Luận cứ bảo vệ vụ việc tranh chấp thừa kế - Pdf 32

Luận cứ bảo vệ vụ việc “tranh chấp
thừa kế”
Tóm tắt nội dung vụ kiện tranh chấp thừa kế: Ông bà NTP và PTL có
sáu đứa con (3 trai, 3 gái) và từ năm 1965 đã thuê đất của bà LTD làm
nhà cùng sinh sống với đứa con trai thứ tư, lúc bây giờ còn độc thân là
NTQ tại số nhà 916B/11 Lê Văn Duyệt. Đến năm 1975, khi miền Nam
hoàn toàn giải phóng, bà chủ đất LTD đã bỏ đi biệt tích, không còn đến
thu tiền thuê đất nữa, nên ông bà NTP và PTL đã chiếm hữu và hợp
thức hóa quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở với chính quyền cách
mạng.
Khi bà PTL mất năm 1984 và ông NTP mất năm 1988, không để lại di chúc,
thì ông NTQ tranh thủ các đồng thừa ký tên xác nhận quyền sở hữu nhà và
quyền sử dụng đất căn nhà 916B/11 là thuộc ông NTQ để đi làm thủ tục xin
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà đứng tên ông Q. Các
đồng thừa kế xem việc xác nhận chỉ mang tính thủ thuật hình thức để người
anh em mình (là ông Q) hợp thức hóa căn nhà thừa kế chung. Nhưng ngay
đó, khi ông Q đang tiến hành thủ tục, do biết ý đồ muốn chiếm hữu riêng của
ông này nên các đồng thừa kế đã làm đơn ngăn chặn. Chính vì vậy mà sau đó
UBND/TPHCM đã cấp giấy CN/QSDĐỞ và QSHNỞ thuộc ông bà NTP và
PTL (đã chết) do con là NTQ đứng tên đại dịên các đồng thừa kế khai trình.
Nhưng từ đó đến nay đã trên 7 năm, ông NTQ vẫn chiếm hữu và cho một


thương nhân thuê căn nhà 916B/11 này mà không đếm xỉa đến quyền lợi của
anh chị em khác (kể cả 3 chị em ở nước ngoài), nên đã phát sinh tranh chấp
thừa kế. Nhưng vì các nguyên đơn do không am hiểu pháp luật về tranh chấp
quyền thừa kế nên đã nạp đơn tranh chấp vào thời điểm (ngày 7/02/2002) đã
quá hạn thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo điều 645 BLDS 2005, tính từ thời
điểm mở thừa kế là đầu năm 1988 (sau cái chết của ông bà NTP và PTL).
Đây là vụ kiện có sự vận dụng từ tranh chấp thừa kế thành tranh chấp tài sản
sở hữu chung.

chưa hề tặng cho bất cứ đứa con nào về tài sản (kể cả nhà và quyền sử dụng
đất) cả, chỉ có việc duy nhất là chuyển bớt quyền thuê đất cho các nguyên
đơn mà thôi và riêng bị đơn cũng chỉ ở nhờ chung với cha mẹ ruột để trực
tiếp phục vụ cha mẹ (có thể do lòng hiếu thảo), mà cũng chưa được cha mẹ
tặng cho hoặc di chúc lại bất cứ tài sản nào. Vì lúc bấy giờ, NTQ là quân
nhân trong quân đội Sài Gòn, còn độc thân, lòng hiếu thảo của bị đơn Q thật
đáng được hoan nghênh.
3. Các việc xác nhận qua lại giữa các nguyên đơn và bị đơn trước đây tại các
cuộc họp tổ dân phố tại phường, kể cả các nhân chứng, chỉ là thủ thuật đối


phó để được hợp thức hóa nhà cửa vì quyền lợi chung của anh chị em trong
nhà mà thôi, hoàn toàn không có giá trị pháp lý. Và khi phát hiện tham vọng
của bị đơn NTQ muốn biến căn nhà và quyền sử dụng đất số 916B/11 của
cha mẹ để lại chung cho anh chị em thành tài sản riêng của mình thì ông NTB
và bà NTLT đã làm đơn ngăn chặn kịp thời ngay, nên tham vọng của bị đơn
Q không thành công.
4. Chính bị đơn Q do sơ sót tên của người anh ruột là NTB trong việc ông tự
làm hồ sơ đăng ký nhà đất đối với căn nhà tranh chấp 916B/11 nên đã phải
làm tờ cam kết vào ngày 19/9/2003 tại Ban Tư Pháp phường X quận Y với
nội dung nguyên văn như sau: “Tôi đồng ý bổ sung tên ông NTB vào tờ khai
đăng ký khai trình “giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và có tên trong tờ
khai lệ phí trước bạ. Lý do: tôi mướn dịch vụ làm hồ sơ đăng ký giấy chủ
quyền sở hữu nhà ở, có sự sơ sót tên ông NTB. Theo yêu cầu ông B, tôi sẽ bổ
sung vào tờ khai trước bạ và sao y bản chánh tờ giấy chứng nhận cho ông B”.
Như vậy, rõ ràng việc đăng ký quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất căn
nhà 916B/11 Lê Văn Duyệt (đang tranh chấp) do chính bị đơn NTQ đạo diễn
cả, nên việc ông Q đỗ thừa sơ sót cho người làm dịch vụ và cho cơ quan quản
lý nhà đất thời bấy giờ là hoàn toàn không đúng đắn.
Và thực tế là người làm dịch vụ do bị đơn Q thuê và trực tiếp chi trả thù lao,

này đã bảy năm nay các thân chủ tôi đã tỏ thái độ thông cảm là để cho bị đơn


Q hoàn toàn thụ hưởng để bù đắp sự hiếu thảo, có công chăm sóc cha mẹ
trước đây và chi phí sửa chữa, tu bổ nhà là hoàn toàn hợp tình, hợp lý rồi.
Tóm lại, trên cơ sở các luận cứ đã trình bày trên, với tư cách luật sư bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các nguyên đơn NTH và NTLT,
tôi trân trọng kính đề nghị hội đồng xét xử căn cứ điều 674, điều 675 khoản 1
điểm a, điều 676 khỏan 1 điểm a và khoản 2 về thừa kế theo pháp luật và điều
677 về thừa kế thế vị, điều 678 của bộ luật dân sự nước CHXHCNVN năm
2005 để xem xét quyết định:
1. Bác đơn yêu cầu phản tố của bị đơn NTQ.
2. Công nhận căn nhà và quyền sử dụng đất số 916B/11 thuộc sở hữu của ông
bà NTP và PTL (đã qua đời) với diện tích sử dụng đất 128.4m2 theo giấy
chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do UBND TPHCM
cấp ngày 6/5/2002, mà bị đơn NTQ chỉ là người đại diện đứng đơn khai trình
và đây chính là tài sản đồng thừa kế chung cho các nguyên đơn, bị đơn trong
vụ tranh chấp và các anh chị em ruột khác của các đương sự theo pháp luật (
vì ông bà NTP và PTL không để lại di chúc). Mặc dù thời hiệu khởi kiện về
thừa kế đã quá hạn, vì ông NTP mất năm 1988, mà các nguyên đơn mới khởi
kiện vào ngày 7/2/2007. Nhưng theo tôi, có thể vận dụng hợp pháp đây là vụ
kiện tranh chấp tài sản chung sau thừa kế theo pháp luật, trên cơ sở giấy
CN/QSDĐỞ vaø QSHNỞ do UBND. TPHCM đã cấp ngày 6/5/2002 có tên
đầy đủ các đồng thừa kế (cả các nguyên đơn và bị đơn). Vì vậy, toàn bộ
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở căn nhà số 916B/11 phải được
chia đều cho các đồng thừa kế theo quy định pháp luật (chỉ ngoại trừ quyền


thụ hưởng hoa lợi cho thuê kinh doanh căn nhà từ trước đến nay dành riêng
cho bị đơn NTQ, theo thoả thuận tự nguyện của các nguyên đơn), căn cứ theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status