Định hướng phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Sơn La thời kỳ 2006 – 2020 - Pdf 32

Đặt vấn đề
Bản "Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Tỉnh Sơn La đến năm 2010" đã
được UBND Tỉnh Sơn La phê duyệt tại Quyết định số 275/QĐ-UB ngày
15/3/1997.
Thực hiện Chỉ thị 32/CT-TTg ngày 23/9/1998 của Thủ tướng Chính Phủ
về công tác quy hoạch, Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Sơn La đã kết hợp với Viện
Chiến Lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng với các Ban ngành của
Tỉnh tiến hành triển khai dự án "Rà soát quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội trên
địa bàn tỉnh Sơn La thời kỳ 2001 - 2010". Ngày 7/6/2002 UBND tỉnh Sơn La đã
có Quyết định số 1514/QĐ-UB phê duyệt kết quả rà soát, bổ sung quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sơn La giai đoạn 2001-2010.
Đến nay Quốc hội đã phê chuẩn chính thức Dự án xây dựng công trình
thuỷ điện Sơn La lớn nhất nước ta. Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số
92/QĐ-TTg ngày 15/1/2004 về việc phê duyệt đầu tư Dự án thuỷ điện Sơn La.
Thủy điện Sơn La sẽ được khởi công vào ngày 02/12/2005. Việc xây dựng nhà
máy thuỷ điện Sơn La sẽ ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hoạt động kinh tế - xã hội
của tỉnh Sơn La sau này, trên thực tế chúng ta phải mất 2 năm thực hiện những
công việc chuẩn bị cho việc xây dựng nhà máy thuỷ điện này, như: nâng cấp
đường quốc lộ 6, đã xây dựng cầu Tạ Khoa qua Sông Đà, xây dựng các điểm tái
định cư mẫu, chuẩn bị mặt bằng cho công trường thuỷ điện v.v… Những biến
đổi này chưa được tính toán đầy đủ trong bản Quy hoạch đã xây dựng. Vì vậy,
nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Sơn La từ nay đến năm 2020 là rất cần thiết, nhằm định ra phương hướng
phát triển cho tỉnh trong một thời gian tương đối dài - đến 2020 và vạch ra
những việc cần phải thực hiện của những năm trước mắt, phù hợp với tiến trình
xây dựng nhà máy thuỷ điện Sơn La, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao cho
Sơn La và cho cả nước.
Những cơ sở pháp lý và khoa học chủ yếu để xây dựng quy hoạch là:
- Chỉ thị 32/CT-TTg ngày 23/9/1998 của Thủ tướng Chính Phủ về công
tác quy hoạch;
- Luận chứng khả thi công trình thuỷ điện Sơn La của Bộ Xây Dựng;

Phần 1: Các yếu tố cơ bản và điều kiện phát triển
Phần 2: Thực trạng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Sơn La
Phần 3: Định hướng phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Sơn La thời kỳ 2006 –
2020
Phần 4: Một số giải pháp chủ yếu thực hiện quy hoạch
Phần 5: Kết luận và một số kiến nghị.
2
Phần thứ nhất
Các yếu tố cơ bản và điều kiện phát triển
I. Vị trí địa lý, địa hình
Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, có diện tích tự nhiên
1.412.500 ha, chiếm 4,27% tổng diện tích cả nước, đứng thứ 3 trong số 64 tỉnh
thành phố trong cả nước.
Toạ độ địa lý: 20
0
39' - 22
0
02' vĩ độ Bắc.
103
0
11' - 105
0
02' kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp các tỉnh Yên Bái, Lai Châu; Phía Đông giáp các tỉnh Phú
Thọ, Hoà Bình; Phía Tây giáp tỉnh Điện Biên; Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và
nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Có chung đường biên giới Việt - Lào dài
250 km. Có chiều dài giáp ranh với các tỉnh khác là 628 km.
Sơn La có 11 đơn vị hành chính (1 thị xã, 10 huyện) với 974.988 người
năm 2004 (mật độ dân số trên 69 người/km
2

trong đó ruộng nước 0,13 ha), đất rừng 2.451 ha, đất chưa sử dụng 7.214 ha…
Bên cạnh đó, sẽ xuất hiện các vùng bán ngập với diện tích hàng trăm ha, có thể
tận dụng diện tích này để trồng trọt vào mùa chưa bị ngập.
Biểu 1. Hiện trạng tài nguyên đất và dự báo sử dụng quỹ đất tỉnh Sơn La
STT Chỉ tiêu
Đơn
vị
1995 2000 2005 2010 2020
Tổng diện tích tự nhiên ha 1.405.500 1.405.500 1.412.500 1.412.500 1.412.500
1 Đất nông nghiệp ha 367.334,10 521.190,31 828.010,60 971.845 1.050.688
% so với diện tích tự nhiên % 26,14 37,08 58,62 68,80 74,38
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp ha 153.866,19 188.435,39 248.244,01 196.570 198.295
% so với diện tích tự nhiên % 10,95 13,41 17,57 13,92 14,04
1.2 Đất lâm nghiệp ha 212.387,20 331.120 577.638,09 773.025 850.000
% so với diện tích tự nhiên % 15,11 23,56 41 55 60
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản ha 1.077,91 1.627,12 2.087,52 2.216,5 2.368,4
1.4 Đất nông nghiệp khác ha 2,8 7,8 40,98 33,5 24,6
2 Đất phi nông nghiệp ha 32.908,46 37.934,15 41.445,73 50.625 55.812
% so với diện tích tự nhiên % 2,34 2,70 2,93 3,58 3,96
2.1 Đất ở ha 4.859,79 5.755,58 6.534,1 6.766 7.000
% so với diện tích tự nhiên % 0,35 0,41 0,46 0,48 0,50
2.1.1 Đất ở nông thôn ha 4.368,21 5.345,58 6.068,49 5.816 5.500
2.1.2 Đất ở đô thị ha 491,58 410 465,61 950 1.500
2.2 Đất chuyên dùng ha 7.719,65 10.226,13 13.024,75 22.257 23.830
% so với diện tích tự nhiên % 0,55 0,73 0,92 1,58 1,82
2.3 Đất nghĩa trang, nghĩa địa ha 3.436,66 3.687,02 2.669,29 2.574 2405
2.4
Đất sông suối và mặt nước
CD
ha 15.751,33 18.124,25 19.077,48 18.895,5 22.478,4

ôn đới. Vùng dọc sông Đà phù hợp với cây rừng nhiệt đới xanh quanh năm,…
Những năm gần đây nhiệt độ không khí trung bình/năm có xu hướng tăng
hơn 20 năm trước đây từ 0,5
0
C - 0,6
0
C (Thị xã Sơn La từ 20,9
0
C lên 21,1
0
C Yên
Châu từ 22,6
0
C lên 23
0
C) lượng mưa trung bình năm có xu hướng giảm: Thị xã
từ 1.445 mm xuống 1.402 mm, Mộc Châu từ 1.730 mm xuống 1.563 mm; độ ẩm
không khí trung bình năm cũng giảm, hiện tại ở Thị xã độ ẩm không khí trung
bình cả năm là 82%, Yên Châu 80%; số ngày có gió Tây khô nóng trung bình
năm tăng lên: Thị xã từ 1,27 ngày tăng lên 4,3 ngày, Yên Châu từ 34 ngày tăng
lên 37,2 ngày.
Do tình hình khô hạn kéo dài vào mùa đông nên khó tăng vụ trên diện tích
canh tác, cộng với gió Tây khô nóng vào những tháng cuối mùa khô đầu mùa
mưa (tháng 3 – 4) đã gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống của một số
vùng trong tỉnh. Sương muối, mưa đá, lũ quét cũng là những nhân tố gây bất lợi
cho sản xuất, đời sống.
Trong thời gian tới khi có thuỷ điện Sơn La, hệ thống hồ dọc Sông Đà
được hình thành có thể tình hình khí hậu khô nóng vào mùa khô sẽ được cải
thiện theo hướng có lợi cho sản xuất và đời sống.
Nước: Sơn La có hệ thống sông suối khá dầy nhưng phần lớn mặt nước

phát triển nông thôn tỉnh Sơn La, toàn tỉnh có 16,5 triệu m
3
gỗ và 203,3 triệu cây
tre nứa, chủ yếu là rừng tự nhiên, còn đối với rừng trồng chỉ có trữ lượng gỗ 154
ngàn m
3
và 220 ngàn cây tre nứa.
Toàn tỉnh có 543.043,67 ha đất chưa sử dụng (chiếm 38,45% tổng diện
tích tự nhiên), trong đó đất có khả năng phát triển nông lâm nghiệp khoảng
440.719 ha (phần lớn dùng cho phát triển lâm nghiệp). Đây cũng là nguồn tài
nguyên quý giá, một thế mạnh cho phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh giai đoạn
2006-2020.
Khi có thuỷ điện Sơn La sẽ có 1 phần rừng và đất rừng bị ngập, theo tính
toán có khoảng 2.451 ha rừng sẽ bị ngập, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ.
Nhiệm vụ quan trọng là phải tận thu cây trong lòng hồ trước khi nước ngập và
sau đó là trồng rừng phòng hộ dọc theo 2 bên sông Đà và toàn lưu vực để bảo vệ
nguồn nước cho công trình thuỷ điện quan trọng này.
6
4. Khoáng sản
Sơn La có nhiều loại khoáng sản khác nhau (gần 150 điểm), song chủ yếu
là mỏ nhỏ, phân bố rải rác trên khắp địa bàn tỉnh, trữ lượng không lớn và điều
kiện khai thác không thuận lợi.
+ Than: Có đủ các loại than mỡ, than gầy, than bùn, than nâu, tổng số
trên 10 mỏ và điểm than nhiên liệu với trữ lượng tiềm năng trên 40 triệu tấn,
trong đó trữ lượng đã thăm dò trên 3 triệu tấn. Tuy trữ lượng không lớn nhưng
trên dưới 50% là than mỡ, có khả năng luyện cốc, loại than mà hiện nay nước ta
rất thiếu và phải nhập khẩu với giá cao.
Các mỏ than tương đối lớn ở Sơn La có mỏ than Suối Bàng - Mộc Châu
(trữ lượng vài triệu tấn), mỏ than Quỳnh Nhai (trữ lượng 578 ngàn tấn), mỏ than
Hang Mon - Yên Châu (trữ lượng 1 triệu tấn), mỏ than Mường Lựm - Yên Châu

tham quan, du lịch lý tưởng cho nhiều du khách.
Như vậy sắp tới trên địa bàn tỉnh Sơn La có hồ thuỷ điện Sơn La, cùng
với 4 vườn quốc gia (Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha-Mộc Châu, Khu bảo
tồn thiên nhiên Sốp Cộp, Khu bảo tồn thiên nhiên Co Mạ-Thuận Châu, Tà Xùa -
Bắc Yên), còn có 4 hang động được xếp hạng, 4 mỏ nước nóng, có nhiều bản
làng văn hoá dân tộc, có các lễ hội dân tộc như: lễ hội mùa xuân dân tộc Mông
huyện Mộc Châu; Hội Then dân tộc Thái huyện Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Yên
Châu; Lễ hội cầu mùa dân tộc Khơ Mú huyện Yên Châu; Lễ Mởi dân tộc
Mường huyện Phù Yên… đều có thể khai thác để phục vụ du lịch.
III. Nguồn nhân lực
Ngoài các yếu tố tự nhiên, yếu tố nguồn nhân lực có vai trò quyết định
đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Dân số trung bình toàn Tỉnh Sơn La năm 2004 có: 975.994 người, dân số
năm 2005 khoảng 992.700 người, mật độ bình quân 70 người/km
2
, trong đó nam
là 498.137 người (chiếm 50,18%), nữ 494.563 người (chiếm 49,82%). Dân số
khu vực thành thị chiếm 12%; dân số khu vực nông thôn chiếm 88% tổng số dân
toàn tỉnh. Tốc độ tăng dân số tự nhiên năm 2004 là 1,75%/năm, năm 2005
khoảng 1,69% (chủ yếu là tăng dân số cơ học do sức hút của Thuỷ điện Sơn La).
Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2000 – 2004 ở mức 1,85%.
Chương trình dân số, kế hoạch hoá gia đình quốc gia trên địa bàn tỉnh đã
góp phần quan trọng cải thiện chất lượng dân số, giảm thiểu chất lượng tăng dân
số trong những năm gần đây.
Toàn tỉnh có 12 Dân tộc anh em (là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số), trong đó
dân tộc Thái chiếm có dân số lớn nhất, chiếm gần 55% dân số toàn tỉnh. Các dân
tộc có dân số đông tiếp theo là dân tộc Kinh 18%, dân tộc Mông 12%, dân tộc
Mường 8,4%, dân tộc Dao 1,82%, dân tộc Khơ Mú 1,89%... Nhìn chung đời
sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận nhân dân được cải thiện đáng kể. Phong
tục tập quán của các dân tộc được bảo tồn và phát huy cùng với việc du nhập các

(1000 người)
Dân số trong độ tuổi LĐ
(1000 người)
Lao động/dân số
(%)
2005 992,7 524,95 52,8
2010 1.088 592,4 54,4
2015 1.165 660,9 56,7
2020 1.248 726,6 58,2
Giả thiết rằng tốc độ tăng lực lượng lao động thời kỳ 2006-2020 xấp xỉ tốc
độ tăng dân số trong thời kỳ 1990-2005 do dân số sinh ra trong giai đoạn 1991-
1995 sẽ trở thành lao động trong giai đoạn 2006-2010, tương ứng dân số giai
đoạn 2001-2005 sẽ trở thành lao động giai đoạn 2016-2020. Bên cạnh đó, một
phần lao động và những người đi theo xây dựng công trình thuỷ điện Sơn La sẽ ở
lại cũng đóng góp vào lực lượng lao động, bởi chủ yếu là những người trẻ, trong
độ tuổi lao động. Cùng với việc loại trừ một bộ phận trẻ sinh ra không phát triển
lên lực lượng lao động, một phần nguồn nhân lực đi học, thoát ly không quay trở
lại Sơn la, có thể coi tốc độ tăng lực lượng lao động trời kỹ 2006 – 2020 xấp xỷ
tốc độ tăng dân số thời kỳ 1990 – 2005. Theo số thống kê, tốc độ tăng dân số
1991-1995 là 2,92%; 1996-2000 là 2,21%; 2001-2005 là 1,91%. Như vậy có thể
giả thiết, tốc độ tăng lao động giai đoạn 2006-2010 là 2,88%; 2011-2005: 2,19%
và 1,90% trong giai đoạn 2016-2020.
Dự báo tăng dân số cơ học:
Theo tiến độ xây dựng công trình thuỷ điện Sơn La thì thời kỳ cao điểm số
lượng lao động ở đây có thể lên đến 10.000 người, nếu kể cả số người đi theo thì
số dân tăng cơ học này có thể tới 20 ngàn người. Lúc này mọi dịch vụ, ăn, ở, đi
9
lại, việc làm… cần phải được đáp ứng ngay trong thời kỳ xây dựng thuỷ điện và
cả khi thuỷ điện đã hoàn thành vẫn còn một lực lượng không nhỏ có thể ở lại sinh
sống, lao động tại Sơn La (có ý kiến cho rằng khoảng 2 nghìn người sẽ ở lại).

tế toàn tỉnh năm 2004 đạt 14,21%.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân/năm thời kỳ 1996 - 2000 là
9,15%/năm, thời kỳ 2001 - 2004 là: 10,6%/năm (cả nước là 7,05%/năm). Năm
2005 phấn đấu đạt 16% (bình quân giai đoạn 2001 - 2005 đạt 11,65%/năm, cao
hơn mức kế hoạch 9-10%/năm trong quy hoạch tổng thể giai đoạn 2001-2010).
Như vậy tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước,
chủ yếu do sự tăng trưởng mạnh của khối ngành công nghiệp - xây dựng, giai
đoạn 2001 – 2005 bình quân ngành công nghiệp – xây dựng tăng trưởng
27,2%/năm. Năm 2004, tốc độ tăng ngành công nghiệp đạt 42,59%, một mức tăng
trưởng rất cao, năm 2005 đạt 32,42%.
Biểu 3. Tăng trưởng kinh tế toàn tỉnh giai đoạn 1996 - 2005
Chỉ tiêu
Đơn
vị
1995 2000 2004 2005
Nhịp độ tăng
trưởng
96-2000 01-2005
GDP (giá 94) Tr.đ 791.000 1.226.266 1.836.000 2.135.000 9,15 11,65
- NN Tr.đ 558.000 760.212 920.000 981.000 6,37 5,1
- CN+XD Tr.đ 78.000 129.314 326.000 447.000 10,68 27,2
- Dịch vụ Tr.đ 155.000 336.740 590.000 707.000 16,73 16,5
GDP (giá hh) Tr.đ 1.039.000 1.838.000 3.428.000 4.319.700
Cơ cấu: % 100 100 100 100
- NN % 71,5 60,96 47,99 45
- CN+XD % 9,75 9,49 17,51 19
- Dịch vụ % 18,75 29,55 34,5 36
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Sơn La.
Giá trị gia tăng nông-lâm nghiệp, thuỷ sản thời kỳ 2001-2004 tăng bình
quân 4,85%/năm, thấp hơn nhiều so với mức 6,37%/năm của giai đoạn 1996 –

3.516.000 đồng/người (225 USD-giá hiện hành).
So với GDP bình quân đầu người cả nước tương ứng các năm là 286
USD/người (năm 1995), 398 USD (năm 2000) và 545 USD (năm 2004) thì Sơn
La vẫn còn thua kém nhiều (khoảng xấp xỉ 40% bình quân cả nước), xu hướng
tăng nhanh hơn để thu hẹp khoảng cách là chưa rõ và chưa vững. Năm 2004,
GDP bình quân đầu người cả nước đạt 545 USD. Như vậy năm 2004, GDP bình
quân đầu người của Sơn La chỉ xấp xỉ bằng 41,5% GDP bình quân cả nước.
Năm 2005 phấn đấu thu nhập bình quân đầu người tỉnh Sơn La đạt 4.150.000
đồng (khoảng 258 USD). Mặc dù so với cả nước, GDP toàn tỉnh vẫn còn thấp
song đời sống của đại bộ phận nhân dân đã được cải thiện đáng kể.
12
Chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm trên địa
bàn Tỉnh đã có những đóng góp nhất định vào việc nâng cao đời sống vật chất
tinh thần của nhân dân, xóa đói giảm nghèo. Tổng vốn đầu tư cho chương trình
xóa đói giảm nghèo 5 năm 2001 – 2005 đạt 65.439 triệu đồng, trong đó vốn
ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư 49.246 triệu đồng. Trong 5 năm đã xoá
được hơn 10.000 nhà tạm; hơn 21.000 hộ thoát khỏi đói nghèo, giảm tỷ lệ hộ
nghèo từ 20% (năm 2001) xuống còn 11,5% ( năm 2005 - theo tiêu chí cũ).
Tuy nhiên, sự chênh lệch về mức sống giữa các địa bàn dân cư trong Tỉnh
vẫn còn lớn và có nguy cơ doãng ra. ở các xã đặc biệt khó khăn (chiếm khoảng
35% dân số toàn tỉnh), mức thu bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 1.000.000
đồng - 1.200.000 đồng/năm, chỉ bằng khoảng trên 30% mức thu nhập bình quân
toàn Tỉnh. Như vậy, 35% dân số Tỉnh ở các xã đặc biệt khó khăn chỉ nắm giữ
xấp xỉ 14% thu nhập của tỉnh, 65% dân số còn lại nắm giữ trên 86% thu nhập
toàn tỉnh.
3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế toàn tỉnh đã có bước chuyển
dịch quan trọng, đúng hướng, phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đất
nước trong xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng công nghiệp - xây
dựng và dịch vụ trong GDP toàn tỉnh tăng dần, đồng thời tỷ trọng nông nghiệp

quân 38,6%/năm. Xu hướng tăng giá trị xuất khẩu trong giai đoạn 2001 – 2005
diễn ra đều đặn và tương đối rõ trong tất cả các năm, tốc độ tăng bình quân cao
hơn giai đoạn 1995 - 2000. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là đường kết tinh, cà
phê, chè, ngô hạt.
Hàng hoá nhập khẩu đã thay đổi dần cơ cấu, giai đoạn 1996 - 2000 hàng
hoá nhập khẩu chủ yếu là phương tiện đi lại và hàng hoá tiêu dùng, từ năm 2000
trở lại đây hàng hoá nhập khẩu đã phong phú thêm ngoài một số mặt hàng tiêu
dùng còn nhập các thiết bị dây chuyền sản xuất đồng bộ phục vụ cho sản xuất
công nghiệp, phương tiện vận tải chiếm một tỷ trọng cao trong tổng giá trị nhập
khẩu hàng năm. Tổng giá trị nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Sơn La năm 1995 là
3,464 triệu USD đến năm 2000 giảm xuống còn 2,15 triệu USD, năm 2004 đạt
4,5 triệu USD; giai đoạn 2000 - 2004 tăng bình quân 20,25%/năm song mức
tăng giảm là không đều. Năm 2005 đạt khoảng 5,0 triệu USD.
Năm 2005 giá trị xuất khẩu bình quân đầu người của tỉnh Sơn La đạt xấp
xỉ 14,02 USD/người/năm, giá trị nhập khẩu bình quân đạt xấp xỉ 5 USD/người.
Tổng giá trị xuất, nhập khẩu qua các năm biến động mạnh, tăng giảm
không đều. Năm 2001, tổng giá trị xuất nhập khẩu đạt 6,6 triệu USD, đã giảm
xuống còn 4,8 triệu USD vào năm 2002 và tăng lên 15,5 triệu USD năm 2004.
Tỷ lệ giá trị xuất nhập khẩu/GDP (tính theo giá hiện hành) đạt thấp: đạt 4,7%
năm 1995, giảm xuống 2,7% năm 2000 và và tăng lên 6,9% năm 2004, chứng tỏ
"độ mở" của nền kinh tế tỉnh Sơn La là rất thấp và thiếu ổn định.
Biểu 4. Kết quả xuất nhập khẩu 1995 – 2004
Đơn vị: Nghìn USD
Chỉ tiêu 1995 2000 2004 2005
I. Xuất khẩu 1.020 3.103 11.000 14.000
14
Chỉ tiêu 1995 2000 2004 2005
Trung ương xuất khẩu trực tiếp 4 20
Địa phương xuất khẩu trực tiếp - 349
Uỷ thác xuất khẩu 1.016 2.734

Tổng mức đầu tư toàn xã hội thời kỳ 1996-2000 đạt 1.507 tỷ đồng. Bình
quân đầu tư hàng năm đạt 301 tỷ đồng. Mức đầu tư bình quân đầu người năm 2000
đạt 767,5 nghìn đồng/người, bằng 41% mức đầu tư bình quân đầu người cả nước.
Trong 4 năm 2001 – 2004, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tỉnh Sơn La đạt
9.088 tỷ đồng (giá hiện hành), cao hơn nhiều so với tổng vốn đầu tư 5 năm 1996
– 2000. Ba lĩnh vực được đầu tư nhiều nhất là nông lâm nghiệp, vận tải kho bãi
và thông tin liên lạc, hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng.

Tổng vốn đầu tư so với GDP tăng đáng kể. Năm 2000, tỷ lệ vốn đầu
tư/GDP (tính theo giá hiện hành) đạt 37,8%, và đạt mức 142,8% năm 2005. Mức
đầu tư bình quân đầu người năm 2004 của Tỉnh cũng đã tăng lên và đạt mức
3,056 triệu đồng/người, bằng 79% mức đầu tư bình quân đầu người của cả nước,
năm 2005 đạt 5,93 triệu đồng/người.
Năm 2004, tổng vốn đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh đã tăng đột biến đạt
4.574,5 tỷ đồng, gấp 2 lần tổng vốn đầu tư năm 2003. Việc tăng đột biến này
chủ yếu nhờ vào việc thực hiện các dự án đầu tư các công trình chuẩn bị thi
công thuỷ điện Sơn La, năm 2005 đạt 5.916 tỷ đồng.
Trong giai đoạn 5 năm (2001-2005) tổng mức đầu tư trên địa bàn đạt
15.000 tỷ đồng tăng gấp nhiều lần so với 5 năm trước (1996-2000) và sẽ còn tăng
nhanh hơn trong giai đoạn 2006 – 2010. Tổng mức đầu tư có thể tăng rất cao để
làm đường giao thông, xây dựng nhà máy xi măng, di dân, xây dựng các công
trình phụ trợ khác, đây là yếu tố chính làm cho nền kinh tế tỉnh tăng trưởng cao
trong những năm tới.
6.Thu, chi ngân sách
Năm 2004 tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.360 tỷ đồng tăng gấp 2,16
lần so với năm 2000, trong đó thu tại địa phương 220 tỷ đồng (chiếm 16,7% tổng
thu NS), trợ cấp của TW khoảng 1.119,8 tỷ đồng (82,32%). Điều này chứng tỏ
sản xuất hàng hoá trong tỉnh đã từng bước phát triển, thị trường được mở rộng.
Tuy nhiên, trong tổng nguồn thu, thu từ Trợ cấp của Trung ương vẫn chiếm tỷ
trọng lớn nhất đóng vai trò quyết định cho sự ổn định và phát triển của tỉnh. Năm

4. Chi thường xuyên khác 34.460 57.677 194.690
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sơn la
Tổng chi ngân sách qua các năm đều tăng. Năm 2004 tổng chi ngân sách
đạt 1.345 tỷ đồng, cao gấp trên 2,23 lần so với năm 2000 nhưng giảm so với chi
năm 2003. Nguyên nhân tăng đột biến chi ngân sách năm 2003 là tăng chi quản
lý hành chính. Mặt khác, chi thường xuyên tăng nhanh hơn chi đầu tư phát triển
do tăng chi cho các sự nghiệp giáo dục, y tế và các vấn đề xã hội khác. Chi cho
sự nghiệp giáo dục đào tạo năm 2003, cao gấp 2 lần và chiếm tới 26,9% tổng chi
ngân sách, chi cho sự nghiệp y tế cao gấp 2,3 lần năm 2000.
17
Tuy nhiên qua cân đối cho thấy, thu ngân sách từ kinh tế địa phương so
với chi thường xuyên là rất thấp, năm 2000 đạt gần 14%, năm 2004 cũng chỉ đạt
16,36%. Chi ngân sách của Tỉnh vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn trợ cấp từ
trung ương.
Qua số liệu thu chi ngân sách trên cho thấy Sơn La còn là một tỉnh nghèo,
thu từ kinh tế địa phương không đủ chi thường xuyên, không có tích luỹ từ nội
bộ nền kinh tế của tỉnh, hàng năm Trung ương còn phải trợ cấp, năm ít như năm
1995 cũng đến 218 tỷ đồng, năm nhiều lên tới 1.119,8 tỷ đồng (năm 2004). Trợ
cấp từ Trung ương cho tỉnh Sơn La năm 2005 khoảng 1.394 tỷ đồng.
II. Sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản
1. Nông nghiệp
Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp Tỉnh Sơn La đã có sự phát
triển đáng kể, bước đầu thực hiện có hiệu quả việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất
theo hướng sản xuất hàng hoá, nổi bật là sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu
mùa vụ, xác định được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, từng bước hình
thành vùng sản xuất cây công nghiệp tập trung, chuyên canh, thâm canh gắn với
công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật công nghệ gắn với chính sách đầu tư,
chính sách khuyến nông, coi trọng vai trò kinh tế hộ tự chủ, ổn định sắp xếp lại
dân cư, phát triển mạnh kinh tế trang trại... là những biện pháp có tác động tích

Cây ăn quả: Diện tích Ha 10.896 18.680 24.981 25.900
Sản lượng Tấn 26.956 41.046 55.000 60.000
Dâu tằm: Diện tích Ha 2.024 490 410 473
Sản lượng Tấn 6.771 148 125 250
Nguồn: Niên giám thống kê 2003, Báo cáo kinh tế – xã hội 4 năm (Cục Thống kê).
Sản lượng: Chè: Chè búp tươi, Cà phê: cà phê nhân, Mía: mía cây
+ Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng đều qua các năm, năm sau đều
cao hơn năm trước, năm 1995 đạt 758,901 tỷ đồng, năm 2000 đạt 1.073 tỷ đồng,
năm 2004 đạt 1637,8 tỷ đồng (giá hiện hành). Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngành
nông nghiệp đạt khá, giai đoạn 2000 – 2004 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp
tăng bình quân 6,7%/năm.
+ Về cơ cấu: Trồng trọt vẫn là ngành chủ yếu, chiếm tỷ trọng từ 74,8%
năm 1995 tăng lên 80,7% năm 2002 và ở mức 76,03% năm 2004 trong tổng giá
trị sản xuất ngành nông nghiệp. Tỷ trọng của trồng trọt còn cao thể hiện ngành
nông nghiệp của tỉnh vẫn rất lạc hậu, đời sống đại bộ phận nhân dân còn thấp.
Ngành chăn nuôi tuy có chuyển biến song còn chậm, lại có xu hướng giảm
xuống trong 2 năm 2002 và 2003 do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, giảm từ
25% năm 1995 xuống 18,7% năm 2000 và ở mức 18 – 19% trong hai năm 2002
và 2003. Tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi năm 2004 đạt 23,18% - một mức
tăng đáng kể. Hoạt động dịch vụ nông nghiệp quá nhỏ bé chỉ chiếm tỷ trọng
19
0,14% (1995) - 0,61% (2000) và 0,79% năm 2004. Như vậy, việc phát triển của
ngành chăn nuôi là chưa mạnh, chưa tạo ra được một xu hướng rõ rệt để bứt phá,
trở thành ngành quan trọng. Điều quan trọng là sản xuất nông nghiệp đang trong
thời kỳ chuyển hướng từ sản xuất nhỏ, phân tán, phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên sang sản xuất hàng hoá rất lớn. Hiện có khoảng trên 50% số hộ nông dân
đi vào sản xuất hàng hoá.
1.1. Trồng trọt
- Sản xuất lương thực có hạt tăng khá cao và ổn định, từ 145.016 tấn năm
1995 tăng lên 243.895 tấn vào năm 2000 và đạt 352.540 tấn vào năm 2004. Giai

Thuận Châu. Từng bước khôi phục và phát triển các vùng chè đặc sản có ưu thế như:
vùng chè Tà Xùa (Bắc Yên). Đến năm 2003 tổng diện tích chè toàn tỉnh đạt 3.845 ha
(trong đó 460 ha chè nhập ngoại chất lượng cao), sản lượng chè búp tươi đạt 13.065
tấn. Đã xây dựng được thương hiệu chè Mộc Châu trên thị trường thế giới. Năm
2005 nâng diện tích chè lên 4.460 ha cho sản lượng 16.000 tấn chè búp tươi.
- Vùng cà phê tập trung ở các huyện Mai Sơn, Thị xã Sơn La, Thuận
Châu, đang phát triển thêm tại các vùng ở huyện Sông Mã, Quỳnh Nhai. Tổng
diện tích cà phê năm 2004 đạt 2.650 ha, trong đó diện tích cà phê kinh doanh là
2.459 ha. Sản lượng cà phê nhân năm 2004 đạt 2.122 tấn. Năm 2005 được
2.900ha cà phê, trong đó cà phê kinh doanh 2.284 ha, cho sản lượng 2.028 tấn cà
phê nhân.
- Vùng mía nguyên liệu tập trung được phát triển tại các huyện Mai Sơn,
Yên Châu, thị xã Sơn La, Bắc Yên để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy mía
đường của tỉnh. Năm 2004 diện tích mía đạt 3.625 ha, trong đó diện tích vùng
nguyên liệu là 3.500 ha, sản lượng mía cây đạt 164.728 tấn. Năng suất mía cây
bình quân năm 2004 đạt 45,44 tấn/ha, cao gấp 1,24 lần năng suất bình quân năm
2000 song chưa đạt 90% năng suất mía bình quân của cả Nhà nước. Năm 2005,
diện tích mía giảm xuống còn 3.500 ha vùng mía nguyên liệu tập trung cho nhà
máy Mía đường Sơn La (giảm 125 ha so với năm 2004 cho sản lượng 180.000
tấn mía cây.
- Vùng trồng dâu nuôi tằm được hình thành tại các huyện Mộc Châu, Mai
Sơn và Thị xã Sơn La và Thuận Châu. Năm 2004 diện tích dâu đạt 410 ha, sản
lượng kén đạt 125 tấn, sản lượng tơ đạt 12,3 tấn, năm 2005 diện tích dâu tăng
lên 473 ha, sản lượng ước đạt 250 tấn kén.
- Vùng cây ăn quả tập trung đã được hình thành và phát triển ở các huyện
Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Thị xã Sơn La và huyện Sông Mã. Năm 2004
tổng diện tích cây ăn quả đạt 24.981 ha, sản lượng quả đạt 55.996 tấn. Sản lượng
cây ăn quả năm 2004 đã tăng mạnh so với năm 2000, tăng 33,0%. Một số cây ăn
quả chủ yếu là nhãn, chuối, xoài, Sơn Tra… Năm 2005 diện tích cây ăn quả đạt
25.900 ha sản lượng quả ước đạt 60.000 tấn, cao hơn mục tiêu kế hoạch trong

- Đàn lợn từ 264.338 con năm 1995 tăng lên 399.323 con năm 2000 và đạt
452.857 con năm 2004. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2000 - 2004 là
3,2%/năm. năm 2005 đạt 478.000 con.
- Đàn gia cầm từ 1.837,64 nghìn con năm 1995 tăng lên 2.841,86 nghìn
con vào năm 2000 và đạt 3.171 nghìn con năm 2004. Tốc độ tăng bình quân giai
đoạn 2000 - 2004 là 2,8%/năm. Do năm 2004 do dịch cúm gia cầm bùng phát
nên toàn tỉnh phải tiêu huỷ gần 14 vạn con gia cầm, năm 2005 số gia cầm tăng
lên 3.450 nghìn con.
Ngoài ra, năm 2004, Sơn La còn có đàn dê khoảng 62 nghìn con, đàn
ngựa 17,8 ngàn con (chủ yếu sử dụng để vận chuyển). Sản lượng thịt giết mổ gia
súc, gia cầm năm 1995 đạt hơn 11 ngàn tấn (riêng thịt lợn hơn 5,2 ngàn tấn),
năm 2004 đạt 18,5 nghìn tấn (trong đó thịt lợn hơn 10 ngàn tấn), dự kiến năm
2005 sản lượng thịt đạt 25.000 tấn. Sản lượng thịt đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu
tiêu dùng trong tỉnh.
Những năm gần đây chăn nuôi của Sơn La đã chuyển theo hướng đẩy
mạnh đầu tư theo chiều sâu, nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm và đa
dạng hoá sản phẩm chăn nuôi, tăng quy mô hàng hoá trong cơ cấu phát triển. Sự
22
chuyển biến tích cực trong chăn nuôi thể hiện rõ qua việc đẩy mạnh áp dụng các
tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là khâu giống; nhiều giống gia súc gia cầm
như đàn bò lai Sind, dê bách thảo, đàn lợn hướng nạc được đưa vào sản xuất,
phát triển ở các trung tâm đô thị, thị tứ, bước đầu nâng cao chất lượng và sản
lượng chăn nuôi; các giống gia cầm như gà Tam Hoàng, Vịt siêu thịt, siêu
trứng, ngan Pháp… đang được nhân rộng, nhất là gà thả vườn.
Chăn nuôi bò sữa: điều đặc biệt trong chăn nuôi đại gia súc của Sơn La là
sự phát triển của đàn bò sữa, tập trung ở Mộc Châu. Năm 1998 đã có 1.558 con bò
sữa, đã tăng lên 3.784 con năm 2003, năm 2004 có 4.644 con. Cùng với việc gia
tăng tổng đàn, chất lượng đàn bò cũng được nâng lên nhờ cải tạo giống với việc lai
tạo bò mẹ giống Hà Lan (Hostein Frisian) với bò đực Zêcxây và AFF của Australia
cho phép tạo giống mới có năng suất cao (4.000- 4.200 kg sữa/chu kỳ 305 ngày).

Số lượng trâu Con 107.304 124.290 139.595 144.000
Số lượng bò Con 71.102 90.513 114.104 119.000
Số lượng lợn Con 306.637 399.923 452.857 478.000
Số lượng dê Con 22.244 36.273 62.000 65.000
Số lượng gia cầm 1.000 con 1.837,64 2.841,87 3.170,8 3.450
Sản lượng thịt giết mổ
gia súc, gia cầm
Tấn 11.075 10.899 18.500 25.000
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sơn La năm 2003, Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội 4
năm (Cục Thống kê)
2. Lâm nghiệp
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng đã được đặt ra ngay từ
những năm đầu của thập kỷ 90 một cách cấp bách hơn những thời kỳ trước.
Trong chỉ đạo, tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp nhằm thực hiện tốt Luật bảo vệ
và phát triển rừng theo các dự án 219, 327, 661, Chương trình trồng mới 5 triệu
ha của Chính Phủ. Đã có chuyển biến rõ nét từ lâm nghiệp nhà nước với các
Nông lâm trường quốc doanh độc quyền quản lý kinh doanh rừng sang lâm
nghiệp xã hội, đã giao đất khoán rừng đến hộ gia đình, các lâm trường đã
chuyển hoạt động từ khai thác lợi dụng rừng là chính sang bảo vệ, xây dựng vốn
rừng và dịch vụ đầu vào và đầu ra cho các hộ gia đình. Hệ thống rừng trồng,
vườn ươm được xây dựng, củng cố.
Đã bảo vệ và phát triển được vốn rừng nhờ chương trình dự án 327, 747,
1382, chương trình trồng 5 triệu ha rừng (661), chương trình gieo hạt bằng máy
bay và nhất là thực hiện chương trình thâm canh, tăng vụ, phát triển cây lương
thực theo quan điểm sản xuất hàng hoá, vì vậy đã ngăn chặn có hiệu quả tình
trạng phá rừng làm nương rẫy. Năm 2005 diện tích đất có rừng là 577.638,09 ha,
trong đó rừng sản xuất là 47.857 ha, rừng phòng hộ 482.980 ha. Độ che phủ tăng
dần qua các năm từ 9,5% năm 1990 tăng lên 23,56% vào năm 2000 và đạt 37%
năm 2003; năm 2004 đạt 40%, năm 2005 đạt 41%.
Về công tác khai thác lâm sản: Trong những năm gần đây do tăng cường

Độ che phủ rừng % 15,11 23,56 40 41
Diện tích đất có rừng Ha 212.387,2 331.120 562.200 577638,09
Nguồn: Niên giám thống kê Sơn La 2003, Báo cáo tình hình KT-XH 4 năm (Cục Thống kê).
Đặc điểm tài nguyên rừng tự nhiên của Tỉnh Sơn La chủ yếu là rừng
nghèo và rừng phục hồi, hai loại rừng này chiếm 58,4% diện tích rừng tự nhiên,
rừng giàu hiện chỉ còn 6.517 ha, chiếm 1,48% diện tích rừng tự nhiên.
Tổng trữ lượng các loại rừng trên địa bàn tỉnh khoảng trên 16,5 triệu m
3
gỗ và hơn 203,3 triệu cây tre nứa các loại, trong đó trữ lượng từ rừng tự nhiên
chiếm trên 90% tổng trữ lượng rừng. Diện tích đất trống có khả năng dùng vào
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status