CHƯƠNG 7 BIẾN đổi KHÍ hậu và KỊCH bản BIẾN đổi KHÍ hậu ở VIỆT NAM - Pdf 32

CHƯƠNG 7.
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
7.1 MỞ ĐẦU
Chúng ta có thể nhận biết sự biến đổi khí hậu (BĐKH) một cách đơn giản trong cuộc sống
đời thường là tại sao năm nay mùa đông lại ngắn lại, hạn hán, mưa lũ thất thường không
giống quy luật mấy chục năm về trước. Cây trồng có sự thay đổi về năng suất, dịch bệnh
nhiều hơn, bệnh mới xuất hiện. Đặc biệt là cảm giác mùa đông và mùa hè, cảm nhận được
nhiệt độ của mùa hè với các đợt nóng tăng lên và kéo dài, mùa đông ngắn lại, v.v... Tuy đây
là hệ quả của rất nhiều yếu tố môi trường khác nhau nhưng việc đánh giá đúng mức những
nguy hại cho cuộc sống do Biến Đổi Khí Hậu gây ra là một việc thực sự cần thiết, cho dù đã
được thừa nhận hay chưa được thừa nhận thì con người cũng đang chứng kiến và thậm chí
hứng chịu những bất thường của khí hậu, thời tiết, những hậu quả không mong muốn từ việc
huỷ hoại thiên nhiên một cách quá mức như hiện nay.
Các nhà khoa học, cộng đồng các dân cư, các quốc gia và các tổ chức trên thế giới không
thể tiếp tục thờ ơ và đang tiến hành những cuộc vận động mang tính chất toàn cầu nhằm khắc
phục tình trạng BĐKH.
Đứng thứ 5 về khả năng dễ tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam đã
được Liên hợp quốc chọn là quốc gia để tiến hành nghiên cứu điển hình về biến đổi khí hậu
và phát triển con người. Theo đó, sinh kế của người Việt đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi
những thay đổi toàn cầu, đòi hỏi một tầm nhìn dài hơi, một kế hoạch cụ thể và mang tính
chiến lược. Vì vậy việc xây dựng một (hay vài) kịch bản về Biến Đổi Khí hậu cho nước ta là
rất cần thiết nên nhóm chúng em quyết định chọn đề tài này.
7.2 KHÁI NIỆM VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU.
Vậy, Biến đổi khí hậu là gì?
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi đáng kể, lâu dài các thành phần khí hậu, “khung” thời tiết từ
bình thường vốn có lâu đời nay của một vùng cụ thể, sang một trạng thái thời tiết mới, đat các tiêu
chí sinh thái khí hậu mới một cách khác hẳn , để rồi sau đó, dần dần đi vào ổn định mới..

Trong thời gian gần đây, đặc biệt là trong bối cảnh của chính sách môi trường, biến
đổi khí hậu thường được đề cập đến những thay đổi về khí hậu hiện đại (như sự ấm lên của
trái đất).

Khảo sát hình trên, trong vòng 400 ngàn năm qua, đã có 5 lần biến đổi nhiệt độ và
CO2 . Trong 4 lần cách đây trước 120 ngàn năm, khi CO 2 tăng đến tối đa khoảng 300 ppm,
cũng là lúc có nhiệt độ tối đa, trên dưới 1-2 OC so với nhiệt độ hiện tại, sau đó CO 2 giảm cùng
lúc với giảm nhiệt độ đến cực tiểu, khoảng 8OC thấp hơn hiện tại, và một chu kỳ như vậy kéo
dài khoảng 100 ngàn năm. Đại dương trong quá khứ là môi trường đệm điều hoà CO 2 . Khi
nhiệt độ giảm đại dương hấp thụ CO 2 và biến thành đá vôi, khí đốt, dầu hoả, và thực vật trên
đất liền hấp thụ CO2 qua lục hoá và tồn trữ qua than đá và chất hữu cơ. Khi nhiệt độ tăng đại
dương thải hồi CO2 vào lại khí quyển. Hiện tại CO 2 trong khí quyển đã đột ngột vượt tới 375
ppm (2006) và đang trên đà gia tăng cao hơn nữa. Lý do chính của sự đột ngột này là do con
người thải CO2 qua kỹ nghệ đốt than đá và dầu hỏa trong 2 thế kỷ qua.
7.4. QUAN ĐIỂM NGUYÊN NHÂN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Loại ý kiến thứ nhất được đại đa số các nhà khoa học nhất trí, đó là việc tăng hàm
lượng khí CO2 và các loại khí thải tạo hiệu ứng nhà kính. Nguyên nhân này chiếm 90, thậm


chí 99% mức gia tăng của nhiệt độ bề mặt Trái đất. Nhiệt độ bề mặt Trái đất có được là nhờ
hấp thụ nhiệt từ Mặt trời và dòng nhiệt từ bên trong lòng đất. Sự có mặt của khí CO 2 trong
bầu khí quyển sẽ duy trì một nhiệt độ điều hòa cho sự sinh sôi phát triển sự sống nhưng quá
nhiều sẽ trở thành tấm áo giáp ngăn chặn bức xạ nhiệt (bức xạ hồng ngoại) từ Trái đất thoát
vào vũ trụ, từ đó làm gia tăng nhiệt độ bề mặt của trái đất.
Loại ý kiến thứ hai tuy thừa nhận vấn đề gia tăng nhiệt độ do hiệu ứng nhà kính, song
cho rằng cần nhấn mạnh hơn đến chu kỳ nóng lên của Trái đất do hoạt động nội tại. Hiện
tượng nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên và lạnh đi vốn là hiện tượng tự nhiên xảy ra có tính
chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của Trái đất. Không phải chỉ bây giờ, lịch sử
Trái đất hàng triệu triệu năm đã trải qua nhiều lần nóng lên rồi lại lạnh đi kéo theo những
biến động to lớn trong đời sống sinh vật trên Trái đất, làm thay đổi cả diện mạo địa hình lục
địa và đại dương. Tính từ 1,6 triệu năm đến nay đã có 5-6 chu kỳ biến động lớn. Đó là các
thời kỳ băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp (biển lùi) và các thời kỳ gian băng (băng tan)
kéo theo mực nước biển dâng cao (biển tiến). Vào các thời kỳ băng hà, nhiệt độ bề mặt Trái
đất khô lạnh. Vào thời kỳ gian băng nhiệt độ bề mặt Trái đất đan xen giữa nóng ẩm và khô

Đánh giá của thế giới về nguyên nhân làm cho trái đất nóng lên, thì Việt Nam không bị
xếp vào danh sách nguồn phát thải CO2. Nói một cách dân dã, trong những “thủ phạm” đang
đốt nóng trái đất, “tội” của chúng ta là không đáng kể. Thế nhưng, trong danh sách những
nước bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu (BĐKH), Việt Nam luôn nằm trong “top” đầu thế
giới. Và bây giờ, khi mà những kịch bản về tác động của BĐKH được xây dựng cho Việt
Nam, kịch bản nào cũng rất đáng buồn, thì việc tìm cách để thích ứng, để đối phó với BĐKH,
đang cần thiết hơn là tìm ra người để “bắt đền trái đất”.
Tại Việt Nam, nhiệt độ trung bình hàng năm không có gia tăng trong khoảng thời gian
từ 1895 (khi bắt đầu có sở khí tượng) đến 1970, tuy nhiên nhiệt độ trung bình hàng năm ở
Việt Nam gia tăng đáng kể trong ba thập niên qua, gia tăng khoảng 0.32 oC kể từ 1970. Từ
năm 1900 đến 2000, nhiệt độ trung bình năm tăng 0,1°C một thập kỷ. Mùa hè nóng hơn với
nhiệt độ trung bình các tháng hè tăng từ 0,1°C – 0,3°C một thập kỷ. Nếu so với năm 1990,
nhiệt độ chắc sẽ tăng trong khoảng từ 1,4 – 1,5°C vào năm 2050 và từ 2,5 -2,8°C vào năm
2100, những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là Tây Bắc và Việt Bắc.
Xu thế tăng nhiệt độ cứ qua 10 năm lại lớn lên. Mùa nóng sẽ khắc nghiệt, và lượng mưa
cùng với cường độ mưa sẽ tăng lên đáng kể ở phía Bắc. Sự biến đổi thất thường của thời tiết
còn được thể hiện qua đợt mưa lớn trái mùa tại các tỉnh miền Bắc và ở Miền Trung, Miền
Nam. Mưa trái mùa đã cứu hạn cho một vài nơi trồng cây công nghiệp như cà phê,nhưng lại
làm tan tành các ruộng muối ven biển, làm cây hoa kiểng nở quá sớm dịp Tết.
Các nhà khoa học cũng đã dự tính trong tương lai, các vùng nằm sâu trong lục địa có sự
biến đổi nhiệt độ lớn hơn so với các vùng ven biển.


Hình 7.3 :Khuynh hướng gia tăng nhiệt độ trung bình hàng năm trên toàn cầu (hình trên) và
ở Việt Nam
VN có khuynh huớng gia tăng nhiệt độ đáng kể, các tỉnh Miền Bắc gia tăng nhiều hơn Miền
Nam, đặc biệt trong những tháng mùa hè với biên độ lớn hơn.

Bảng 7. 1


Dirk Schaefer, 2002)


Hình 7.6: Khuynh hướng gia tăng nhiệt độ mùa hè ở Việt Nam trong thế kỷ 20
(theo Dr Dirk Schaefer, 2002)
Cũng trong thời gian 1961-1990, số giờ nắng trung bình hàng năm hàng năm ở Việt Nam
cũng biến đổi nhiều.
Số giờ nắng trung bình hàng năm giảm 20 giờ ở Bắc Giang, Hà Nội và Hải Dương, giảm
10 giờ nắng ở Nam Định. Ở Miền Nam, gia tăng 20 giờ nắng ở Nha Trang, tăng 18 giờ nắng
ở Pleiku, tăng 10 giờ nắng ở Ban Mê Thuột, nhưng giảm 20 giờ nắng ở Cần Thơ và Bạc Liêu.
Dự báo của trung tâm khu vực Đông Nam Á, nhiệt độ cao nhất trước đây xuất hiện ở
vùng dọc biên giới Campuchia sẽ gia tăng tần suất trong tương lai, ảnh hưởng đến Long An,
Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang. Số ngày nóng trên 35°C ở các tỉnh nói trên sẽ
từ 210 – 240 ngày vào giai đoạn năm 2030. Trong tương lai được xác định này (năm 2030),
sự gia tăng nhiệt độ cao nhất trung bình vào mùa hè (tháng 3, 4, 5). Đồng Tháp, Cần Thơ,
Sóc Trăng sẽ xuất hiện những ngày có nhiệt độ >40°C. Tại TPHCM và Cần Thơ, số liệu đo
đạc cho thấy nhiệt độ đang tăng lên: từ năm 1960 đến 2005 tăng khoảng 0,02 0C; từ năm 1991
đến 2005 tăng lên khoảng 0,033 0C. Riêng tại TP Vũng Tàu, từ năm 1960 đến nay đã tăng lên
20C. Điều đó không chỉ thể hiện sự ấm lên về nhiệt độ mà sẽ kéo theo nhiều hệ lụy như nước
biển dâng, hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai bão, lụt, hạn hán tăng nhanh... Theo đà
tăng nhiệt độ trên toàn thế giới, từ năm 1920 đến nay nhiệt độ tại VN cũng tăng lên từ 0,2 0C


đến 10C nhưng tăng nhanh chủ yếu là từ năm 1980 đến nay. Lượng mưa ở vùng giáp vịnh
Thái Lan thuộc địa phận Kiên Giang, mũi Cà Mau sẽ giảm khoảng >20%. Các tỉnh An Giang,
Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre giảm từ 10 – 20%. Thời
điểm bắt đầu mùa mưa có thể sẽ sớm hơn nhưng nhìn chung, sẽ trễ khoảng hai tuần và lượng
mưa sẽ giảm khoảng 20%. Riêng vụ hè thu, lượng mưa sẽ ít hơn và hạn đầu vụ sẽ gay gắt
hơn. Đặc biệt, “Hạn bà chằng” (số ngày liên tiếp lượng mưa < 5mm) sẽ nhiều hơn và ác liệt
hơn trong mùa mưa. Hiện tượng “xì phèn” làm lúa chết từng đám giống như luộc trong nước

1/2 thành phố Maxcơva của Nga. Dòng sông băng lớn nhất Nam cực Pine Island đang tan ra
với tốc độ nhanh hơn 40% so với năm 1970, trong khi dòng sông băng Smith cũng ở nam cực
đang tan chảy với tốc độ nhanh hơn 82% so với năm 1992. Băng hà trên vùng lục địa Wilkins
diện tích 13.000 km2, thuộc khu vực tây nam bán đảo Nam Cực, cách Nam Mỹ 1.600 km về
phía Nam và vùng Antarktig đã xuất hiện cách đây ít nhất 1500 năm. Ngày 28-2-2008, núi
băng Wilkins này bắt đầu hoạt động. Ông Jim Eliot, người tham gia trong chuyến khảo sát
cho biết: “Từ trước đến nay tôi chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng nào tương tự.
Chúng tôi bay dọc theo vết rạn chính để biết được quy mô phá hủy của núi băng. Từ máy bay
nhìn xuống, những tảng băng lớn cỡ bằng ngôi nhà rải tung tán như thể một vụ nổ vừa xảy ra
ở đây".


Hình 7.7: Dự báo nguy cơ núi băng Wilkins của Nam Cực biến mất sau 15 năm tới do ảnh
hưởng của quá trình nóng lên của vỏ trái đất.

Băng tại Bắc Cực năm 1979. Ảnh: NASA.


Diện tích bao phủ của băng giảm đáng kể vào năm 2005. Ảnh:
NASA.

Hình 7.8: Băng ở Bắc Cực đang tăng nhanh hơn so với dự đoán

Tính đến tháng 9/2007, khối lượng băng ở sông băng Grin-len (Greenland) và Bắc Băng
Dương đã xuống tới mức thấp nhất từ trước tới nay, lần lượt là 2,9 triệu và 4,4 triệu mét khối.
Lượng băng hiện nay đã bị thu hẹp tới 39% so với lượng băng trung bình giai đoạn từ 19792000. Việc băng ở Bắc Băng Dương tan chảy, tuy không làm tăng mực nước biển, nhưng lại
góp phần làm cho khí hậu Trái Đất nóng lên khi lớp băng vĩnh cửu được thay thế bằng vùng
nước tối hấp thụ nhiệt lượng của Mặt Trời.
Bên cạnh đó, lớp băng tồn tại lâu năm ở Bắc cực dễ bị ảnh hưởng do sự tái diễn các đợt
gió xoáy và các dòng hải lưu, một hiện tượng sẽ khiến cho lớp băng ở khu vực xung quanh

nên bất cứ hoặc mức nhỏ trong mực nước biển dâng cao qua thời gian sẽ có ảnh hưởng rất
lớn trên kinh tế thế giới và sự sinh kế của nhân loại.


Hình 7.11: Mực nước biển dâng những năm gần đây
Dựa vào phân tích mới nhất do toán Anh quốc-Phần Lan cùng hợp tác thực hiện, mực
nước biển hơn 2000 năm qua đã ổn định. Mức đo cho thấy mực nước biển dâng cao 2 phân
vào thế kỷ 18 và 6 phân vào thế kỷ 19, nhưng rồi tăng bất ngờ và báo động với 19 phân, hoặc
hơn nửa bộ Anh trong thế kỷ vừa qua này. Điều này rất có thể là do lớp băng đá tan chảy.
Mực nước biển dâng cao toàn cầu trung bình được dự đoán tăng giữa 0,8 mét và 1,5 mét vào
cuối thế kỷ.
Cách nay 2 năm, báo cáo AR4 của Ủy ban Nghiên cứu biến đổi khí hậu liên
chính phủ (IPCC) thuộc LHQ đã dự báo, mực nước biển sẽ tăng 59cm vào năm 2100. Tuy
nhiên, từ đó đến nay, các nhà khoa học đều cho rằng báo cáo đó ước tính sai và mực nước
biển thực tế đang tăng cao gấp đôi. Họ cho biết, các khối băng ở Greenland và Nam Cực tan
nhanh sẽ làm mực nước biển dâng thêm 1m hoặc hơn vào năm 2100, dựa vào các dữ liệu vệ
tinh cho thấy, mực nước biển mỗi năm dâng cao thêm 3mm, cao hơn 50% so với mức trung
bình trong thế kỷ 20, nhấn chìm nhiều thành phố ven biển, phá hủy môi trường sống của 600
triệu người ở những khu vực có nền đất thấp và các đảo quốc.

Khoảng 600 triệu người sống ở các vùng đất thấp phải hứng chịu hậu quả nếu mực nước biển
tăng thêm vài cm. Ảnh: Boston Globe.


Hình 7.12: Dự báo ảnh hưởng của biển dâng đến bờ biển và cư dân ven biển
Khu vuc phía Bắc New Zealand, vùng đất chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của sự thay
đổi khí hậu toàn cầu.
Qua các đo đạc đã được tiến hành, IPCC đã ghi nhận những biến đổi về nhiệt độ nước
biển bề mặt và mực nước biển ở Đông Nam Á.




Nguồn:Đánh giá của Jeremy Carew-Reid - Giám đốcTrung tâm
Quốc tế về Quản lý Môi trường (ICEM).

7.5.6. Dự báo tác động của biển dâng lên môi trường tự nhiên
Khi mực nước biển dâng, hậu quả dễ thấy nhất là nhiều vùng sẽ bị ngập. Nhưng hậu quả
của biển dâng không phải chỉ có ngập tĩnh. Động lực biển vùng ven bờ và cửa sông, sóng vỡ
khi tiếp cận bờ sẽ tác động mạnh hơn lên đường bờ, bãi triều. Bờ biển bị xâm thực và cơ sở
hạ tầng ven biển bị đe dọa lớn hơn.
Ở các đồng bằng ven biển, độ ngập sâu hơn, thời gian ngập kéo dài hơn. Xâm nhập mặn sẽ
vào sâu hơn, nguồn nước ngọt khan hiếm hơn. Chế độ thủy văn, thủy lực trên từng địa bàn và
trên cả đồng bằng sẽ có những thay đổi, khiến cho động thái bồi xói bờ sông, cù lao, cồn bãi,
bồi lắng phù sa trên hệ thống sông chính và vùng cửa sông cũng thay đổi.
7. 5.6. 1. Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Bản đồ các vùng chịu ảnh hưởng nước biển dâng ở ĐBSCL:


Hình 7.15: Theo dự báo, nhiều vùng thuộc ĐBSCL như An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang,
Vĩnh Long, Cà Mau... sẽ ngập chìm từ 2-4m trong vòng 100 năm tới (Nguồn: ICEM)
Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành vào khoảng 11000 năm trở lại đây. Cao trình
mặt đất tương đối thấp trên nhiều vùng khá rộng chẳng hạn Đồng Tháp Muời, Tứ giác Long
Xuyên, Bán đảo Cà Mau, nhiều nơi cao trình chỉ vào khoảng 20 – 30 cm. Với những tác động
đã đề cập, các yếu tố thủy nông quyết định cơ cấu mùa vụ, sinh thái thủy vực, hệ sinh thái
rừng ngập nước ngọt (trong Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và trong U Minh thượng
và hạ), ... chịu tác động mạnh mẽ, thậm chí có nơi đe dọa cả chính sự tồn tại.
Đồng bằng sông Cửu Long trước đây rất ít hứng chịu bão. Thế nhưng trong thập kỷ vừa
qua, vào năm 1997 đã hứng chịu tác động của cơn bão Linda và năm 2006 đã bị đuôi bão
Durion quét qua (Hình 7). Nhiều nghiên cứu gần đây tìm mối tương quan giữa việc bão ở Tây
Thái Bình Dương có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn sau tháng 10 dương lịch và đi về

thực xảy ra nhiều hơn. Khác với hậu quả của các cơn bão hay lũ quét thường xảy ra vào mùa
mưa bão hàng năm, sự đe dọa của biển dâng lên hạ tầng cơ sở dọc bờ biển theo mùa, theo kỳ
triều và thường xuyên hơn.
7.5.6. 3.Vùng Đồng bằng Sông Hồng

Hình 7.19: Bản đồ các vùng chịu ảnh hưởng nước biển dâng ở Đồng bằng sông Hồng:


Theo dự báo, nhiều vùng thuộc ĐBSH như Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình sẽ
ngập chìm từ 2-4m trong vòng 100 năm tới.
(Nguồn: ICEM)

7. 6. Dự báo ảnh hưởng về Kinh tế - Xã hội khi biển dâng
7.6.1. Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
Dựa trên các kết quả điều tra cơ bản tổng hợp và đối chiếu với thực tế sản xuất, kinh tế-xã
hội, đồng bằng sông Cửu Long gồm có ba tiểu vùng : tiểu vùng mà quá trình sông chiếm ưu
thế (A), tiểu vùng nơi quá trình biển chiếm ưu thế (C), và tiểu vùng chịu ảnh hưởng của cả
hai quá trình sông và biển (B) (Hình 8). Có thể dự báo định tính tác động của mực nước biển
dâng lên ba tiểu vùng như sau.
7.6.1.1 Tiểu vùng nơi ảnh hưởng nguồn
chiếm ưu thế (A)

Hình 7.20: Sơ đồ ba tiểu vùng của ĐBSCL
dưới tác động của biển dâng
Đó là các tỉnh giáp biên giới Cam-pu-chia, là nơi hai nhánh sông Mêkông và sông Bassac đi
vào lãnh thổ Việt Nam, lũ sông Mê-kông tràn bờ và tràn đồng vào Đồng bằng sông Cửu
Long. Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của mực nước biển dâng nhưng
không mạnh như hai tiểu vùng B và C.



nguồn

ra

biển.

Diện

tích

của

tiểu

vùng

bị

thu

hẹp

lại.

Ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội ở tiểu vùng này rất to lớn do đây là vùng tập trung dân cư đô
thị, có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng, mà sinh hoạt và các hoạt động kinh tế-xã hội cho tới


nay đều dựa vào nguồn nước ngọt dồi dào hầu như quanh năm. Đối với khu vực I, ở một số
địa bàn giáp với tiểu vùng (C), các hệ thống canh tác trên nền nước ngọt như canh tác lúa,

đồng bằng ven biển và ở cuối các con sông, nơi mật độ dân số rất cao và phải chịu sức ép từ
hai phía biển và núi. Sa cấu, độ phì của đất, xâm nhập mặn thay đổi sẽ ảnh hưởng đến năng
suất và sản lượng cây trồng.
Kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, xã hội, văn hóa và du lịch tập trung phần lớn ở vùng đồng
bằng và ven biển, các cảng biển đã xây dựng dọc miền Trung sẽ chịu sự uy hiếp mạnh mẽ từ
mực nước biển dâng.
Nhìn tổng thể, kinh tế - xã hội vùng duyên hải miền Trung sẽ chịu sự tác động trên các
mặt:
- Biến động về mặt tự nhiên tác động lên kết cấu hạ tầng, lên kinh tế biển và du lịch; sức hút
đầu tư cho khu vực II và khu vực III có thể bị ảnh hưởng.
- Xây dựng và bảo vệ kết cấu hạ tầng tốn kém hơn.
- Sẽ diễn ra sự dịch chuyển dân cư, lao động, các đô thị và cơ sở kinh tế trong nội vùng từ
vùng thấp lên vùng cao, và ra ngoài vùng. Biến động này, đến lượt nó, có thể tác động đến sự
ổn định địa mạo nếu không tính toán và chuẩn bị kỹ vị trí các địa bàn tiếp nhận.
Những biến động sâu sắc về môi trường tự nhiên và về kinh tế-xã hội nêu lên trên đây có ảnh
hưởng đến sự bền vững của sự phát triển của vùng duyên hải miền Trung, mà còn đối với cả
nước trong chừng mực mà kết cấu hạ tầng nối liền Bắc Nam hiện nay đều đi qua vùng này.
7.6. Biến đổi về khí hậu, thời tiết
7.6.1 Trên thế giới
Dựa vào số liệu đo đạc của các nhà khí tượng học thì hàng năm mặt trời rọi bức xạ ánh
sáng vào trái đất một khối lớn năng lượng khoảng 5.4.1024Jun. Trái đất chỉ hấp thụ khoảng
60% lượng này, còn 40% phản xạ ngay vào vũ trụ. Số năng lượng hấp thu được qua nhiều
quá trình phức tạp, biến thành bức xạ nhiệt phát trở lại qua khí quyển vào vũ trụ. Hàm lượng
Khí Nhà Kính(KNK) trong khí quyển phải được giữ sao cho khối năng lượng hấp thu được
phát ra hết để nhiệt độ không tích lại và không tăng lên làm BĐKH.


Trích đoạn Lũ lịch sử các sông miền trung Một số hoạt động liên quan đến Biến Đổi Khí hậu của Thế giới Và Việt nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status