TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
BÀI BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC TẬP MÔN HỌC
TỔNG HỘ NHU CẦU SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN NĂM 2020
XÃ VŨ TIẾN – HUYỆN VŨ THƯ – TỈNH THÁI BÌNH
Sinh viên thực tập
: Hoàng Văn Thạo
Trương Mai Anh
Giảng viên hướng dẫn: Đào Đình Đức
Hoàng Nguyệt Ánh
Hà Nôi - 2016
MỤC LỤC
1.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện các văn bản đó............................................................................18
Qua bảng trên, chúng ta có thể thấy được chi tiết mức độ biến động diện tích của từng loại đất
trên địa bàn xã Vũ Tiến trong những năm qua; cụ thể như sau:..................................................28
2.2.2. Biến động các loại đất chính.....................................................................28
3.1. Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu.........31
1.1. Đánh giá Tiềm năng đất đai để phát triển nông nghiệp................................35
Bảng 14: CHU CHUYỂN ĐẤTĐAI TRONG KẾHOẠCH SỬDỤNGĐẤTNĂM2020
CỦA XÃ VŨ TIẾN.........................................................................................................58
đưa công tác quản lý đất đai ở các địa phương đi vào nề nếp. Quy hoạch sử dụng đất
đảm bảo cho việc chủ động dành quỹ đất hợp lý cho phát triển của các ngành, các lĩnh
vực, đáp ứng nhu cầu đất đai cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, xây dựng các khu
công nghiệp, khu đô thị, thương mại, dịch vụ, khu dân cư.... góp phần quan trọng thúc
đẩy quá trình phát triển kinh tế, giữ vững ổn định tình hình xã hội đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Quy hoạch sử dụng đất đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm,
hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái.
Xã Vũ Tiến có tổng diện tích tự nhiên là 783,83 ha , dân số là 10101 người, mật
độ dân số trung bình là 1.290 người/km 2, vị trí địa lý thuận lợi để giao lưu kinh tế, văn
1
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
hoá xã hội với các xã khác trong huyện. Trong những năm qua, hòa chung với nhịp độ
phát triển của huyện Vũ Thư, trên địa bàn xã Vũ Tiến diễn ra quá trình công nghiệp
hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, nhu cầu sử dụng đất của các ngành kinh tế ngày một gia
tăng, đã tác động mạnh đến sự biến động cơ cấu đất đai xã. Vấn đề sử dụng và quản lý
đất trên địa bàn xã gặp nhiều khó khăn và phức tạp hơn. Sự gia tăng dân số cũng gây
áp lực không nhỏ đối với quỹ đất của địa phương và hầu hết các ngành kinh tế trên địa
bàn đều có nhu cầu về đất để mở rộng và phát triển. Chính vì vậy, làm thế nào để phân
bổ quỹ đất hợp lý đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng đất cho tất cả các ngành tạo tiền đề
cho sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội của xã là việc làm cần thiết.
Do tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất trong giai đoạn hiện nay cũng như việc chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Luật
đất đai 2013 về kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm và kỳ kế hoạch sử dụng đất là 5
năm; UBND tỉnh Thái Bình, UBND huyện Vũ Thư, phòng TNMT huyện Vũ Thư phối
hợp với các cấp, ngành triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế
hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2015 – 2020)
1.1.3: Khí hậu:
- Xã Vũ Tiến nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do ảnh hưởng của
địa hình giáp biển nên khí hậu của xã mang nét đặc trưng của vùng khí hậu duyên hải,
đặc điểm mùa đông thường ấm hơn, mùa hè thường mát hơn so với khu vực sâu trong
nội địa. khí hậu của xã được chia làm bốn mùa: xuân , hạ, thu, đông. Mùa xuân và mùa
thu là hai mùa chuyển tiếp, mùa hạ và mùa đông có khí hậu rất trái ngược nhau. Mùa
hạ thời tiết nóng, mưa nhiều; mùa đông trời lạnh, khô và ít mưa. Theo chế độ mưa có
thể chia khí hậu của huyện thành hai mùa chính:
3
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
+ Mùa mưa: bắt đầu vào tháng 4 và kết thúc vào tháng 10 với đặc trưng là nóng,
ẩm, mưa nhiều. Hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam, với tốc độ gió là 2 đến 4 m/s.
Lượng mưa từ 1.100 – 1.500 mm, chiếm 80% lượng mưa cả năm. Khi mùa lũ đến,
mực nước sông Hồng lên cao và khi có mưa lớn tập trung thường xuyên thường gây ra
ngập úng cục bộ một số khu vực thấp trũng trên địa bàn xã làm ảnh hưởng đến sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân.
+ Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô có khí hậu lạnh, ít mưa.
Hướng gió thịnh hành là gió đông bắc thường gây lạnh đột ngột. Nhiệt độ trung bình
thấp nhất khoảng 15o C, lượng mưa ít, đạt 15 – 20% lượng mưa cả năm.
-Các đặc trưng khí hậu của xã bao gồm:
+ Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 – 24 oC, nhiệt độ trung bình cao nhất là
39oC, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 15o C, nhiệt độ cao tuyệt đối lên tới trên 39 oC và
nhiệt độ thấp tuyệt đối là 4,1oC . Chênh lệch nhiệt độ giữa ngày nóng và ngày lạnh
khoảng 15 – 20oC, biên độ nhiệt độ trong một ngày đêm nhỏ hơn 10 oC. Lượng bức xạ
mặt trời trung bình năm khoảng 100 kcal/cm2 Tổng tích ôn khoảng 8.300 – 8.500o C.
+ Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 – 2.000 mm, chủ yếu từ tháng 4 đến
tháng 10 và tập trung nhiều vào các tháng 7,8,9. Lượng mưa chiếm đến 80% lượng
của xã. Nguồn nước tưới của xã chủ yếu lấy từ sông có chất lượng nước tốt, hàm
lượng phù sa nhiều phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp. Đồng thời xã có hệ thống
kênh mương trải đều trên khắp các địa bàn có khả năng cung cấp đủ nước tưới cho sản
xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã.
1.2: Các nguồn tài nguyên.
1.2.1: Tài nguyên đất
Theo kết quả kiểm kê đất đai 2015, tổng diện tích tự nhiên của xã Vũ Tiến là
783,83 ha. Trong đó đất nông nghiệp là 456,61 ha, nhóm đất phi nông nghiệp là
319,22 ha, nhóm đất chưa sử dụng là 8,00 ha. Theo phân loại phát sinh học của xã
gồm các loại đất sau:
Đất nông nghiệp theo phân loại phát sinh học của xã gồm các loại đất sau:
+ Đất cát: được hình thành trên nền cát biển cũ ở độ sâu 2 – 3m mới xuất hiện
nhiều trầm tích biển. Do quá trình cải tạo, sử dụng nhiều năm lên đất được ngọt hóa.
Đất cát có kích thước hạt thô, thành phần cơ giới nhẹ,dung tích hấp phụ thấp, độ keo
liên kết kém, khi khô thì rời rạc, khi có nước thì bị bí chặt. Dễ cày bừa, ít tốn công,
nhưng vi sinh vật phát triển kém. Hàm lượng các chất dinh dưỡng như đạm, lân, kali,
mùn,…vv, đều thấp phân bố ở ngoài đê. Loại đất này phù hợp với trồng các loại cây
rau màu như: rau cải, khoai lang, khoai tây, lạc, dưa, đậu,…
+ Đất phù sa gờ lây ( độ gờ lây mạnh ở độ sâu từ 30 – 70 cm), có thành phần cơ
giới là thịt nhẹ trung bình, có độ dầy tầng đất >100cm nằm trên địa hình thấp phân bố
đều trên toàn xã. Loại đất này thuận lợi cho việc trồng cây lương thực, lúa, màu.
1.2.2: Tài nguyên nước.
Nguồn tài nguyên nước mặt của xã khá dồi dào do sông Hồng cung cấp, ngoài ra
còn có 2 hệ thống sông Gía Keo và Bồng Tiên chảy qua và hệ thống kênh mương nhỏ
và một số trạm bơm phục vụ sản xuất nông nghiệp của nhân dân trong xã, hệ thống
sông nhỏ bắt nguồn từ sông Hồng cùng với các ao hồ nhỏ phân bố rải rác trong và
ngoài khu dân cư (các ao hồ nhỏ chủ yếu dùng vào mục đích nuôi trồng thủy sản).
Nguồn nước ngầm cũng khá phong phú có thể khai thác khá thuận lợi phục vụ sản
xuất và đời sống của nhân dân trong xã.
1.2.3: Tài nguyên nhân văn.
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI.
Trong những năm qua, thực hiện Nghị Quyết Đại hội Đảng các cấp và nghị
quyết Đại hội Đảng bộ xã nền kinh tế - xã hội của xã Vũ Tiến đã từng bước phát triển,
đời sống nhân dân cơ bản được ổn định về nhiều mặt.
2.1. Tăng trưởng kinh tế.
2.1.1. Tăng trưởng kinh tế.
Những năm gần đây, thực hiện việc đổi mới nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh
tế của Vũ Tiến phát triển không ngừng, đã đạt được mức độ tăng trưởng kinh tế đáng
kể. Cùng với việc phát triển kinh tế nông nghiệp, trong những năm gần đây Vũ Tiến
cũng luôn chú trọng đến phát triển ngành nghề, dịch vụ thương mại với mục đích theo
kịp sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Chính điều này đã góp phần nâng cao thu
nhập cho bà con nói riêng và cho toàn xã lên một cách nhanh chóng. Năm 2015, tổng
6
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
giá trị sản xuất đạt 251 tỷ 144 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
16,0% vượt 4,0% so với mục tiêu Đại hội XVII đề ra. Thu nhập bình quân đầu người
10 triệu đồng/người/năm. Đến năm 2015 cơ cấu kinh tế của xã là: nông nghiệp 29,0%;
tiểu thủ công nghiệp, xây dựng 36,0%; thương mại dịch vụ 35%.
Bảng 1: GTSX KINH TẾ ĐẠT ĐƯỢC TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
NĂM
2010
2011
2012
2013
17.561
18.121
Ngành TTCN – XDCB
11.954
14.286
16.351
17.803
19.054
22.388
Khu vực dịch vụ thương mại
9.733
11.172
12.153
15.452
18.721
34,2 36,0 37,4 36,0 34,5
Khu vực dịch vụ thương mại
28,0 28,2 27,8 31,1 33,8
2015
100
29,0
36,0
35,0
Biểu đồ: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Vũ Tiến, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái
Bình từ năm 2010 đến năm 2015 (đơn vị %)
2010
2015
8
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
* Nhận Xét: Cơ cấu kinh tế chuyển biến khá nhanh, vẫn đang phát triển theo
hướng CNH – HĐH, giai đoạn 2010 – 2015, cơ cấu kinh tế ngành có chuyển biến tiến
bộ theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
thương mại, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững. Cụ thể là:
- Tỉ trọng ngành nông nghiệp: năm 2010 là 37,8% đến năm 2015 giảm còn 29,0%
- Tỉ trọng ngành công nghiệp,xây dựng: tăng từ 34,2% năm 2010 lên 36,0% năm
2015
- Tỉ trọng ngành dịch vụ, thương mại: trong giai đoạn tương ứng tăng nhanh từ
28,0% lên 35%.
- Tổng sản lượng lúa cả năm đạt 3.266.130 tấn.
- Gía trị trên ha canh tác bình quân đạt 68,7 triệu đồng/1ha/năm.
b- Về chăn nuôi:
Chăn nuôi của Vũ Tiến vẫn duy trì và phát triển, đàn gia súc phát triển theo hướng
sản xuất tập trung, nhiều hộ gia đình nuôi từ 30 – 50 con lợn. Số gia trại, khu chăn
nuôi tập trung ngày một tăng với tổng diện tích là trên 35 ha, trong đó có 11ha là khu
vực chăn nuôi tập trung thí điểm của tỉnh ở vùng Thổ La. Hiện tại xã có 24 trang trại
và 300 con gia súc.
Chăn nuôi thủy sản không ngừng tăng mạnh cả về diện tích và sản lượng, đa dạng
về mô hình chăn nuôi như mô hình VAC: cá kết hợp nuôi lợn trồng cây,…
Đây là tiền đề để Vũ Tiến phát triển ngành chăn nuôi theo mô hình kinh tế trang
trại, gia trại có quy mô theo hướng sản xuất hàng hóa cao.
* Tổng thu nhập từ nông nghiệp là: 54.499.949.000 đồng.
Trong đó :
trồng trọt là:
25.933.845.000 đồng
Chăn nuôi là:
25.458.104.000 đồng
Thủy sản là:
3.108.000.000 đồng
2.2.2: Khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy và Đề án phát triển nghề, làng nghề của huyện,
Vũ Tiến đã bảo tồn và phát triển mạnh mẽ các nghề truyền thống, tích cực du nhập
thủ công nghiệp 851 lao động thương mại dịch vụ, còn lại là lao động nông nghiệp và
lao động chưa có việc làm. Đây là nguồn lao động dồi dào khuyến khích các nhà đầu
tư, phát triển về công nghiệp, dịch vụ thương mại trên địa bàn xã góp phần tăng thu
nhập cho người dân, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Đời sống của người dân dần được cải thiện, thu nhập bình đầu người theo đánh
giá thực tế năm 2015 đạt 15,5 triệu đồng/người/năm.
2.4: Thực trạng phát triển khu dân cư nông thôn.
Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn những năm qua đã được chính
quyền các cấp quan tâm và đầu tư phát triển hạ tầng, tuy nhiên các dự án đầu tư phát
triển các khu dân cư nông thôn chưa nhiều, chưa đồng bộ và hợp lý, vì vậy cần có quy
hoạch tổng thể sử dụng đất khu dân cư nông thôn nhằm đạt hiệu quả cao. Theo số liệu
kiểm kê năm 2015 tổng diện tích khu dân cư nông thôn là 251,35 ha, chiếm 32,07%
tổng diện tích tự nhiên toàn xã.
2.5: Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Vũ Tiến là xã có hệ thống cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế. Công trình công cộng
phúc lợi còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu vui chơi giải trí, thể dục thể thao cho
người dân. Hội trường thôn là nơi sinh hoạt cộng đồng của nhân dân chưa được đầu tư,
còn tận dụng công trình cũ hoặc sân kho. Hệ thống cấp nước sạch, thoát nước chưa có,
hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất và phân vùng sản xuất cây trồng còn nhiều hạn chế.
Chính vì vậy trong giai đoạn 2015 – 2025 cần có những phương án quy hoạch cụ thể
để dần dần từng bước khắc phục những tồn tại trên, đua Vũ Tiến phát triển ngang tầm
các xã trong huyện, trong tỉnh.
2.5.1: Giao thông:
11
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
Diện tích đất giao thông của xã hiện tại là 29,80 ha. Mạng lưới giao thông có vai
trò hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội. Trên địa bàn xã Vũ Tiến có
thoát nước từ Nam về Bắc, sông tiêu chính là sông Bồng Tiên và sông Gía keo
- Thoát nước thải: toàn bộ nước thải trong các khu dân cư cũng như khu vực chợ
Bồng đều chưa được xử lý. Trong các khu dân cư nước thải sinh hoạt đều tự thấm, tự
12
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
chảy vào ao hồ. Trong khu vực thị tứ mới có cống thoát nước trên đoạn đường từ chợ
Bồng đến chùa Keo, thu nước mưa và nước thải khu vực thị tứ và đổ vào sông Bồng
Tiên.
13
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
2.5.4. Giáo dục – Đào tạo.
Công tác giáo dục đào tạo luôn được đảng bộ quan tâm và lãnh đạo, các nhà
trường đã có nhiều cố gắng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
Trên địa bàn xã có 8 trường học phân bổ đều tại các thôn gồm các cấp trung học,
tiểu học, mầm non. 5 năm qua đã thu được kết quả tốt. Trường trung học, trường tiểu
học luôn đạt trường tiên tiến cấp huyện. Cơ sở vật chất các trường đã được chuẩn hóa
giai đoạn 1, đang phấn đấu đạt chuẩn giai đoạn 2. Năm học 2014 – 2015 trường mầm
non có 455 học sinh, trường tiểu học có 740 học sinh, trường trung học cơ sở có 621
học sinh trên tổng số diện tích đất sử dụng là 2,95 ha.
Trung tâm học tập cộng đồng của xã đã tổ chức nhiều lớp chuyển giao khoa học
công nghệ cho các hội viên nông dân, hội phụ nữ góp phần đẩy mạnh sản xuất theo
hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
2.5.5: Văn hóa.
Về mạng lưới y tế: toàn xã có 1 trạm y tế xã, công tác y tế, dân số KHH gia đình
các năm qua có nhiều chuyển biến tích cục, cơ sở vật của xã đã được quan tâm đầu tư
bước đầu đã phục vụ khá tốt.
2.5.6: Thể dục – Thể thao.
Các phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới được triển khai tích cực và sôi
động, đạt kết quả tốt và bước đầu đi vào nề nếp, các hoạt động văn hóa, thể dục thể
thao được tổ chức sâu rộng, thiết thực góp phần khơi dậy và phát triển nhiều nét văn
hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Tổ chức thành công đại hội thể dục thể thao cấp xã lần thứ 6, phát động phong
trào toàn dân rèn luyện thể dục, thể thao theo gương Bác Hồ, tạo điều kiện duy trì các
câu lạc bộ văn nghệ, thể dục dưỡng sinh của hội người cao tuổi. Tuy nhiên sân thể dục
– thể thao tại các thôn vẫn còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu thể dục thể thao của
nhân dân trong xã.
2.5.7: Năng lượng.
Toàn xã có 100% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia. Hệ thống lưới điện được duy
trì và phát huy tốt hiệu quả phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng cũng như sản xuất của nhân
dân, phương thức bán điện được duy trì.
2.5.8. Bưu chính – viễn thông.
Điểm bưu điện văn hóa xã phục vụ tốt nhu cầu thông tin liên lạc của người dân
trong xã, nhiều hộ gí đình đã sử dụng thuê bao điện thoại cố định của tổng công ty bưu
chính viễn thông Việt Nam, sóng điện thoại di động của Vinaphone và ác hang khác
đã phủ toàn xã. Sóng vô tuyến truyền hình Việt Nam, sóng của đài phát thanh Việt
Nam luôn ổn định, các thông tin kinh tế, văn hóa, xã hội, chủ trương, chính sách của
Đảng và nhà nước đều được người dân cập nhật đầy đủ và kịp thời.
2.5.9: Quốc phòng và an ninh.
Công tác quốc phòng an ninh được cấp ủy Đảng, chính quyền chỉ đạo chặt chẽ,
cấp ủy Đảng luôn tích cực tuyên truyền, giáo dục nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong
tình hình mới, không ngừng nâng cao nhận thức và tinh thần cảnh giác cách mạng cho
cán bộ và nhân dân trước âm mưu diễn biến hòa bình của kẻ địch. Hoàn thành tốt
nhiệm vụ khám tuyển nghĩa vụ quân sự, giao quân hàng năm đủ về số lượng và đảm
- Xã có nhiều làng nghề truyền thống có tốc độ phát triển khá như cơ khí, xây
dựng… Đời sống của nhân dân trong xã từng bước được nâng cao, số hộ nghèo có su
hướng ngày càng giảm.
3.2: Khó khăn, bất lợi.
Xã có các tuyến đường liên xã, liên thôn nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu sinh
hoạt và sản xuất của nhân dân.
Trong những năm qua thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, giá cả vật tư đầu
vào của nông nghiệp tăng cao, sản phâm nông nghiệp tiêu thụ khó khăn, giá thành
16
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
thấp, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nân nhân dân chưa yên tâm đầu tư phát triển sản
xuất nông nghiệp và chăn nuôi.
Nguồn thu ngân sách xã khó khăn nên kinh phí đầu tư cho lĩnh vực về phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và hoạt động cho các đoàn thể gặp nhiều hạn chế.
17
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
PHÂN II: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
I.
TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Nhìn chung trong những năm qua công tác quản lý đất đai khá chặt chẽ, đại bộ
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
Thực hiện Nghị định số 132/2003/NĐ-CP về điều chỉnh địa giới hành chính xã
Vũ Tiến với 11 đơn vịu hành chính gồm 11 thôn. Tổng diện tích tự nhiên của xã là
783,83 ha. Sau khi điều chỉnh địa giới, việc cắm và bàn giao mốc giới, lập bản đồ địa
giới được tiến hành kịp thời, tạo điều kiện tốt cho công tác quản lý địa giới hành chính
cũng như công tác quản lý đất đai.
Hồ sơ địa giới hành chính được tu chỉnh thường xuyên theo Chỉ thị 364/CT
ngày 06/11/1991 của Thủ tướng Chính phủ.
1.3. Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện
trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được thực hiện qua các kỳ kiểm kê đất đai 2005,
2010, 2015. Về cơ bản hệ thống bản đồ đã đáp ứng tốt cho công tác quản lý Nhà nước
về đất đai; bản đồ địa chính luôn được chỉnh lý, cập nhật thường xuyên phù hợp với
hiện trạng sử dụng đất, tuy nhiên hệ thống bản đồ đã được đo vẽ từ khá lâu, do vậy
trên một số tờ đã biến động khá nhiều cần được đo vẽ mới hoặc đo vẽ bổ sung trong
thời gian tới để đáp ứng tốt hơn công tác quản lý đất đai.
Hệ thống Hồ sơ địa giới hành chính của các xã trong huyện khá đầy đủ, gồm
có: hồ sơ địa giới hành chính các cấp theo chỉ thị 364/CT, các biểu mẫu thống kê,
phương án giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP của các xã được UBND huyện
phê duyệt. Quyết định thu hồi, giao đất của các xã, thị trấn được cấp có thẩm quyền
cho phép, các dự án cải tạo đồng ruộng, phương án đền bù thiệt hại đất, biên bản xác
định diện tích đất lở các năm của các xã, thị trấn ven sông.
1.4. Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Năm 2010 UBND huyện đã chỉ đạo UBND xã Vũ Tiến lập quy hoạch sử dụng
đất chi tiết đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất chi tiết đến năm 2015 và được các
cấp có thẩm quyền phê duyệt là cơ sở để UBND các cấp tiến hành công tác giao đất,
cho thuê đất, thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử
dụng đất theo quy hoạch và pháp luật.
được những bất cập trước đây, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, thời gian giải quyết
một số thủ tục được rút ngắn hơn.
- Việc lập hồ sơ địa chính được triển khai thực hiện ởtoàn xã cho 3 loại đất
(đất ở, đất sản xuất nông nghiệp và một số loại đất phi nông nghiệp). Các thôn
trong xã đều có sổ theo dõi biến động đất đai nhưng việc cập nhật các thông tin
biến động, chỉnh lý biến động trên bản đồ, hồ sơ địa chính chưa đều đặn.
20
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
1.7. Thống kê, kiểm kê đất đai
Công tác kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần cùng với việc thành lập
bản đồ hiện trạng sử dụng đất được UBND xã tổ chức thực hiện đầy đủ theo quy định
của pháp luật đất đai. Năm 2015, xã đã tiến hành thực hiện tổng kiểm kê đất đai, các
số liệu, tài liệu, bản đồ đã được nghiệm thu đạt chất lượng tốt và là tài liệu quan trọng
trong quản lý nhà nước về đất đai, cũng như trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất.
Kiểm kê đất đai 5 năm 1 lần thường xuyên được xã duy trì, cụ thể, xã Vũ
Tiến đã tiến hành làm tổng kiểm kê đất đai năm 2005,2010 và 2015 với kết quả
đượ c đánh giá với chất lượng tốt.
Thống kê đất đai hàng năm được duy trì, hàng năm công tác thống kê đất đai
được tiến hành cả cấp huyện và xã.
Uỷ ban nhân dân xã Vũ Tiến đã chỉ đạo phòng chuyên môn phối hợp với Sở
Tài nguyên và Môi trường tiến hành đo đạc diện tích đất của các tổ chức được Nhà
nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn, đồng thời tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp
vụ chuyên môn cho các cán bộ địa chính xã về công tác Thống kê, lập hệ thống biểu
mẩu đúng theo quy định của Luật.
Trong năm 2015, xã đã tiến hành tổng kiểm kê đất đai theo đúng quy định,
được sự chỉ đạo của UBND huyện, UBND tỉnh, Sở Tài nguyên & Môi trường tổ
chức triển khai, đôn đốc các xã, thị trấn thực hiện kiểm kê theo hướng dẫn mới của
hoạch hoặc đột xuất.
UBND xã phối hợp với các cấp chính quyền địa phương tổ chức nhiều đợt
thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các tổ chức, cá nhân vi phạm góp phần nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật đất đai cho người sử dụng đất, giảm sự vụ, tính chất và
mức độ vi phạm các quy định của pháp luật. Công tác thanh tra, kiểm tra đất đai trên
địa bàn xã được triển khai thường xuyên, liên tục giữa các phòng chức năng chuyên
môn của xã với các thôn để tham mưu cho UBND xã ra các văn bản đình chỉ việc san
lấp, sử dụng đất trái thẩm quyền ở một số thôn.
1.11. Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
trong việc quản lý sử dụng đất đai
Với chủ trương giải quyết đơn thư đúng chức năng thẩm quyền, khắc phục việc
để đơn thư tồn đọng kéo dài và vận động, giải thích, hướng dẫn nhân dân hiểu pháp
luật, sống và làm theo pháp luật, UBND xã đã thực hiện quy trình tiếp dân trong đó
quy định đối với công dân khi thực hiện quyền tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và việc
tiếp nhận đơn thư của tổ chức và công dân.
22
Nhóm 06- CĐ12QĐ1
Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong những năm qua trên địa
bàn xã được thực hiện khá tốt, xử lý nghiêm khắc, kịp thời, dứt điểm những trường
hợp vi phạm pháp Luật đất đai như sử dụng đất không đúng mục đích, lấn chiếm đất,
tranh chấp đất trong nội bộ nhân dân góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội trên
địa bàn xã.
1.12. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất
động sản; quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất
Cùng với những nội dung ở trên, những công tác khác có liên quan đến đất đai
nằm trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai cũng được UBND huyện hết sức