Nội dung và mối quan hệ giữa đầu tư tài sản hữu hình và đầu tư tài sản vô hình trong các doanh nghiệp Việt - Pdf 32

Nội dung và mối quan hệ giữa đầu tư tài sản hữu hình và đầu tư tài sản vô hình
trong các doanh nghiệp Việt Nam
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TÀI SẢN HỮU HÌNH VÀ TÀI SẢN VÔ HÌNH.
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ TÀI SẢN HỮU HÌNH VÀ TÀI SẢN VÔ HÌNH.
I. Khái niệm về đầu tư, đầu tư tài sản hữu hình và đầu tư tài sản vô hình
1. Đầu tư
1.1 Khái niệm về đầu tư
Đầu tư và việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào một hoạt động nào đó nhằm thu
được lợi ích hoặc mục tiêu cho chủ đầu tư trong tương lai. Đầu tư đòi hỏi rất lớn nhiều
loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư là tiền vốn. Theo nghĩa
rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài
nguyên.
Đối tượng của đầu tư là tập hợp các yếu tố được chủ đàu tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt
được những mục tiêu nhất định. Trên quan điểm phân công lao động xã hội, có hai
nhóm đối tượng chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ. Trên góc độ tính
chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư chia làm 2 nhóm chính: vì mục tiêu lợi nhuận
và vì mục tiêu phi lợi nhuận. Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư
chia thanh: loại được khuyến khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư. Từ góc độ tài sản, đối
tượng đầu tư chia thành: những tài sản vật chất và tài sản vô hình.
Kết quả của đầu tư là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xương, thiết bị…), tài sản trí
tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sản vô hình (phát minh,
sáng chế, bản quyền…). Các kết quả của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản
xuất của xã hội.
Mục tiêu của đầu tư vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia cộng đồng và chủ đầu
tư. Đầu tư thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định. Chủ đầu tư là người sở
hữu vốn hoặc được giao quản lý, sử dụng vốn đầu tư. Theo nghĩa đầy đủ, chủ đầu tư là
người sở hữu vốn; ra quyết định đầu tư, quản lý quá trình thực hiện và vận hành kết quả
đầu tư và là người hưởng lợi từ thành quả đầu tư đó. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm kiểm
1
tra giám sát đầu tư, chịu trách nhiệm toàn diện về những sai phạm và hậu quả do ảnh

2
2.1 Định nghĩa tài sản
Tài sản là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu thị cho những lợi ích
mà đơn vị thu được trong tưong lai hoặc những tiềm năng phục vụ cho hoạt động kinh
doanh của đơn vị. Nói cách khác, tài sản là những thứ hữu hình và vô hình gắn liền với
lợi ích trong tương lai của đơn vị, thoả điêu kiện:
- Thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp.
- Có giá trị thực sự đối với đơn vị
- Có giá phí xác định
2.2 Phân Loại tài sản.
2.1. Tài sản hữu hình.
2.1.1. Khái niệm tài sản hữu hình.
Tài sản hữu hình là những vật có thể dùng giác quan nhận biết được hoặc dùng đơn vị
cân đo đong đếm được khi nói đến tài sản hữu hình bắt buộc chúng phải có những điều
kiện nhất định:
- Thuộc sở hữu của ai đó.
- Có thể mua bán được.
- Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất.
- Là những thứ đã tồn tại, đang tồn tại, hoặc có thể có trong tương lai.
2.1.2. Phân loại tài sản hữu hình
Nhà cửa, vật kiến trúc: là tài sản hữu hình của doanh nghiệp hình thành sau quá trình thi
công xây dựng như: trụ sở làm việc, nhà xưởng, nhà kho, hàng rào, bể tháp nước, sân
bãi …
Máy móc, thiết bị: bao gồm các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp như: máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền
công nghệ, những máy móc đơn lẻ…
Phương tiện vận tải,thiết bị truyền dẫn: là các phương tiện vận tải gồm phương tiện vận
tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường không, đường ống và các thiết bị truyền
dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, băng tải…
Thiết bị dụng cụ dùng cho quản lý: gồm các thiết bị dụng cụ dùng cho công tác quản lý

• Các thứ “tương tự” khác. Một thứ được gọi là “tương tự” nếu nó tạo ra giá trị
không phải nhờ vào các “thuộc tính vật chất”, mà nhờ vào “nội dung trí tuệ hoặc các
quyền tài sản vô hình khác của nó”.
4
II. Nội dung đầu tư tài sản hữu hình và đầu tư tài sản vô hình trong doanh
nghiệp
1. Đầu tư tài sản hữu hình
1.1 Đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.1 Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định của doanh
nghiệp. Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động chính như xây lắp và mua sắm
máy móc thiết bị. Trong doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, để
các hoạt động diễn ra bình thường đều cần xây dựng nhà xưởng, kho tàng, các công
trình kiến trúc, mua và lắp đặt trên nền bệ các máy móc thiết bị… Hoạt động đầu tư này
đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị.
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo
mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định và tạo
ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Đầu tư xây dựng cơ bản là 1 hoạt động kinh tế.
1.1.2 Phân loại đầu tư xây dựng cơ bản
Tài sản cố định bao gồm:
Tài sản cố định hữu hình:là đầu tư vào những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật
chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài
sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định), thoả mãn các
tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng
vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như: nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết
bị; phương tiện vận tải; dụng cụ văn phòng...
Tài sản cố định vô hình: là đầu tư vào những tài sản không có hình thái vật chất, thể
hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô
hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh như: một số chi phí liên quan trực tiếp tới
đất sử dụng, chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác

1.2.2 Phân loại đầu tư hàng tồn trữ
a. Tồn kho nguyên vật liệu:
Nguyên vật liệu bao gồm các chủng loại hàng mà doanh nghiệp mua về để phục vụ cho
quá trình sản xuất của mình. Bao gồm các loại nguyên vật liệu cơ bản (nguyên liệu thô),
bán thành phẩm hoặc cả hai.
Việc duy trì một lượng hàng tồn kho thích hợp sẽ mang lại cho doanh nghiệp sự thuận
lợi trong hoạt động mua vật tư và hoạt động sản xuất. Đặc biệt bộ phận cung ứng vật tư
6
sẽ có lợi khi có thể mua một số lượng lớn và hưởng giá chiết khấu từ các nhà cung cấp.
Mặt khác, trước những biến động của thị trường như giá cả nguyên vật liệu tăng đột
ngột hay trở nên khan hiếm vì một lý do nào đó mà doanh nghiệp nhanh nhạy dự đoán
trước được thì việc lưu giữ lượng hàng tồn kho lớn sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp được
cung ứng kịp thời và đầy đủ với mức chi phí tối thiểu so với các đối thủ cạnh tranh.
b. Tồn kho sản phẩm dở dang:
Sản phẩm dở dang bao gồm tất cả các mặt hàng mà hiện còn đang nằm tại một công
đoạn nào đó của quá trình sản xuất. Đó có thể là sản phẩm dở dang trong một vài công
đoạn, hoặc đang nằm trung chuyển giữa các giai đoạn, hoặc có thể đang được cất giữ tại
một nơi nào đó, chờ bước tiếp theo trong quá trình sản xuất.
Tồn kho sản phẩm dở dang là một phần tất yếu của hệ thống sản xuất công nghiệp hiện
đại. Đơn giản vì nó sẽ mang lại cho mỗi công đoạn của quá trình sản xuất một mức độ
độc lập nào đó. Bên cạnh đó, sản phẩm dở dang còn giúp lập kế hoạch sản xuất hiệu quả
cho từng công đoạn và tối thiểu hóa chi phí phát sinh do ngừng trệ sản xuất hoặc có thời
gian nhàn rỗi.
c. Tồn kho thành phẩm:
Thành phẩm bao gồm những sản phẩm đã hoàn thành chu kỳ sản xuất của mình và đang
nằm chờ tiêu thụ.
Tồn kho thành phẩm nhằm đáp ứng mức tiêu thụ dự kiến trong tương lai, mang lại lợi
ích cho cả bộ phận sản xuất và bộ phận marketing của doanh nghiệp.
Đứng ở vai trò marketing cho sản phẩm của doanh nghiệp, tồn kho thành phẩm với số
lượng lớn sẽ đáp ững nhanh chóng bất kỳ một nhu cầu tiêu thụ nào trong tượng lai,

=M
o
*[Q
1
/Q
2
]*(1-k
1
)(1-k
2
)
Và F
1
= M
1
*P
1
= M
1
*P
0
k
p
Trong đó :
-M
0
khối lượng nguyên liệu sử dụng năm trước
-M
1
khối lượng nguyên liệu sử dụng năm nay

Tài sản hữu hình đối với doanh nghiệp là rất quan trọng. Tài sản cố định được sử dụng
cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có 3 yếu tố: tài liệu lao động, đối tượng lao động và
lao động. Tài sản lao động là tài liệu lao động, một trong 3 yếu tố cơ bản của quá trình
sản xuất. Việc sử dụng tài sản cố định thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Nó có thể
tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Tài sản lao động tuy không tham gia vào quá trình
sản xuất nhưng không thể thiếu trong doanh nghiệp sản xuất, nó có tác động lớn đến quá
trình sản xuất.
Hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình là việc sử dụng vốn đầu tư về phục hồi năng lực
sản xuất cũ và tạo thêm năng lực sản xuất mới, đó là quá trình thực hiện tái sản xuất các
loại tài sản sản xuất. Hoạt động đầu tư này là cần thiết vì:
Thứ nhất, do đặc điểm của việc sử dụng tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình
sản xuất, giá trị bị giảm dần và chuyển dần từng phần vào trong giá trị sản phẩm. Với tài
sản lao động, nó tham gia một lần vào quá trình sản xuất và chuyển toàn bộ giá trị vào
trong giá trị sản phẩm. Vì vậy, phải tiến hành đầu tư để bù đắp giá trị tài sản cố định bị
hao mòn và duy trì dự trữ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất tiếp theo. Nói cách
khác, đầu tư nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn tài sản sản xuất.
Thứ hai, nhu cầu quy mô sản xuất xã hội ngày càng mở rộng đòi hỏi phải tiến hành đầu
tư nhằm tăng thêm tài sản cố định mới và tăng thêm dự trữ tài sản lao động. Tức là, thực
hiện tái sản xuất mở rộng tài sản sản xuất.
Thứ ba, trong thời đại của tiến bộ công nghệ diễn ra rất mạnh mẽ, nhiều máy móc, thiết
bị…nhanh chóng bị rơi vào trạng thái lạc hậu công nghệ. Do đó, phải tiến hành đầu tư
mới, nhằm thay thế tài sản hữu hình đã bị hao mòn vô hình.
2. Đầu tư vào tài sản vô hình
2.1 Đầu tư phát triển nguồn lực
9
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng của
sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực được hiểu như là nơi sinh sản, nuôi dưỡng
và cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Nó là một yếu tố tham gia trực tiêp
vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia

họ sẽ phải đảm nhận những công việc gì, yêu cầu kỹ năng cũng như chuyên môn nghề
nghiệp phải như thế nào?
Vai trò của hoạt động giáo dục đối với việc nâng cao chất lượng lao động được cụ thể
như sau:
Tăng tích luỹ vốn con người đặc biệt là tri thức và sẽ giúp cho việc sáng tạo ra công
nghệ mới, tiếp thu công nghệ mới. Do đó, thúc đẩy quá trình tăng trưởng dài hạn của
doanh nghiệp.
Tạo ra một lực lượng lao động có trình độ, có khả năng làm việc với năng suất cao, là
cơ sở thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.
Giúp bổ sung các dịch vụ y tế.
• Đầu tư dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ cải thiện chất lượng lao động
Sức khoẻ có tác động đến chất lượng lao động cả hiện tại và tương lai. Người có sức
khoẻ tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp hoặc gián tiếp bằng việc nâng cao
sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung cao. Vì vậy nhanh chóng tiếp thu kiến thức, kỹ
năng qua giáo dục – đào tạo.
• Trả lương đúng và đủ cho người lao độngLàm cho người lao động nhận thức đúng
đắn công việc và vai trò của mình trong doanh nghiệp.
Lương phù hợp với khả năng khiến người lao động vững tâm và phấn đấu hơn trong
công việc.
Như vậy, đầu tư vào các hoạt động trên có tác động hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau trong
việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.
2.2 Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ
Phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi cần đầu tư cho các hoạt
động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ . Đầu tư nghiên cứu hoặc mua công
nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao.
Hiện nay khả năng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ
của doanh nghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn. Cùng với đà phát triển của kinh tế đất
nước và doanh nghiệp, trong tương lai tỷ lệ chi cho hoạt động đầu tư này sẽ ngày càng
tăng, tương ứng với nhu cầu và khả năng của doanh nghiệp.
11

Đầu tư vào tài sản hữu hình là điều kiện tiên quyết và cơ bản làm tăng tiềm lực về tài
sản vô hình. Khi doanh nghiệp đã bỏ vốn để đầu tư vào tài sản hữu hình như: nhà
xưởng, văn phòng làm việc, phòng thí nghiệm, mua sắm trang bị các loại máy móc thiết
bị phương tiện vận tải, phương tiện truyền dẫn ... điều này sẽ là cơ sở để tăng khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệpvà nâng cao uy tín của doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Việc doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào tài sản hữu hình sẽ làm tăng khả năng tạo
nguồn cho doanh nghiệp đổi mới, tránh sự tụt hậu về công nghệ sản xuất, dần dần đuổi
kịp các nước trong khu vực. Từ đó sẽ tạo ra tiềm lực để doanh nghiệp đầu tư vào tài sản
vô hình: phát minh sáng chế, kĩ thuật công nghệ mới, nghiên cứu phát triển kiêu dáng
công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và phát triển nguồn nhân lực. Nếu việc đầu tư vào tài
sản hữu hình không được chú trọng, trình độ trang thiết bị máy móc lạc hậu, công nghệ
chậm đổi mới sẽ gây cản trở đối với quá trình phát triển và hội nhập của các doanh
nghiệp, kết quả tất yếu của viêc này sẽ là hiệu quả sản xuất thấp, số lượng sản phẩm
nghèo nàn, chất lượng sản phẩm kém, doanh thu thấp từ đó doanh nghiệp sẽ không có
vốn để đầu tư vào các hoạt động chăm sóc khách hàng, dịch vụ hậu mãi, chi phí nghiên
cứu thị trường
Tác động của đầu tư vào tài sản hữu hình phần lớn là tác động tích cực tạo đà cho đầu
tư vào tài sản vô hình, nhưng nếu đầu tư vào tài sản vô hình không đúng chỗ không phù
hợp cả về quy mô và chất lượng thì tạo thành một gánh nặng, khó khăn cho công tác đầu
tư vào tài sản vô hình sau này. Đây là vấn đề của tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2. Tác động của hoạt động đầu tư vào tài sản vô hình đối với đầu tư vào tài sản
hữu hình trong doanh nghiệp.
Đầu tư vào tài sản vô hình là điều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật
chất tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao.
Trong quá trình hội nhập hiện nay đang và sẽ đang có rất nhiều các doanh nghiệp nước
ngoài thâm nhập vào thị trường nước ta. Nếu doanh nghiệp không xây dựng được
thương hiệu uy tín trên cơ sở giá cả và chất lượng hợp lý thì khó có thể cạnh tranh.
Nhưng một khi doanh nghiệp đã quan tâm vào đầu tư vào tài sản vô hình một cách hợp
lý thì sẽ tạo cơ hội phát triển kinh doanh lớn, lợi nhuận tăng. Đầu tư vào tài sản vô hình

14
Chẳng hạn, khi doanh nghiệp muốn định vị một sản phẩm cao cấp trên thị trường, thì
phải tập trung vào mua sắm máy móc thiết bị phù hợp đồng thời phải tìm hiểu bí quyết
công nghệ, đào tạo cán bộ khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực này, phải xác định được
khách hàng mục tiêu trên thị trường, tức là phải đầu tư vào nguồn nhân lực để tìm hiểu,
nghiên cứu thị trường. Đồng thời doanh nghiệp cần có các chiến lược Marketing như:
đóng gói bao bì, quảng cáo, khuyến mại, và xúc tiến bán cho phù hợp với nhãn hiệu
đang được định vị, tức là chúng ta phải đầu tư đồng bộ vào cả tài sản cố định hữu hình
và tài sản vô hình một cách hợp lý. Nếu không thực hiện được đồng bộ những công việc
nói trên, thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc chiếm lĩnh
thị trường. Chẳng hạn, nhãn hiệu bia Laser được định vị là một sản phẩm cao cấp, được
khách hàng chấp nhận là một sản phẩm có chất lượng cao vì công ty đã đầu tư rất nhiều
vào hoạt động quảng cáo, công nghệ, kĩ thuật sản xuất… nhưng do sự đầu tư hợp lý
đồng bộ vào kênh phân phối nên nhãn hiệu này đã thất bại trong quá trình xâm nhập thị
trường.
Mặt khác, nếu doanh nghiệp chỉ quan tâm đến các vấn đề đầu tư vào tài sản vô hình
như: nhãn hiệu hàng hoá, thương hiệu… mà không chú ý một cách đúng mức đến tài
sản vô hình thì cũng khó có thể thành công trong việc sản xuất kinh doanh. Một doanh
nghiệp không thể thu được lợi nhuận cao nếu không có hệ thống máy móc, trang thiết bị
hiện đại với quy mô sản xuất và chi phí hợp lý. Chẳng hạn như hãng café Trung
Nguyên, một thương hiệu nổi tiếng trên thị trường trong nước và quốc tế nhưng trong
những năm gần đây, do Trung Nguyên quá chú trọng vào việc mở rộng thương hiệu
thông qua hình thức nhượng quyền thương hiệu mà không chú ý đến việc đầu tư vào
chất lượng sản phẩm. Việc mở rộng thương hiệu một cách tràn lan không đi kèm với
việc đầu tư vào tài sản hữu hình, nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất đã đặt ra nhiều
khó khăn đối với Trung Nguyên trong thời gian sắp tới.
Sự đầu tư đồng bộ giữa tài sản vô hình và tài sản hữu hình là điều tối quan trọng trong
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, nó quyết định sức sản xuất, tiêu thụ và trưởng thành
của doanh nghiệp. Tuỳ vào từng điều kiện cụ thể, tuỳ vào cách thức định vị sản phẩm
trên thị trường mà doanh nghiệp xác định chiến lược đầu tư phù hợp giữa tài sản hữu

Nguồn vốn đầu tư của khối doanh nghiệp tư nhân vào tài sản cố định hay xây dựng cơ
bản là nguồn vốn rất quan trọng. Một là, tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
toàn xã hội ngày một tăng và triển vọng sẽ vươn lên là nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ
bản lớn nhất, đây là kết quả của đường lối đổi mới phát triển sản xuất hàng hóa nhiều
thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường với hàng trăm nghìn doanh nghiệp tư nhân,
16
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hàng chục nghìn hợp tác xã kiểu mới,
hàng trăm nghìn trang trại ra đời… Hai là, đây là nguồn vốn đầu tư của tư nhân, nên
hiệu quả đầu tư cao hơn khu vực nhà nước.
Đầu tư vào xây dựng cơ bản (tài sản cố định) của tổng thể các doanh nghiệp trong các
khu vực kinh tế là nguyên nhân trực tiếp để tạo ra sự tăng trưởng của các khu vực kinh
tế (nông, lâm thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ).
Với nông nghiệp: kinh tế hộ tự chủ, doanh nghiệp tư nhân đã có vai trò lớn trong việc
chuyển nền sản xuất nông nghiệp thiếu hụt lớn sang nền nông nghiệp đảm bảo được an
ninh lương thực, có lượng xuất khẩu khá. Số trang trại đã xuất hiện hàng trăm nghìn
chiếc.
Với công nghiệp: trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có số lượng lớn cơ sở
được đầu tư xây dựng mới và đi vào hoạt động, khu vực này đang tận dụng và hướng
vào nhu cầu nội địa đang tăng trưởng cao nên kèm theo đó là sự đầu tư lớn vào mở rộng
hệ thống tài sản cố định của bản thân các doanh nghiệp trong ngành.
Khối lượng và giá trị hệ thống tài sản cố định liên tục được đầu tư tăng cao trong những
năm qua, trong đó có tỷ trọng lớn là do các doanh nghiệp tư nhân đóng góp:
GDP: tỷ đồng
Năm 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng tích lũy tài sản 177.983 217.434 253.686 298.543 347.900
Tài sản cố định 166.828 204.608 237.868 275.481 319.020
(nguồn:Kinh tế 2007 – 2008 Việt Nam và Thế giới)
Cơ cấu (%)
Năm 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng tích lũy tài sản 33,2 35,4 35,5 35,6 35,7

hữu cá nhân của chủ doanh nghiệp, sau đó được đưa vào sử dụng cho doanh nghiệp và
ghi vào sổ sách kế toán là tài sản của doanh nghiệp. Những tài sản này về mặt pháp lý sẽ
không thuộc sở hữu của doanh nghiệp và càng có giá trị lớn nếu như tài sản đó là đất
đai, nhà cửa hay quyền sử dụng đất.
Việc đánh giá lại tài sản cố định cũng được thực hiện một cách không chính thức, cơ sở
đánh giá lại không tin cậy và không được các chuẩn mực kế toán của Việt Nam công
nhận. Ngoài ra, có nhiều trường hợp tài sản cố định được dùng làm tài sản thế chấp cho
ngân hàng mà không được khai báo với nhà đầu tư.
18
Nguồn vốn của các doanh nghiệp ngoài nhà nước còn có khả năng bị tồn đọng, việc thu
hút chưa thật tốt, hoặc là tồn đọng dưới dạng vàng, ngoại tệ, bất động sản, hoặc chạy
lòng vòng tạo ra những cơn sốt mà không trực tiếp đầu tư cho tăng trưởng.
1.2 Thực trạng đầu tư xây dựng cơ bản của doanh nghiệp nhà nước:
Các doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ gần 70% tài sản cố định quốc gia, 20% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của Nhà nước, 70% tổng vốn vay các
ngân hàng nước ngoài và gần 60% tổng lượng vốn tín dụng của các ngân hàng thương
mại nhà nước…
Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của các doanh nghiệp nhà nước là nguồn vốn rất
quan trọng nằm trong nguồn vốn nhà nước, thể hiện sự tiết kiệm để dồn vốn cho hoạt
động đầu tư phát triển trong điều kiện đất nước còn phải đi vay để đầu tư. Nguồn vốn
đầu tư cho tài sản cố định của các doanh nghiệp nhà nước là các nguồn quan trọng để
hình thành các công trình trọng điểm của đất nước. Nguồn vốn đầu tư này có tác động
chủ yếu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời có ý nghĩa như một món mồi để
lôi kéo khai thác các nguồn vốn khác.
Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đang hoạt động
tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp:
Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng số 476,5 552,3 645,5 744,5 953,3
DN nhà nước 263,1 309,1 332,1 360,0 487,2

động, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đứng thấp nhất 66 triệu đồng/lao động.
Cơ cấu tài sản cố định của doanh nghiệp nhà nước là 51,11% trong cơ cấu chỉ tiêu của 3
khu vực doanh nghiệp.
Tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra trong tất cả các giai
đoạn của quá trình đầu tư.
Nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản kéo dài.
2. Thực trạng đầu tư bổ sung hàng tồn trữ
Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với bài toán nan giải:
giải quyết lượng hàng hóa, tài sản tồn kho, chậm luân chuyển. Hàng tồn kho có thể là
hàng dự trữ, hàng thừa từ việc xuất khẩu, hàng bán trái mùa, hàng bán bị trả lại… Mặc
dù, doanh nghiệp đã cố gắng làm tốt ở khâu cung ứng, Marketting nhưng do vốn tồn
đọng, chi phí, mất mát nên trở thành mối quan ngại lớn.
GDP: tỷ đồng
20
Năm 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng tích lũy tài sản 177.983 217.434 253.686 298.543 347.900
Thay đổi tồn kho 11.155 12.826 15.818 22.702 28.880
Cơ cấu (%)
Năm 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng tích lũy tài sản 33,2 35,4 35,5 35,6 35,7
Thay đổi tồn kho 2,1 2,1 2,2 2,7 3,0
Các khoản tồn kho thường chiếm tới 50% tài sản của doanh nghiệp con số này cho thấy
việc để một số lượng lớn tồn kho là điều thực sự khiến cho các doanh nghiệp lo lắng,
đặc biệt trong vấn đề xoay vòng nguốn vốn mở rộng đầu tư của doanh nghiệp.
Có một lượng tồn trữ các doanh nghiệp còn phải cân nhắc về chi phí trông coi bảo quản
lượng tồn kho đó, bên cạch đó là vấn đề khấu hao mất mát với những tài sản của công ty
đang tồn trữ, ứ đọng, việc áp dụng chế độ kế toán để tính toán khấu hao của lượng tồn
kho sẽ xảy ra sai số, khó bảo quản.
Các hình thức mà doanh nghiệp hay sử dụng với hàng tồn kho là hình thức bán thanh lý
tuy nhiên hiệu quả mang lại sẽ thấp hơn so với kỳ vọng. Nguyên nhân chính là do thông

• Năng lực đào tạo của các cơ sở dạy nghề đã được nâng lên. Quy mô đào tạo nghề
tăng nhanh, năm 2007 ước tính tuyển sinh được 1.436.500 người, trong đó trung cấp
nghề là 151.000 và cao đẳng nghề là 29.500 người.
• Cơ cấu ngành nghề được đào tạo đã từng bước được điều chỉnh theo cơ cấu
ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các doanh nghiệp. Các cơ sở dạy
nghề đã mở rộng thêm nhiều ngành nghề mà doanh nghiệp có nhu cầu.
• Chất lượng và hiệu quả dạy nghề có từng bước chuyển tích cực. Hàng năm tỷ lệ
học sinh tốt nghiệp đạt trên 95%; trong đó loại khá giỏi chiếm 29%; khoảng 70% học
sinh tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay sau khi tốt nghiệp ở một số nghề và
một số cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp, tỷ lệ này đạt trên 90%. Qua điều tra của tổng
cục dạy nghề tại gần 3.000 doanh nghiệp, đa số lao động qua đào tạo nghề đang làm
việc trong các doanh nghiệp đã được sử dụng có hiệu quả. Đa số lao động qua đào tạo
nghề được các doanh nghiệp sử dụng phù hợp với trình độ đào tạo cua họ (khoang 85%
so với số lao động qua đào tạo nghề đang làm việc tại doanh nghiệp). Theo đánh giá của
người sử dụng lao động, khoảng 30% số lao động qua đào tạo nghề có kỹ năng nghề đạt
loại khá trở lên.
Nhìn chung dạy nghề đã từng bước đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật trực tiếp trong
sản xuất của doanh nghiệp; lao động Việt Nam đã đảm nhiệm được hầu hết những vị trí
quan trọng trong các ngành sản xuất, kể cả các ngành đòi hỏi kỹ thuật cao, công nghệ
22
phức tạp, góp phần tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng
hoá.
Việc dạy nghề được phát triển với các mô hình dạy nghề năng động, linh hoạt gắn đào
tạo với sử dụng lao động theo hướng cầu của thị trường lao động để đáp ứng nhu cầu
nhân lực của doanh nghiệp. Đặc biệt mô hình dạy nghề tại doanh nghiệp được triển khai
trong những năm qua đã đạt được những kết quả bước đầu. Đến nay, cả nước có 143 cơ
sở dạy nghề thuộc các doanh nghiệp; hầu hết các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế
mạnh đều có trường dạy nghề để chủ động tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Các doanh
nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân có
quy mô lớn đã tổ chức dạy nghề, bổ túc nghề, bồi dưỡng kỹ năng, chuyển giao công

thể đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng nhân lực trung, cao cấp của thị trường lao động.
Nguồn lao động chất lượng cao, hiện vừa thiếu về số lượng, vừa thiếu về chất lượng,
gần 70% lao động chưa qua đào tạo, một bộ phận lao động đã qua đào tạo hoặc sử dụng
không đúng ngành nghề đào tạo hoặc phải đào tạo lại mới có thể đào tạo trong các
doanh nghiệp, thiếu nghiêm trọng lao động dịch vụ cao cấp (tài chính, ngân hàng…).
Mặt khác, hầu hết lao động của nước ta còn mang thói quen, tập quán sản xuất nhỏ,
thiếu năng động và sáng tạo, ý thức kỷ luật tác phong công nghiệp kém, kiến thức kỹ
năng làm việc theo nhóm hạn chế, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm
việc.
Nguồn nhân lực bậc cao mới chỉ đáp ứng được 30 – 40% nhu cầu của các công ty.
Nhiều doanh nghiệp có đủ khả năng tài chính muốn mở rộng sản xuất, kinh doanh
nhưng nguồn lao động hiện hành không thể đáp ứng được nhu cầu, còn việc tuyển dụng
người lao động chất lượng cao từ bên ngoài khó khăn. Do thiếu lao động nên một người
phải đảm nhiệm công việc nhiều hơn dẫn đến chất lượng công việc giảm.
Điều kiện, môi trường làm việc: Các doanh nghiệp chưa ý thức được tầm quan trọng
của công tác quản lý và phát triển nguồn nhân lực, thiếu hẳn cơ chế tổ chức rõ ràng để
thu hút và giữ chân nhân tài dẫn tới hiện tượng chảy máu chất xám. Lúng túng trong
việc xử lý những tranh chấp lao động phát sinh do khung pháp lý chưa hoàn thiện, do cơ
chế và quá trình giải quyết tranh chấp chưa thật rõ ràng, chưa phát huy vai trò của các tổ
chức trung gian. Về hệ thống giao dịch việc làm, chủ yếu vẫn là hình thức trực tiếp giữa
người lao động và người sử dụng lao động (chiếm trên 80% tổng số giao dịch).
• Trả lương: Cách trả lương của một số doanh nghiệp không theo tiêu chí rõ ràng và
không theo kết quả công việc nên hạn chế về mức độ cống hiến của nhân viên trong
24
doanh nghiệp. Cách chính sách về tiền lương, tiền công nói chung chưa phản ánh được
giá trị theo quy luật của thị trường, chưa khuyến khích người lao động phát huy hết khả
năng và chưa thực hiện được chức năng kích cầu để sản xuất phát triển.
2. Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ
 Đầu tư vào công nghệ
Ban chỉ đạo công nghệ thông tin quốc gia đã làm một cuộc khảo sát việc ứng dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status