu hớng vận động của
nó.
- Phải chống quan điểm siêu hình, quan điểm này phủ nhận mối liên
hệ phổ biến của sự vật hoặc nếu có thừa nhận thì chỉ thừa nhận những mối
liên hệ bên trong bên ngoài chứ không thấy mối liên hệ bản chất bên trong
của sự vật. Đó là một quan điểm sai lầm, nó không giúp cho chúng ta phản
ánh đúng đắn sự vật.
Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn đòi hỏi chúng
ta phải kết hợp chặt chẽ giữa "chính sách dàn đều" và "chính sách trọng
điểm". Trong khi khẳng định tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt,
các lĩnh vực của quá trình đổimới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng, nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực
chính trị, Đảng ta cũng xem đổi mới kinh tế là trọng tâm.
ii - vận dụng quan điểm toàn diện vào việc chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trờng ở việt nam.
áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào sản xuất.
Tuy nhiên, cơ chế thị trờng cũng có một số khuyết điểm đó là: chỉ thể
hiện đầy đủ khi có sự kiểm soát của cạnh tranh hoàn hảo, mục đích của các
doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa nên họ đã lạm dụng tài nguyên xã hội, gây
11
ô nhiễm môi trờng, các tệ nạn xã hội Do đó nền kinh tế thị trờng khó tránh
khỏi những thăng trầm, khủng hoảng.
Đảng và Nhà nớc ta cũng nhận rõ u khuyết điểm của cơ chế thị trờng.
Trên cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn bằng việc áp dụng nguyên tắc toàn
diện trong triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nớc ta đã xem xét một cách
tổng thể từ u điểm đến khuyết điểm, từ quá trình hoạt động và thành tựu đạt
đợc của các nớc phơng Tây mà không hề dập khuôn. Đảng và Nhà nớc ta đã
đặt nền kinh tế trị trờng vào điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam, xem xét
đánh giá, nhìn nhận nó dới mọi góc độ từ đó nắm vững bản chất của kinh tế
thị trờng với đầy đủ các mặt, các yếu tố và thuộc tính của nó.
Do vậy trong quan điểm của Đảng ta thể thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội với mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng và văn minh,
thì kinh tế thị trờng phải có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng Xã hội
chủ nghĩa.
Đến đại hội VII, Đảng ta cũng đã khẳng định: "Xây dựng nèn kinh tế
sản xuất hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc. Từng bớc kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể chiếm u thế về năng
suất, chất lợng, hiệu quả, qua đó giữ vị trí chi phối trong nền kinh tế".
Trong kinh tế thị trờng dới chủ nghĩa xã hội hình thức phân phối là:
"phân phối theo lao động". Việc Đảng và Nhà nớc đa ra chính sách phân
phối theo lao động là đúng và hợp với quy luật khách quan, xoá bỏ chế độ
ngời bóc lột ngời, thực hiện quyền làm chủ của ngời lao động đối với t liệu
sản xuất là dặc trng bản chất của kinh tế thị trờng dới xã hội chủ nghĩa. Nếu
để các hình thức phân phối khác sẽ dễ gây sự phân hoá sâu sắc hai cực giàu
nghèo trong xã hội.
nhân bỏ vốn làm giàu.
* Củng cố và phát triển các doanh nghiệp Nhà nớc trong những ngành
then chốt trên các vùng lãnh thổ và địa phơng, là lực lợng kinh tế giữ vai trò
chủ đạo của nền kinh tế quốc dân và nền tảng của nền kinh tế nhiều thành
phần. Nhờ chuyển sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa dới sự lãnh đạo của Đảng mà hơn 10 năm các ngành kinh tế đã đạt đ-
ợc.
* Trong công nghiệp: Từ một nền công nghiệp nhỏ bé, hiện nay công
nghiệp nớc ta đã đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế đất nớc. Các khu chế
xuất, khu công nghiệp và ba vùng kinh tế trọng điểm đã và đang liên kết giữa
các ngành công nghiệp theo hớng chuyên môn hoá hỗ trợ nhau cùng phát
triển. Công nghiệp có vốn đầu t FDI và công nghiệp trong nớc tăng trởng với
nhịp độ khác nhau và cạnh tranh với nhau đang góp phần hoàn thiện cơ chế
quản lý, mô hình tổ chức sản xuất, thúc đẩy sự tăng trởng chung của toàn
ngành công nghiệp. Nhờ máy móc thiết bị công cụ hiện đại của công nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài nên nhiều xí nghiệp công nghiệp trong nớc tham gia
liên doanh để đầu t chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị để nâng cao chất l-
ợng sản phẩm nhằm đứng vững trên thị trờng. Nếu nh trớc đây ta chỉ có một
số ngành công nghiệp nh khai khoáng, đóng tầu, dệt, may Thì nay đã phát
triển thêm các ngành công nghiệp mới nh: chế tạo máy, công nghiệp chế
biến thực phẩm, chế biến hàng tiêu dùng, công nghiệp điện tử, khai thác dầu
thô Đặc biệt ở Dung Quất - Quảng Ngãi đang xây dựng và xắp hoàn thành
nhà máy chế biến dầu thô - đây là nhà máy lọc dầu lớn vào loại nhất ở khu
vực Đông Nam á.
14
* Trong nông nghiệp: nớc ta từ một nền nông nghiệp lạc hậu, nghèo
nàn nay đã có nhiều đổi mới. Sự công nghiệp hoá hiện đại hoá đa máy móc
vào sản xuất nông nghiệp giải phóng sức lao động của nông dân. Việc áp
dụng KH-KT đa phân bón, thuốc trừ sâu, các giống lúa mới, kỹ thuật canh
tác mới vào sản xuất đã nâng cao năng suất lao động. Sản lợng nông nghiệp
ớc ta cũng không quên tính khách quan, tính duy vật của kinh tế. Vì vậy.
Đảng luôn đặt nền kinh tế vào trung tâm và so sánh nó với các mặt hoạt
động khác của đời sống xã hội. Để trong sự tồn tại và phát triển của xã hội
có sự nhịp nhàng, đồng bộ giữa các ngành, các lĩnh vực đảm bảo đa đất nớc
phát triển đi lên ngang bằng với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Kinh tế phát triển đi đôi với văn hoá, giáo dục, y tế đảm bảo về mặt
thể chất, dân trí cho nhân dân và giáo dục đạo đức t tởng cho học sinh, nâng
cao sự hiểu biết về văn hoá truyền thống của dân tộc cho thế hệ trẻ.
Đó là đờng lối đúng đắn của Đảng theo quan điểm toàn diện triết học
Mác - Lênin, đó là xem xét đánh giá một sự vật phải tìm ra các mối liên hệ
vốn có của nó, đánh giá vai trò của từng mối liên hệ để thấy đợc các mặt, các
yếu tố, thuộc tính của nó.
b. Trong 10 năm thực hiện đổi mới kinh tế, bên cạnh những thành tựu
nền kinh tế thị trờng ở nớc ta còn nhiều điểm hạn chế:
+ Trong lĩnh vực kinh tế, thị trờng cha tác động tốt đến đổi mới cơ cấu
kinh tế và cơ cấu đầu t.
16
+ Sự thay đổi châm chạp các chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng,
tiền lơng, thu nhập chính sách kinh tế đối ngoại hạn chế sự phát huy những
thành tựu đáng khích lệ bớc đầu.
+ Sự chuyển hoá trong t duy và quan điểm kinh tế là khá rõ nhng sự
chuyển biến về học thuyết quản lý kinh tế, tổng kết đánh giá thực tiễn còn
yếu kém.
+ Cha đào tạo kỹ đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và quản trị doanh
nghiệp thích ứng nhanh và có thể hoạt động lâu dài theo cơ chế thị trờng.
+ Việc chuyển sang kinh tế thị trờng cần phải có một Nhà nớc pháp
quyền mạnh. Nhng Nhà nớc, thể chế chính trị của ta còn chứa đựng nhiều
yếu tố thiếu hoàn hảo, cha thực hiện triệt để công bằng xã hội. Mối quan hệ
và danh giới giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nớc cha rõ
ràng, nạn tham những, lợi dụng chức quyền khá phổ biến làm sói mòn niềm
Singapo có vị trí địa lý kinh tế và trính trị chiến lợc ở Đông Nam á nên
không ngừng đợc các nóc t bản chủ nghĩa ủng hộ và giúp đỡ. Xét về mọi
khía cạnh nh xây dựng kết cấu hạ tầng, quân sự hay sản xuất, về đầu t t bản
hay chuyển giao công nghệ, đoà tạo cán bộ Nói chung các nớc phơng tây,
trớc hết là Mỹ Nhật. Nếu nh Đài Loan, Nam Triều Tiên đợc hởng nhiều hơn
về viện trợ không hoàn lại của Mỹ và các khoản bồi thờng cuả Nhật Bản thì
18
Singapo đợc hởng các cơ sở quân sự của Anh, sau khi Anh rút khỏi nớc này
vào năm 1971.
Sự bành trớng kinh tế Nhật Bản xuống khu vực Đông Nam á cũng là
một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển của Singapo,
đặc biệt là đối với sự thay đổi công nghệ và sản xuất các mặt hàng cao cấp
dành cho xuất khẩu.
* Về nguyên nhân chủ quan.
Yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của nớc ta là ở chỗ
Chính phủ đã tạo ra đợc một môi trờng kinh doanh bên trong rất thuận lợi để
từ đó tận dụng tới mức tối đa các cơ hội khách quan và đối phó một cách có
hiệu quả với những thách thức từ bên trong và bên ngoài.
Chính phủ đã sớm lựa chọn, theo dõi hệ thống kinh tế thị trờng, định
hớng u tiên sản xuất dành cho xuất khẩu. Ngay từ đầu, các nớc này đã xác
định thành phần kinh tế t nhân là động lực chính thúc đẩy nền kinh tế phát
triển. Họ coi thành phần kinh tế t nhân nớc ngoài và các khoản đầu t trực
tiếp từ nớc ngoài là yếu tố then chốt.
Chính phủ sớm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu t nớc ngoài.
Nguồn nhân văn trong nớc dồi dào, trí thức cao, ở Singapo Chính phủ
luôn luôn động viên những ngời lao động học tập theo ngời Nhật.
Để cho các thành phần kinh tế hoạt động có hiệu quả nhất, phát huy
tối đa u thế của mình Nhà nớc cần có những quản lý chính sách vĩ mô phù
hợp.
19
khích các thành phần kinh tế trong việc xuất khẩu không phân biệt quốc
doanh hay ngoài quốc doanh.
2 - Một số kiến nghị và giải pháp của Đảng và Nhà nớc ta để nâng cao sự
phát triển nền kinh tế thị trờng.
Khi chúng ta nói đến định hớng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển nền
kinh tế xã hội và mục tiêu chúng ta vơn tới là dân giầu, nớc mạnh xã hội
công bằng văn minh, thì rõ ràng Nhà nớc ta cha thể thoả mãn với những gì
đã gặt hái đợc mà còn cần phải thờng xuyên hoàn thiện, nâng cao năng lực
quản lý vĩ mô nền kinh tế. Vì thế trớng mắt Đảng và Nhà nớc ta cần phải
giải quyết các vấn đề:
2.1 Tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hoá, đa hoạt động kế hoạch và
chiều sâu.
Trong hoạt động của công tác kế hoạch hoá, bên cạnh việc tiếp tục
nâng cao chất lợng của công tác dự báo kinh tế - xã hội và sử dụng chiến lợc
phát triển tổng thể nền kinh tế quốc dân cần chú trọng đúng mức đến việc sử
dụng các chơng trình mục tiêu nh chống buôn lậu, cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nớc, chơng trình về huy động vốn để công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, sử dụng ngân sách Nhà nớc lành mạnh, các chơng trình về chống thất
thu thuế, củng cố kỷ luật tài chính và các hoạt động xã hội khác
Qua việc thự hiện chỉ thị số 406/TTG về việc cấm sản xuất buôn bán
và đốt pháo nổ, việc thực hiện nghị định 36/CP về bảo đảm chật tự an toàn
21
giao thông đô thị và nghị định 87/CP của chính phủ cho thấy nếu nh có một
chơng trình mục tiêu đồng bộ, kết hợp các mục tiêu kinh tế với việc giải
quyết các vấn đề xã hội thì rõ ràng sẽ thu đợc những kết quả tốt hơn.
2.2 Sử dụng rộng rãi nhng có định hớng rõ ràng hệ thống các đòn bẩy
kinh tế.
Về nguyên tắc các đòn bảy kinh tế đợc sử dụng phải bảo đảm bám sát
và thực hiện cho đợc cả hai mục tiêu cơ bản: Tăng trởng kinh tế và định hớng
xã hội chủ nghĩa. Để đạt đợc mục tiêu đó, các đòn bảy kinh tế về tài chính,
+ Ban hành, bổ xung, sửa đổi hệ thống luật, hoàn thiện các luồng
thông tin ngợc chiều để kiểm tra kiểm soát sự thực hiện pháp luật cho các
doanh nghiệp thuộc mọi ngành kinh tế.
+ Tiếp tục ban hành các đạo luật mới về quản lý kinh tế đề hoàn thành
bộ luật kinh tế hoàn chỉnh và đồng bộ, cần sửa đổi bổ xung các đạo luật đã
ban hành, khắc phục tình trạng triệt tiêu hiệu lực lẫn nhau khi đa vào cuộc
sống.
2.5 Đào tạo và bồi dỡng đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với cơ chế
quản lý mới.
23
Hiệu quả nền kinh tế cao hay thấp phụ thuộc vào chính đội ngũ cán bộ
quản lý. Vừa qua chúng ta đã tích cực đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý về các
kiến thức
khoa học của hoạt động quản lý kinh doanh, quản lý Nhà nớc, bồi dỡng và
nâng cao trình độ nhận thức về lý luận Mác - Lênin, đờng lối quan điểm của
Đảng nên bớc đầu đã có đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi
mới. Nhng trong số đó không ít ngời vẫn cha khắc phục đợc lối t duy, phơng
thức làm việc, đào tạo bổ xung nhng vẫn kém chất lợng.
24
kết luận:
Từ thành công của sự nghiệp đổi mới ở nớc ta, chúng ta thấy rằng chủ nghĩa
xã hội và thị trờng là điều có thể dung hợp. Để có đợc kinh tế thị trờng theo
định hớng xã hội chủ nghĩa điều quan trọng là phải có sự lãnh đạo của
đảng.Sau đó phải có một hệ thống chính trị phù hợp mà hạt nhân của nó là
nhà nớc của dân, do dân và vì dân.Đơng nhiên kinh tế thị trờng theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa mà đảng ta nêu ở đây không chỉ là kinh tế mà kinh tế.
xẽ quyết định đến các vấn đề chính trị,văn hoá,xã hội và an ninh quốc
phòng.
Quan điểm toàn diện trong hoạt động nhạn thức và hoạt động thực tiễn
vào sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng ở nớc ta là một quyết định sáng