Phát triển siêu thị ở Hà Nội đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. - Pdf 32

Đề án kinh tế thương mại
MỤC LỤC
Trang
Trần Đức Toàn Lớp: Thương mại 47B
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa và
đang từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Đến nay
chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng tự hào trong phát triển kinh tế
xã hội, đời sống người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao.
Cũng như các ngành kinh tế quốc dân khác, ngành thương mại đang
cố gắng hết sức để tiếp thu những tri thức tiên tiến trên thế giới nhằm bắt
kịp với các nước phát triển. Sự xuất hiện các siêu thị tại Việt Nam vào đầu
thập kỷ 90 chính là một xu thế tất yếu, một bước đột phá trong sự phát triển
thương mại theo hướng văn minh hiện đại. Mặc dù còn mới mẻ song các
tác dụng và hiệu quả của siêu thị đã từng bước được khẳng định đặc biệt là
ở các đô thị lớn. Ở Hà Nội, với trên 10 năm có mặt nhưng siêu thị đã thực
sự giữ một vai trò quan trọng trong phân phối hàng hóa, góp phần làm thay
đổi bộ mặt đô thị, thúc đẩy sản xuất và hình thành tập quán văn minh
thương mại. Đặc biệt, siêu thị là công cụ quan trọng để doanh nghiệp thực
hiện chính sách Marketing có hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi trong
công tác quản lý Nhà Nước về thương mại.
Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển siêu thị ở Hà Nội vẫn còn nhiều
vấn đề đáng lo ngại. Tốc độ tăng trưởng của siêu thị còn chậm, chưa tương
xứng với tiềm năng thành phố. Phát triển siêu thị còn thiếu tính bền vững
( phát triển không đều, không hiệu quả ), có nhiều vấn đề bất cập trong quy
hoạch đô thị. Mặt khác, do thiếu chỉ dẫn về chiến lược và phát triển thiếu tự
phát nên hoạt động kinh doanh của siêu thị còn chưa phù hợp đồng bộ với
định hướng phát triển của thành phố nhất là trong thời điểm hiện nay khi
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO.
Vì vậy, nhằm góp phần đẩy mạnh sự phát triển siêu thị cũng như
khắc phục những nhược điểm trên nên tôi đã chọn đề tài “ Phát triển siêu

nhiều cách khác nhau tùy theo từng nước.
Ví dụ:
- Tại Hoa kỳ, siêu thị được định nghĩa”là cửa hàng tự phục vụ tương
đối lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng
hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng
về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà
cửa”.
- Tại Anh người ta định nghĩa siêu thị là của hàng bách hóa bán đồ
thực phẩm đồ uống và các loại hàng hóa khác. Siêu thị thường đặt tại thành
4
4
Đề án kinh tế thương mại
phố hoặc dọc đường cao tốc hoặc trong khu vực buôn bán có diện tích
khoảng từ 4000 đến 25000 bộ vuông.
- Siêu thị ở Pháp được định nghĩa là cửa hàng bán lẻ theo phương thức
tự phục vụ có diện tích từ 400m² đến 2500m² chủ yếu bán hàng thực phẩm
và vật dụng gia đình.
Tóm lại, có thể có rất nhiều định nghĩa khác nhau về siêu thị nhưng từ
các định nghĩa này người ta vẫn thấy rõ nội hàm của siêu thị là: dạng cửa
hàng bán lẻ, áp dụng phương thức tự phục vụ, hàng hóa tiêu dùng phổ biến.
- Trong quy chế ”siêu thị, trung tâm thương mại ” của Bộ Thương mại
đã định nghĩa “ Siêu thị là cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc
chuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hóa phong phú, đa dạng, đảm bảo
chất lượng; đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ
thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có phương thức phục vụ văn
minh thuận tiên nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách
hàng”.
1.1.2.2. Phân loại siêu thị:
Để phân loại siêu thị có thể dựa trên các tiêu chí như: Phương thức
kinh doanh, phương thức phục vụ…

Người bán lẻ bao gồm các doanh nghiệp và cá nhân bán hàng hoá
trực tiếp cho người tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình. Các chức năng chủ
yếu của người bán lẻ là:
+ Tiếp xúc với khách hàng, phát hiện nhu cầu tiêu dùng, thu thập
thông tin thị trường và chuyển các thông tin này trở lại người sản xuất.
+ Thực hiện bán hàng, quảng cáo và trưng bày sản phẩm.
+ Phân chia và sắp xếp hàng hoá thành những khối lượng phù hợp
với người mua.
+ Dự trữ hàng hoá sẵn sàng cung cấp cho người tiêu dùng.
6
6
Đề án kinh tế thương mại
+ Cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
Những người bán lẻ có thể được phân chia thành nhiều loại theo
nhiều tiêu thức khác nhau. Ví dụ: theo mặt hàng mà người bán lẻ bán,
người ta chia ra thành cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng bách hoá, siêu thị,
cửa hàng tiện dụng…Cửa hàng chuyên doanh bán những dòng sản phẩm
hẹp và chuyên sâu. Cửa hàng bách hoá bày bán nhiều mặt hàng khác nhau,
mỗi mặt hàng là một quầy riêng. Và siêu thị là trung tâm bán lẻ lớn chi phí
thấp, tự phục vụ, giá thấp, doanh số bán cao. Cửa hàng tiện dụng là những
cửa hàng bán lẻ nhỏ, bán một số mặt hàng phục vụ nhu cầu thường xuyên
của người tiêu dùng.
Các đối tượng bán lẻ khác nhau có quy mô, phương thức kinh doanh
và sức mạnh chi phối thị trường khác nhau, tất nhiên họ cũng có khả năng
điều khiển hệ thống phân phối khác nhau.
* Phân loại theo hàng hoá kinh doanh
Phân theo tiêu thức hàng hoá kinh doanh trong siêu thị, có thể chia ra
các loại siêu thị sau:
- Siêu thị tổng hợp:
Siêu thị tổng hợp là siêu thị bán nhiều loại hàng hoá cho mọi loại

phân phối.
Siêu thị còn giúp giải quyết sự khác biệt về không gian giữa sản xuất
và thời gian tiêu dùng không trùng khớp, có thể sản xuất có tính thời vụ
còn tiêu dùng quanh năm hoặc ngược lại. Vì sản xuất thường không xảy ra
cùng thời gian với nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nên phải dự trữ hàng hoá.
Sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng được các siêu thị giải
quyết một phần sự khác biệt này.
Mặt khác, quá trình phân phối hàng hoá các siêu thị nắm bắt được nhu
cầu thực tế của thị trường cả về sản phẩm, thời gian và không gian nên có
thể chuyển tải những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường cho những
người sản xuất và cung ứng hàng hoá, vì thế tạo lập cầu nối để dẫn dắt
8
8
Đề án kinh tế thương mại
người sản xuất định hướng vào nhu cầu thị trường, giảm thiểu các tầng, nấc
trung gian trong hệ thống phân phối, do đó sẽ có mức giá bán lẻ thấp nhất
trong mạng lưới bán lẻ hàng hoá thông thường.
Cách thức tổ chức các quá trình phân phối sản phẩm của siêu thị sẽ
giải quyết các mâu thuẫn cố hữu của nền kinh tế. Các chức năng chính của
siêu thị là mua và bán, vận chuyển, lưu kho, tiêu chuẩn hoá và phân loại,
tài chính, chịu rủi ro, thông tin thị trường.
Siêu thị còn đóng vai trò chức năng tài chính cung cấp tiền mặt và tín
dụng cần thiết cho hoạt sản xuất hàng hoá: Ví dụ: Siêu thị Metro đã cung
cấp tài chính cho các hộ nông dân sản xuất rau sau đó mua lại rau để bán
trong siêu thị.
Siêu thị còn đóng vai trò như là người chia sẻ rủi ro với các nhà sản
xuất. Nếu như trước kia các nhà sản tự phân phối hàng hoá và tự gánh chịu
rủi ro đối với hàng hoá của mình thì hiện nay một số siêu thị đã bắt đầu tự
kinh doanh rủi ro. Họ thường mua đứt hàng hoá của các doanh nghiệp (với
giá thấp) sau đó tự chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển hàng hoá đối

quyền quyết định mua sản phẩm họ ưng ý nhất.
Siêu thị thể hiện sự sáng tạo trong nghệ thuật trưng bày hàng hóa:
ngoài việc tạo ra phương thức bán hàng tự phục vụ, siêu thị còn thể hiện
được nghệ thuật trưng bày hàng hóa nhằm tối đa hiệu quả không gian bán
hàng. Điều này cũng có nghĩa hàng hóa trong siêu thị phải có khả năng tự
quảng cáo và lôi cuốn người mua.
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ bán hàng: cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ
tầng, trang thiết bị kỹ thuật cấu thành một siêu thị như nhà cửa, kho hàng,
thiết bị vật dụng cần thiết…tương đối hiện đại nhằm đảm bảo sự tiện nghi
phục vụ tốt, tạo thoải mái cho khách hàng khi đi mua sắm. Điều này giúp
tăng khả năng cạnh tranh với các siêu thị khác và với loai hình bán lẻ khác.
10
10
Đề án kinh tế thương mại
Doanh số hàng hóa bán ra: do phải đầu tư nhiều vào các thiết bị và chi
phí khấu hao tài sản cố định cao nên siêu thị đòi hỏi mức doanh số cao hơn
rất nhiều so với các cửa hàng thông thường, mặt khác giá bán cũng phải
khống chế ở mức có khả năng hấp dẫn khách hàng, vì vậy siêu thị phải
được hoạch định ở tầm hoạt động rộng lớn.
Quy mô của siêu thị tương đối lớn: siêu thị có quy mô tương đối lớn vì
hình thức kinh doanh này lấy quan điểm khách hàng tự phục vụ và chi phí
thấp, lợi nhuận thấp làm cơ sở hoạt động. Do đó để đảm bảo tính kinh tế
đòi hỏi siêu thị phải có quy mô hợp lý mới có thể tiêu thụ được khối lượng
hàng hóa lớn đủ để bù đắp chi phí kinh doanh và có lãi.
1.2. Cấu trúc cơ bản về tổ chức và hoạt động siêu thị
1.2.1. Tiêu chuẩn siêu thị
Trong Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại của Bộ Thương mại
siêu thị được phân chia thành 3 hạng: Hạng I, hạng II và hạng III.
- Siêu thị hạng I:
- Áp dụng đối với siêu thị kinh doanh tổng hợp:

có bố trí nơi trông giữ xe và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy
mô kinh doanh của Siêu thị;
+ Có kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, đóng gói, bán hàng,
thanh toán và quản lý kinh doanh hiện đại;
+ Tổ chức, bố trí hàng hóa theo ngành hàng, nhóm hàng một cách
văn minh, khoa học để phục vụ khách hàng lựa chọn, mua sắm, thanh toán
thuận tiện, nhanh chóng; có nơi bảo quản hành lý cá nhân; có các dịch vụ
ăn uống, giải trí, phục vụ người khuyết tật, phục vụ trẻ em, giao hàng tận
nhà, bán hàng qua bưu điện, điện thoại.
Áp dụng đối với Siêu thị chuyên doanh: tiêu chuẩn là từ 500 m
2
trở
lên; tiêu chuẩn là từ 1.000 tên hàng trở lên; các tiêu chuẩn khác như Siêu
thị kinh doanh tổng hợp.
- Siêu thị hạng III:
Áp dụng đối với Siêu thị kinh doanh tổng hợp:
+ Có diện tích kinh doanh từ 500 m
2
trở lên
+ Có Danh mục hàng hóa kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên
12
12
Đề án kinh tế thương mại
+ Công trình kiến trúc được xây dựng vững chắc, có thiết kế và
trang thiết bị kỹ thuật đảm bảo các yêu cầu phòng cháy chữa cháy, vệ sinh
môi trường, an toàn, thuận tiện cho khách hàng; có bố trí nơi trông giữ xe
và khu vệ sinh cho khách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của Siêu
thị;
+ Có kho và các thiết bị kỹ thuật bảo quản, đóng gói, bán hàng,
thanh toán và quản lý kinh doanh hiện đại;

Loại hình bán lẻ hỗ trợ hay còn gọi là “đối thủ cạnh tranh tốt” của siêu
thị là loại hình bán lẻ hoạt động trên những phân khúc thị trường khác, với
mục đích và phương thức hoạt động khác, không xâm phạm vào thị trường
của siêu thị. Siêu thị và các loại hình bán lẻ hỗ trợ có thể tồn tại bên cạnh
nhau, liên kết với nhau thành hệ thống. Như vậy, cần phân biệt khi xem xét
mối quan hệ giữa siêu thị với các hình thức tổ chức bán lẻ cũng như những
của hàng mắt xích. Cửa hàng mắt xích hay cửa hàng bán lả độc lập là cách
thức sở hữu, quản lý khác nhau của các doanh nghiệp. Siêu thị cũng có thể
là các thành viên của một hệ thống mắt xích hay tồn tại độc lập.
1.2.3.2. Siêu thị với các loại hình bán lẻ cạnh tranh trực tiếp
Có nhiều đối thủ cạnh tranh với siêu thị, nhưng xét về quy mô và mức
độ cạnh tranh thì nổi bật là loại hình bán lẻ ở chợ. Chợ là địa điểm tập
trung thường xuyên ( hàng ngày hay định kỳ ) nhiều người bán lẻ và người
mua để tiến hành trao đổi, mua bán hàng hóa. Hộ kinh doanh bán lẻ ở chợ
chỉ mượn địa điểm đẻ bán hàng, kinh doanh và tự hạch toán. Chợ là loại
hình bán lẻ truyền thống, hàng hóa rất phong phú, từ thực phẩm, vật dụng
gia dình, quần áo, công cụ đến các loại phụ tùng, đồ kim khí diện máy …
Giá cả ở chợ khá linh hoạt người mua, người bán tự do thương lượng với
nhau.
Chợ là loại hình bán lẻ truyền thống đã có từ xa xưa và phổ biến khắp
nơi trên thế giới, có vai trò hết sức quan trọng đối với lịch sử nhân loại. Tại
Việt Nam, mua sắm hàng hóa ở chợ đã trở thành nếp sống quen thuộc của
14
14
Đề án kinh tế thương mại
mọi người từ thành thị đến nông thôn, tuy nhiên chợ cũng đang bị hạn chế
ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM, …
1.3. Quản lý Nhà nước về siêu thị
1.3.1. Sự cần thiết của quản lý Nhà nước về siêu thị
Quản lý Nhà Nước đối với kinh doanh siêu thị là đương nhiên đối với

Việc phát triển siêu thị đã mở ra một kênh phân phối mới quan trọng
không những đối với người tiêu dùng mà cả đối với nhà sản xuất. Do
phương thức tổ chức kinh doanh mang tính tập trung và tích hợp cao, siêu
thị là nơi lý tưởng để các nhà sản xuất triển khai Marketing, quảng cáo, …
Bên cạnh đó, nhờ hệ thống bán hàng được tổ chức và lưu trữ đầy đủ nên
siêu thị có thể phản ánh và chia sẻ thông tin đẻ các nhà sản xuất tiến hành
các hoạt đông nghiên cứu thị trường, khảo sát và làm cơ sở cho việc ra
quyết đinh và hoạch định chiến lược kinh doanh.
Chính tác động sâu rộng của hệ thống siêu thị tới phát triển sản xuất,
phát triển kinh tế xã hội và tiêu dùng là lý do quan trọng dẫn đến sự cần
thiết của quản lý Nhà Nước đối với phát triển hệ thống này.
1.3.2. Nội dung quản lý nhà nước về siêu thị
Xây dựng thực thi hệ thống luật pháp, quy định hoàn chỉnh tạo môi
trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của các siêu thị như luật dân sự,
luật thương mại, luật vệ sinh an toàn thực phẩm…
Xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện các chính sách và cơ chế
khuyến khích phát triển siêu thị ở Việt Nam, đảm bảo thống nhất và phù
hợp với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ chế phát triển thương mại,
phát triển kinh tế xã hội đất nước trong điều kiện Việt nam chuyển hẳn sang
nền kinh tế thị trường có điều tiết của Nhà Nước và thực hiện mở cửa hội
nhập.
Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển mạng lưới
phân phối mạng lưới siêu thị trên quy mô quốc gia phù hợp với quy hoạch,
kế hoạch phát triển thương mại, phát triển kinh tế xã hội đất nước.
16
16
Đề án kinh tế thương mại
Thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi các
chính sách và pháp luật của Nhà Nước đối với kinh doanh siêu thị, xử lý
các vi phạm pháp luật trong kinh doanh siêu thị. Đồng thời, Nhà Nước cần

bãi đỗ xe trung bình 128 chỗ, số quầy tính tiền trung bình là 6 và số nhân
viên trung bình là 24 người. Các siêu thị chiếm 35% doanh thu bán hàng
thực phẩm và 19% tổng mức bán lẻ.
Đại siêu thị phát triển rộng khắp trong thập niên 60, 70 của thế kỷ XX.
Tính đến 9/1998, nước Pháp đã có 1131 đại siêu thị với tổng doanh thu
khoảng 3000 tỷ Franc chiếm 25, 7% tổng doanh thu từ hàng thực phẩm, 13,
8% doanh thu từ việc bán các loại hàng hóa khác và 19, 3% tổng mức bán
lẻ. Các tập đoàn kinh doanh đại siêu thị gồm Leclerc, Eromarche,
Carrefour, Cora, Geant Casino, Auchan, Contiment, Rallie.
1.4.2. Tại Mỹ
Siêu thị ở Mỹ thường có diện tích mặt bằng khoảng 3000Feet vuông
trở lên. Siêu thị bắt đầu phát triển từ năm 1916 đến năm 1930 mới thực sụ
đột phá và dần phát triển khắp nước Mỹ. trong những năm 40, 50 vừa qua
các siêu thị đã trở thành kênh phân phối thực phẩm chính ở Mỹ. Đến giai
đoạn sau ( 60, 70) siêu thị trở thành hệ thống cửa hàng bán lẻ chính thống
tại nước này. Vào cuối thập niên 80, ở Mỹ có khoảng 30000 siêu thị chiếm
20% tổng số cửa hàng bán lẻ thực phẩm với tổng doanh thu hàng năm đạt
200 tỷ USD, chiếm 75% tổng doanh thu bán hàng thực phẩm.
1.4.3. Khái quát chung về sự phát triển siêu thị ở Châu Âu, Châu Á
Ở Châu Âu nói chung siêu thị cũng phát triển với tốc độ gần tương
đương nước Pháp. Sự xuất hiện của siêu thị tại các quốc gia song hành với
sự phát triển của kinh tế bởi nó phù hợp với nguyện vọng của các nhà sản
xuất. Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm với tốc độ nhanh bằng cách bán hàng đại
trà. Sự xuất hiện của siêu thị phù hợp với nhịp sống công nghiệp và có tác
dụng nâng cao văn minh, tiến bộ trong lĩnh vực thương mại.
18
18
Đề án kinh tế thương mại
Tại Châu Á và các khu vực còn lại của thế giới do kinh tế phát triển
chậm hơn nên siêu thị cũng xuất hiện muộn hơn. Kinh tế của các nước

Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhằm giảm giá hàng hóa tạo
điều kiện thuận lợi để có sự cạnh tranh với loại hình bán lẻ khác. Để làm
tốt điều này, siêu thị thường mua cổ phần của các nhà sản xuất hoặc kí hợp
đồng cam kết về việc hàng hóa dược cung cấp đảm bảo tiêu chuẩn chất
lượng và khống chế về giá.
Nhân viên làm việc ở các khâu, các bộ phận của siêu thị đều được tiêu
chuẩn hóa theo từng vị trí công tác, công việc mang tính chuyên môn hóa
cao. Vì thế công tác đào tạo, huấn luyện đội ngũ nhân viên trong siêu thị
luôn được chú trọng nhằm đảm bảo hoạt động của siêu thị có bài bản
nhưng cũng linh hoạt, chủ động trong quá trình xử lý, giải quyết công việc.
Như vậy, siêu thị là loại hình kinh doanh thương mại hoạt động có hiệu
quả và khá phổ biến tại các nước phát triển, ra đời theo quy luật phát triển
tất yếu của nền kinh tế, thể hiện phương thức mua bán văn minh lịch sự, là
biểu tượng của sự phồn vinh và sự phát triển xã hội. Với phương thức bán
hàng tiến bộ, siêu thị đã tác động làm thay đổi thói quen, tập quán mua
sắm, tiêu dùng của người dân. Sự góp mặt của siêu thị làm cho lĩnh vực
bán lẻ sôi động hẳn lên diễn ra cạnh tranh gay gắt để lôi kéo và thu hút
khách hàng. Điều này tạo ra động lực thúc đẩy các loại hình bán lẻ không
ngừng đổi mới để làm tốt nhiệm vụ trực tiếp phục vụ và thỏa mãn nhu cầu
tiêu dùng của mọi người trong xã hội, góp phần nâng cao văn minh thương
mại.
20
20
Đề án kinh tế thương mại
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SIÊU THỊ Ở HÀ NỘI
2.1. Tổng quan hoạt động thương mại, phân phối hàng hóa ở Hà Nội
2.1.1. GDP hoạt động thương mại, phân phối hàng hóa của Hà Nội
Với vai trò là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa, là thủ đô của cả
nước, Hà Nội có một vị trí vô cùng quan trộng đối với sự nghiệp phát triển

4541 4571 5551 6336 6996
1. Thương nghiệp
3450 3149 3625 4214 4416
2. Khách sạn – nhà hàng
396 439 538 408 590
3. Dịch vụ
150 371 645 866 1100
4. DNSX trực tiếp bán sản
phẩm
545 612 743 848 890
II. Kinh tế tập thể 112 192 201 240 256
1. Thương nghiệp
14 27 21 41 42
2. Khách sạn – nhà hàng
3 8 17 21 21
3. Dịch vụ
13 39 39 34 35
4. DNSX trực tiếp bán sản
phẩm
82 118 124 144 158
III. Kinh tế cá thể
11321 16285 17672 16902 18000
1. Thương nghiệp
7467 10877 11695 13610 14483
2. Khách sạn – nhà hàng
3088 3885 4086 1844 2000
3. Dịch vụ
421 1015 1324 767 817
4. DNSX trực tiếp bán SP
345 508 567 681 700

Từ năm 2000 – 2005 tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
xã hội của cả khu vực kinh tế trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài đều tăng, tuy nhiên tốc độ tăng có sự khác nhau. Khu vực kinh tế
Nhà nước tăng từ 19970 tỷ đồng đến 38900 tỷ đồng ( tăng 18930 tỷ đồng )
tương đương 94, 8%, trung bình mỗi năm tăng trên 18%. Trong khi đó khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh hơn từ 915 tỷ đồng lên 6100 tỷ
đồng ( tăng 5185 tỷ đồng ) tương đương 566, 7%, trung bình mỗi năm tăng
113, 34%.
Xét về tỷ trọng, khu vực kinh tế trong nước vẫn chiếm tỷ trọng tuyệt
đối trong cơ cấu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội ( năm 2000
chiếm 95, 62%, năm 2002 là 91, 34% ). Thành phần kinh tế nhà nước và
kinh tế tập thể ít thay đổi từ năm 2000 dến 2005, kinh tế tư nhân vẫn giữ
vai trò hết sức quan trọng cho phần lớn hoạt động thương mại của thành
phố ( chiếm 30, 2% năm 2005 ). Trong khi đó khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài chiếm tỷ trọng nhỏ ( năm 2000 là 4, 38%, năm 2002 là 8, 66% ).
Trần Đức Toàn Lớp: Thương mại 47B
Như vậy tỷ trọng của khu vực kinh tế trong nước đang có xu hướng
giảm và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang có xu hướng tăng lên mặc
dù giá trị tuyệt đối của cả hai khu vực này đều tăng mạnh. Điều này đã
chứng minh được hướng đi đúng đắn, xu thế mở cửa, phát triển của thị
trường bán lẻ của Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung.
2.1.2.2. Hoạt động của các trung tâm thương mại – chợ
Có nhiều hình thức bán lẻ hàng hóa đang hoạt động trên thị trường Hà
Nội nhưng phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu đề cập đến các loại hình bán lẻ có
ảnh hưởng mạnh tới hoạt động của siêu thị như trung tâm thương mại, tổ
chức bán lẻ và chợ truyền thống vv…Hoạt động của các loại hình này có
vai trò quan trọng trong việc lưu thông hàng hóa, chiếm thị phần lớn trong
tổng mức lưu chuyển hàng hóa và có tác động ảnh hưởng tới sự phát triển
của siêu thị.
*Trung tâm thương mại bán buôn – bán lẻ ( truyền thống )

những cửa hàng được người bán ủy thác giao cho việc tiêu thụ hàng hóa
dịch vụ trên cơ sở hợp động đại lý. Đặc điểm của loại cửa hàng này là hoạt
động độc lập, hưởng thù lao bằng mức hoa hồng nhất định trên doanh số
bán ra và có thể tính các hợp đồng nhân danh người bán.
Các cửa hiệu độc lập và đại lý này thường bán lẻ những loại hàng hóa
thông dụng phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày và thường đặt ở các khu
dân cư. Việc tổ chức kinh doanh loại hình này tương đối đơn giản, gọn nhẹ,
số nhân viên trực tiếp khoảng 2 – 3 người nên phương thức kinh doanh rất
linh hoạt. Vị trí cửa hiệu bán lẻ thường được tận dụng ở mặt tiền phố làm
mặt bằng kinh doanh.
Khảo sát dọc các đường Kim Liên, Đào Duy Anh, Chùa Bộc cho thấy
các cửa hiệu độc lập dần chuyển sang đại lý bán lẻ. Hình thức này phát
triển mạnh trong những năm gần đay phần lớn là do giá bán của chủng loại
hàng hóa có cùng thương hieu hầu như không có sự chênh lệch giữa các
khu vực, vì lẽ đó đại lý bán lẻ sẽ không phải chịu áp lực cạnh tranh về giá
đồng thời phù hợp với tập quán, thói quen mua sắm dọc đường của người
tiêu dùng Việt Nam. Chính những lợi thế của loại hình này về sự gần gũi
Trần Đức Toàn Lớp: Thương mại 47B

Trích đoạn Hàng húa trong siờu thị Hoạt động Marketing của siờu thị Kết quả hoạt động kinh doanh Thành tựu và hạn chế của siờu thị Hà Nội hiện nay 1 Thành tựu Dự bỏo nhu cầu tiờu dựng của người dõn Hà Nộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status