LờI Mở ĐầU
Cũng giống nh các nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây, nớc ta thực hiện mô hình
kế hoạch hoá tập trung, lấy việc mở rộng và phát triển khu vực kinh tế Nhà nớc bao
trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân làm mục tiêu cho công cuộc cải tạo và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Nhng thực tế đã cho thấy chúng ta đã không đạt đợc kết quả nh
mong muốn. Sau chủ trơng đổi mới của Đảng và Nhà nớc vào năm 1986, nền kinh tế
nớc ta đã có sự phát triển đáng kể, đời sống của ngời dân đã đợc nâng cao cả về
vật chất và tinh thần, tốc độ tăng trởng tăng và ngày càng đi vào ổn định. Tuy nhiên
bên cạnh kết quả đã đạt đợc chúng ta còn có những khó khăn cần đợc giải quyết,
trong đó vấn đề bức bách hàng đầu hiện nay là sự hoạt động kém hiệu quả của
doanh nghiệp Nhà nớc (DNNN).
Trong điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh
trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các DNNN đã bộc lộ những yếu
kém, lâm vào tình trạng sa sút khủng hoảng. Để đẩy nhanh quá trình phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đa dạng hoá các loại hình tổ chức sản xuất kinh
doanh, cũng nh để đổi mới hệ thống DNNN, Chính phủ đã đề ra nhiều phơng hớng
giải pháp cổ phần hoá một bộ phận DNNN. Đây là giải pháp có tính chiến lợc quan
trọng và cần thiết nhằm thu hút thêm vốn đầu t cho sản xuất, giải quyết các vấn đề
về sở hữu và việc làm trong các DNNN.
Cho đến thời điểm này, quá trình cổ phần hoá đã đi đợc một chặng đờng
dài, đạt đợc một số thành công nhất định. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã
nảy sinh nhiều vớng mắc, khó khăn cản trở, do đó kết quả đạt đợc so với kế hoạch
đặt ra còn rất thấp.
Là sinh viên thực tập tại Tổng công ty Dệt May Việt Nam, nơi đã và đang xúc
tiến chủ trơng cổ phần hoá DNNN, em chọn đề tài Một số giải pháp góp phần
thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc tại Tổng công ty
Dệt May Việt Nam làm luận văn tốt nghiệp. Đề tài này sẽ đi vào nghiên cứu
quá trình thực hiện cổ phần hoá tại Tổng công ty Dệt May Việt Nam, nêu lên những
vấn đề vớng mắc nảy sinh và qua đó đa ra một số ý kiến về giải pháp góp phần
Trong đó công ty cổ phần đợc định nghĩa nh sau:
1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:
a. Vốn điều lệ đợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
b. Cổ đông là ngời nắm giữ cổ phần trong doanh nghiệp, chịu trách
nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn
đã góp vào doanh nghiệp.
c. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhợng cổ phần của mình cho ngời
khác, trừ trờng hợp quy định tại khoản 3 điều 55 và khoản 1 điều 58 của
luật này.
d. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lợng cổ đông tối thiểu là 3
và không hạn chế tối đa.
2. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng
theo quy định của pháp luật về thị trờng chứng khoán.
3. Công ty cổ phần có t cách pháp nhân kể từ ngày đợc cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Tóm lại, hình thành công ty cổ phần là quá trình kinh tế khách quan,
do đòi hỏi của nền kinh tế thị trờng. Quá trình hình thành và phát triển của
công ty cổ phần cho thấy chế độ tín dụng ngân hàng là đòn bẩy cho quá
trình xã hội hoá sở hữu và tạo điều kiện ra đời công ty cổ phần. Công ty cổ
phần đã đóng vai trò lịch sử hết sức to lớn trong sự phát triển của nền kinh
tế thị trờng:
+ Công ty cổ phần là sản phẩm xã hội hoá sở hữu phản ánh quá trình
tích tụ, tập trung t bản. Công ty cổ phần ra đời đã góp phần đẩy nhanh quá
trình này về tốc độ và quy mô và làm xuất hiện xí nghiệp mà với t bản riêng
lẻ không thể nào thiết lập đợc.
+ Công ty cổ phần là kết quả của sự vận động tách biệt hai mặt của
sở hữu, thể hiện ở mối quan hệ giữa sở hữu và quyền kinh doanh. Nó cho
phép mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh nhanh chóng mà không bị giới
hạn bởi tích luỹ của từng t bản riêng lẻ. Đồng thời tạo điều kiện đẩy nhanh
Pháp).
- Để thu hút thêm vốn đầu t, công nghệ, phơng pháp quản lý tiên tiến
từ các nguồn trong nớc và nớc ngoài, để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát
triển sản xuất nâng cao chất lợng hàng hoá, tăng sức cạnh tranh và mở rộng
thị trờng (các nớc đang phát triển).
Vì vậy khi xem xét vấn đề CPH DNNN các học giả nớc ngoài đều
đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn đó là t nhân hoá.
Có hai cách hiểu về t nhân hoá: Theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.
Liên hiệp quốc có đa ra định nghĩa về t nhân hoá theo nghĩa rộng: "T nhân
hoá là sự biến đổi tơng quan giữa Nhà nớc và thị trờng trong đời sống kinh
tế của một nớc theo hớng u tiên thị trờng ". Theo cách hiểu này toàn bộ các
chính sách, luật lệ, thể chế nhằm khuyến khích, mở rộng và phát triển khu
vực kinh tế t nhân hay các thành phần kinh tế quốc doanh, giảm bớt sự can
thiệp trực tiếp của Nhà nớc vào các hoạt động kinh doanh của các cơ sở,
đơn vị kinh tế, giành cho thị trờng vai trò điều tiết đáng kể... đều có thể coi
là các biện pháp t nhân hoá.
Còn t nhân hoá hiểu theo nghĩa hẹp thờng để chỉ quá trình giảm bớt
quyền sở hữu Nhà nớc hoặc tự kiểm soát của Chính phủ đối với xí nghiệp.
Việc đó có thể thông qua nhiều biện pháp và phơng thức khác nhau nhng
phổ biến nhất vẫn là biện pháp CPH.
ở nớc ta, chủ trơng CPH một số DNNN lại xuất phát từ đờng lối kinh
tế và đặc điểm kinh tế xã hội của nớc ta trong giai đoạn hiện nay: Xây dựng
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đang bố trí
lại cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ chế quản lý cho phù hợp với đờng lối
ấy. Đó là sự chuyển hớng chiến lợc kinh tế xã hội của Nhà nớc, cũng là đặc
điểm lớn nhất chi phối quyết định mục đích, nội dung và phơng thức CPH
các DNNN. Vì vậy cần nhận thức rằng: thực chất CPH ở nớc ta (khác hẳn
với CPH mà các nớc trên thế giới đã tiến hành) là nhằm cơ cấu lại
(tỷ trọng cổ phiếu phát ra) là do Nhà nớc quyết định. Nên cũng không sợ
rằng chủ trơng CPH rốt cuộc chính là t nhân hoá toàn bộ nền kinh tế Nhà n-
ớc, làm mất định hớng xã hội chủ nghĩa nh một số ngời vẫn hiểu.
+ Hơn nữa mục đích của t nhân hoá là tăng cờng khu vực kinh tế t
nhân, còn CPH ở nớc ta nhằm bố trí lại cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi cơ
cấu quản lý cho phù hợp với đờng lối xây dựng nền kinh tế mà Đảng và
Nhà nớc ta đã đề ra.
* Quan điểm thứ hai:
Vấn đề đặt ra là: CPH các DNNN có phải là xã hội hoá t liệu sản
xuất thuộc sở hữu toàn dân hay không?
Chúng ta vẫn hiểu, xã hội hoá t liệu sản xuất thực chất là công hữu
hoá t liệu sản xuất dới hai hình thức: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Còn
CPH DNNN (thực chất nh đã phân tích ở trên) là việc chuyển tài sản từ một
chủ sở hữu sang nhiều chủ cùng sở hữu, nhng không phải là xã hội hoá t
liệu sản xuất, bởi vì:
+ Trong các DNNN (sở hữu toàn dân) và các hợp tác xã (sở hữu tập
thể), kết qua thu đợc sau quá trình sản xuất kinh doanh (san khi đã trừ đi
phần chi phí sản xuất - kinh doanh, phần nộp thuế Nhà nớc và phần để lại
tích luỹ) đợc phân phối theo lao động. Còn các công ty cổ phần - đó là sở
hữu hỗn hợp, mỗi ngời chủ dựa vào cổ phần nhiều ít của mình để ăn chia,
hởng lợi và chịu trách nhiệm về những rủi ro (do hoạt động của công ty đa
lại) trong phạm vi cổ phần mà họ đóng góp, ở đây tồn tại chế độ phân phối
lợi nhuận theo lợng vốn đóng góp.
+ Trong công ty cổ phần sẽ hình thành sở hữu hỗn hợp, nghĩa là
đồng sở hữu chứ không xuất hiện khái niệm "tập thể sở hữu".
+ Đối với DNNN, chỉ có Nhà nớc là chủ sở hữu duy nhất, đây là hình
thức xã hội hoá cao nhất. Nhng khi thực hiện CPH, thì thực chất là Nhà nớc
nhờng toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu của mình cho nhiều chủ bỏ vốn
cùng sở hữu.
nhanh chóng, rộng khắp trong tất cả các lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng tuyệt
đối trong nền kinh tế, bất kể hiệu quả mà nó mang lại. Sau chính sách đổi
mới (năm 1986), nền kinh tế nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng, các
DNNN (khu vực xơng sống của nền kinh tế) đã biểu hiện nhiều nhợc điểm,
kém hiệu quả, thậm chí nhiều doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, điều đó đ-
ợc thể hiện ở ba yếu tố chính sau:
- Về vốn hoạt động và phát triển:
Các doanh nghiệp luôn trong tình trạng thiếu vốn dẫn đến phải
ngừng sản xuất. Trong khi đó hiệu quả sử dụng đồng vốn thấp, nguy cơ thất
thoát vốn gia tăng, số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ tăng nhanh trong vòng
vài năm trở lại đây. Hiện nay, chúng ta có một hệ thống với khoảng 6000
DNNN đang tồn tại và hoạt động nhng phần lớn có quy mô nhỏ và hoạt
động kém hiệu quả. Trong tổng số 6000 DNNN thì có tới 90- 95% đợc tín
dụng Nhà nớc bao cấp, nhng lại có tới 40% số doanh nghiệp đó rơi vào tình
trạng phá sản. Số các doanh nghiệp còn lại, tuy hiệu quả sản xuất kinh
doanh dần dần có đợc tăng lên, nhng sự tăng trởng của các doanh nghiệp
này vẫn không đáp ứng đợc yêu cầu của chiến lợc phát triển kinh tế. Một
trong những nguyên nhân dẫn đến hậu quả trên là hiệu quả sử dụng vốn của
các doanh nghiệp còn thấp, khả năng tập trung hạn chế, phần lớn trông chờ
vào ngân sách Nhà nớc, do đó hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu vốn. Các
DNNN do quy mô nhỏ, vốn ít không có khả năng đầu t thiết bị hiện đại,
mở rộng sản xuất kinh doanh nên sức cạnh tranh trên thị trờng yếu.
- Công nghệ lạc hậu, hệ thống máy móc thiết bị cũ nát cha đợc thay
thế. Trình độ công nghệ máy móc của các DNNN ở Việt Nam thấp xa so
với các nớc trên thế giới (từ 2 đến 3 thế hệ, cá biệt có công nghệ lạc hậu
đến 5 - 6 thế hệ). Do đợc hình thành nhờ vào các nguồn viện trợ của nhiều
nớc khác nhau nên đại bộ phận các DNNN áp dụng những loại công nghệ
khác nhau. Điều này dẫn đến tính đồng bộ thấp, hiệu suất sử dụng trang
thiết bị không cao chỉ đạt khoảng 50 đến 60%.
nay nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp là rất lớn để đảm bảo cho sự tồn
tại của chính bản thân doanh nghiệp và cho sự phát triển của nền kinh tế.
Nhng lấy ở đâu ra? Nhà nớc (ngân sách và ngân hàng) không thể và không
nên tiếp tục cấp vốn cho khu vực làm ăn kém hiệu quả. Trong khi đó tiềm
lực vốn trong dân và trong các tổ chức kinh tế xã hội là rất lớn lại cha đợc
tận dụng khai thác và sử dụng có hiệu quả cho sản xuất. Theo kết quả điều
tra mức sống gần đây của Bộ kế hoạch - đầu t và Tổng cục thông kê thì
44% tiền để dành của dân chúng dùng để mua vàng và ngoại tệ, 20% mua
nhà đất và cải thiện điều kiện sinh hoạt, chỉ có 17% gửi tiết kiệm, phần lớn
là tiết kiệm ngắn hạn. Hơn nữa thị trờng vốn của Việt Nam còn phát triển
chậm nên nguồn vốn duy nhất DNNN có thể khai thác đợc hiện nay là
nguồn tín dụng. Tuy nhiên nguồn vốn này còn hạn chế. Việc CPH các
DNNN tạo điều kiện bán cổ phần, thu hút đầu t của nhiều thành phần kinh
tế, mở cửa cho việc đa dạng hoá sở hữu.
* Cổ phần hoá DNNN tạo điều kiện cho ngời lao động thực hiện
quyền làm chủ thực sự của mình đối với doanh nghiệp. Trong công ty cổ
phần quyền lợi và trách nhiệm của ngời lao động gắn bó chặt chẽ với nhau.
Bởi vì mỗi ngời lao động trong xí nghiệp bằng vốn tự có của mình, quỹ
phúc lợi của doanh nghiệp đợc phân bổ,... đều có thể tham gia mua cổ
phiếu tại công ty. Họ cống hiến cho doanh nghiệp cũng chính vì lợi ích của
họ. Điều này xoá bỏ đợc t tởng ỷ lại vào Nhà nớc, kích thích mọi ngời phát
huy hết khả năng, hăng say lao động.
Hơn nữa với việc góp vốn này thì ngời lao động từ công nhân trực
tiếp sản xuất đến giám đốc doanh nghiệp đều trở thành ngời chủ thực sự
đồng vốn của mình. Đều đợc tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động
của doanh nghiệp với quyết tâm và ý chí chung là gặt hái đợc hiệu quả cao
nhất, tốt nhất.
* Cổ phần hoá còn có tác động tích cực đến việc cải tiến quản lý hiệu
quả hơn. CPH các DNNN hình thành các công ty cổ phần cũng có nghĩa là
các lĩnh vực xã hội, cũng nh nguồn lực để phát triển kinh tế. Thực hiện CPH
DNNN giúp cho việc giảm nhanh số lợng DNNN vốn kém hiệu quả, tăng c-
ờng khu vực kinh tế t bản Nhà nớc, thúc đẩy công cuộc công nghiệp hoá -
hiện đại hóa đất nớc để đi lên Chủ nghĩa xã hội. Đồng thời đó cũng là tiền
đề và triển vọng cho việc hình thành các tập đoàn đa quốc gia trong nền
kinh tế thế giới hiện nay.
Ngoài ra CPH DNNN còn tạo ra môi trờng vừa cạnh tranh vừa tập
hợp các tập đoàn kinh tế mạnh chuyên ngành hay đa ngành có thế mạnh về
thị trờng, vốn với mục đích ngày càng thu đợc lợi nhuận cao. Đồng thời nó
tạo một thói quen đầu t mới trong nhân dân đó là đầu t tài chính hơn là giữ
tiền hoặc gửi tiết kiệm.
Với việc phát triển của công ty cổ phần, tất cả mọi ngời đều có thể
trở thành các nhà đầu t thông qua việc mua cổ phiếu của các công ty cổ
phần. Và ngời đầu t có thể tự do lựa chọn công ty đầu t làm sao có lợi nhất,
khi công ty làm ăn có lãi và ngày càng phát triển thì cổ tức mà họ nhận đợc
có thể cao hơn rất nhiều so với lãi suất tiết kiệm. Hơn nữa họ có quyền
chuyển các cổ phiếu thành tiền mà không cần phải chờ đến thời hạn thanh
toán.
III. Chủ trơng CPH của Đảng và Nhà nớc
Chính phủ đã chủ trơng CPH DNNN từ năm 1987, tại điều 22 của
QĐ 217/HĐBT ngày 14/11/1987 đã ghi: Bộ tài chính nghiên cứu cho làm
thử việc mua bán cổ phần ở một vài xí nghiệp quốc doanh và báo cáo kết
quả lên Hội đồng bộ trởng vào cuối năm 1988. Đó là một chủ trơng đúng
đắn nhng có lẽ hơi sớm so với điều kiện cụ thể lúc đó. Do đó chủ trơng này
đã đi vào quên lãng. Và chủ trơng CPH đã đợc nêu lại tại Nghị quyết hội
nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ơng khoá VII (tháng 11/1991):
Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành lập một số
công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút
kinh nghiệm chu đáo trớc khi mở rộng phạm vi thích hợp.
+ Thông t số 50 TC/TCDN ngày 30/8/1996 của Bộ tài chính về H-
ớng dẫn các vấn đề về tài chính, về việc bán và phát hành cổ phiếu khi
chuyển DNNN thành công ty cổ phần theo Nghị định 28/CP.
+ Quyết định số 01/CPH ngày 9/6/1996 của Bộ trởng, Trởng ban
CPH Trung ơng về Các thủ tục để chuyển DNNN thành công ty cổ phần.
+ Nghị định số 25/CP ngày 26/3/1997 của Chính phủ về sửa đổi một
số điều của Nghị định 28/CP.
+ Chỉ thị số 658/CP ngày 20/8/1997 của Thủ tớng Chính phủ về thúc
đẩy triển khai vững chắc CPH DNNN.
* Ch ơng trình CPH đẩy mạnh
+ Nghị định 44/CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ về chuyển DNNN
thành công ty cổ phần.
+ Nghị quyết 44/1998/NQ-CP ngày 29/6/1998 của Bộ tài chính về
Hớng dẫn những vấn đề về tài chính khi chuyển DNNN thành công ty cổ
phần.
+ Thông t số 104/1998/TT-BTC ngày 18/7/1998 của Bộ tài chính về
Hớng dẫn thực hiện u đãi về thuế và lệ phí trớc bạ quy định tại điều 13
Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ về chuyển
DNNN thành công ty cổ phần.
+ Thông t số 11/1998/BT-LĐTBXH ngày 21/8/1998 về chính sách
đối với ngời lao động khi chuyển DNNN thành công ty cổ phần.
Một số nét nổi bật trong Nghị định 44/CP ngày 26/9/1998: Đây là
văn bản pháp lý cao nhất cho đến nay, quy định một cách tơng đối toàn
diện mục tiêu, nguyên tắc, phơng pháp, các chính sách u đãi và tổ chức thực
hiện CPH các DNNN.
- Đối tợng các DNNN đợc CPH: Là các doanh nghiệp ghi tại điều 1
cuả luật DNNN mà Nhà nớc không cần phải nắm giữ 100% vốn đầu t. Nh
vậy Nghị định 44/CP đã quy định các yêu cầu với DNNN tiến hành CPH
theo Nghị định 28/CP là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, có phơng án
chuyển nhợng, để thừa kế các quyền khác của cổ đông theo quy định của
pháp luật và điều lệ tổ chức hoạt động của công ty cổ phần.
Thứ hai: Ngời lao động nghèo trong doanh nghiệp đợc mua cổ phần
theo giá u đãi thì đợc hoãn trả trong 3 năm đầu để đợc hởng cổ tức và trả
dần tối đa trong 10 năm, không phải chịu lãi suất. Số cổ phần mua trả dần
dành cho ngời lao động nghèo không quá 20% tổng số cổ phần Nhà nớc
bán theo giá u đãi. Ngời sở hữu cổ phần phải trả dần không đợc chuyển nh-
ợng khi cha trả hết tiền cho Nhà nớc.
IV. Các hình thức và quy trình tiến hành CPH DNNN
1. Các hình thức CPH
Việc tiến hành CPH ở nớc ta đợc tiến hành theo 4 phơng thức chính
sau:
- Giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp,
phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn phát triển doanh nghiệp. Đây là ph-
ơng án hay và đang đợc khuyến khích áp dụng, nhất là đối với những doanh
nghiệp kinh doanh tơng đối hiệu quả.
- Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp.
Phơng thức này áp dụng khá phổ biến ở các DNNN.
- Tách một phần công đoạn, bộ phận dây chuyền sản xuất trong
doanh nghiệp để tiến hành CPH trớc, rồi tiến hành CPH dần những bộ phận
còn lại. Phơng thức này có u điểm là các doanh nghiệp tập dợt, làm quen
với yêu cầu quản lý của một doanh nghiệp CPH trớc khi tiến hành CPH
toàn bộ doanh nghiệp.
- Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nớc tại doanh nghiệp.
Đây là hình thức mới nhất đợc đa ra trong Nghị định 44/CP.
2. Quy trình tiến hành CPH DNNN
Trong giai đoạn trớc, do cha có quy định cụ thể về quy trình CPH
DNNN nên việc tiến hành CPH đợc thực hiện bởi rất nhiều cơ quan khác
nhau với nhiều thủ tục phức tạp. Quá trình CPH trớc đây mất rất nhiều thời
gian, có trờng hợp kéo dài từ năm này qua năm khác, gây lãng phí tiền của
quản lý vốn, giải quyết những vấn đề vớng mắc về tài chính và dự kiến giá
trị thực tế của doanh nghiệp.
Bớc 3: Phê duyệt và triển khai công tác thực hiện CPH
Thủ tớng Chính phủ, các Bộ,UBND tỉnh duyệt phơng án và quyết
định chuyển DNNN thành công ty cổ phần tuỳ theo giá trị của doanh
nghiệp. Ban đổi mới tại doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ nh: mở sổ
đăng ký mua cổ phiếu của các cổ đông, đăng ký mua tờ cổ phiếu tại kho
bạc Nhà nớc.
Bớc 4: Ra mắt công ty cổ phần, đăng ký kinh doanh
Giám đốc, kế toán trởng doanh nghiệp với sự chứng kiến của Ban đổi
mới quản lý tại doanh nghiệp và đại diện cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà
nớc bàn giao cho Hội đồng quản trị của công ty cổ phần. Danh sách lao
động, tiền vốn tài sản và toàn bộ hồ sơ tài liệu, sổ sách của doanh nghiệp
đăng ký với sở Kế hoạch và Đầu t tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng nơi
doanh nghiệp đóng trụ sở chính. Hồ sơ đăng ký kinh doanh nh quy định tại
điều 19 Nghị định 44/NĐ-CP/1998 ngày 29/6/1998 của Chính phủ.
chơng II
thực trạng của quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nớc tại Tổng công ty Dệt May Việt Nam
I.Sự hình thành và phát triển của Tổng công ty Dệt May Việt Nam
1. Lịch sử hình thành
Từ năm 1989, nớc ta bắt đầu bớc vào thời kì mở cửa, đổi mới chính
sách nhằm phát triển kinh tế để bắt kịp vào dòng phát triển mạnh mẽ của
nền kinh tế thế giới. Hàng loạt các biện pháp, chính sách mới đã đợc Nhà n-
ớc ta áp dụng nhằm thúc đẩy các ngành, các mặt của nền kinh tế phát triển.
Với môi trờng kinh doanh ngày càng khắc nghiệt, sôi động, có tính đòi hỏi
cao thì yêu cầu trong các ngành kinh tế phải có các tổng công ty vững mạnh
trở thành tập đoàn kinh doanh có sức cạnh tranh lớn làm đầu tầu thúc đẩy
khác); nhận, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đất đai và các nguồn lực khác,
để thực hiện mục tiêu kinh doanh và nhiệm vụ do Nhà nớc giao.
- Có nhiệm vụ thực hiện: Các khoản nợ phải thu, phải trả ghi trong
bảng cân đối tài sản của Tổng công ty tại thời điểm thành lập Tổng công ty;
trả các khoản tín dụng quốc tế mà Tổng công ty sử dụng theo quyết định
của Chính phủ; trả các khoản tín dụng do Tổng công ty trực tiếp vay hoặc
các khoản tín dụng đã đợc Tổng công ty bảo lãnh cho các đơn vị thành viên
vay theo hợp đồng bảo lãnh, nếu các đơn vị này không có khả năng trả.
- Tổng công ty có nhiệm vụ quản lý hoạt động kinh doanh theo đúng
chức năng, ngành nghề kinh doanh theo quy định của Nhà nớc.
- Tổng công ty có nhiệm vụ thực hiện đúng chế độ và các quy định
về quản lý vốn, tài sản, các quỹ, kế toán, hạch toán, chế độ khác Nhà nớc
quy định; chịu trách nhiệm về tính xác thực các hoạt động tài chính của
Tổng công ty; Tổng công ty công bố công khai báo cáo tài chính hàng năm,
các thông tin để đánh giá đúng đắn và khách quan về hoạt động của Tổng
công ty theo quy định của Chính phủ; thực hiện nhiệm vụ đóng thuế và các
khoản nộp ngân sách Nhà nớc theo quy định của pháp luật.
2.2. Đánh giá kết quả hoạt động của Tổng công ty dệt may Việt Nam
2.2.1. Về sản xuất kinh doanh
Kể từ ngày thành lập đến nay mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, phải
cạnh tranh gay gắt trên thị trờng trong nớc và quốc tế nhng với sự nỗ lực vợt
bậc của toàn bộ cán bộ, công nhân viên, Tổng công ty Dệt - May Việt Nam
đã đạt đợc những kết quả đáng khích lệ. Biểu hiện ở:
Tổng tài sản cố định của toàn Tổng công ty tính đến 31/12/2000 là
5.888 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách Nhà nớc là 1813 tỷ đồng, chỉ chiếm
30,8%. Theo báo cáo tổng kết của Tổng công ty thì hiệu quả sử dụng tài sản
cố định năm 2000 là một đồng tài sản cố định đa vào sản xuất kinh doanh
làm ra 1,28 đồng doanh thu (năm 1999 là 1,2 đồng), số liệu tơng ứng của
các doanh nghiệp dệt là 1,14 đồng và các doanh nghiệp may là 2,03 đồng.
Biểu số 1: Một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh từ năm 1995
đến năm 2000
STT Nội dung Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000
1. Giá trị TSL Tỉ đồng 2.964 3.276 3.686 4.042 4.505 5.120
2. Doanh thu Tỉ đồng 4.566 4.953 5.462 5.881 6.578 8.038
3. Xuất khẩu Triệu USD 350 395 472 451 484 546
4. Nộp ngân sách Tỉ đồng 62 163 134 140 209 241
5. Thu nhập bình quân 1000
Đ
558 682 811 868 960 1.090
Nh vậy giá trị tổng sản lợng năm 2000 của Tổng công ty tăng 13,6%
so với năm 1999 và tăng gần gấp 2 lần so với năm 1995 dẫn đến doanh thu
toàn Tổng công ty năm 2000 tăng so với năm 1999 là 1.460 tỉ đồng và cũng
tăng gần gấp đôi so với năm 1995 - năm mới thành lập. Thu nhập bình quân
của công nhân trong Tổng công ty cũng tăng lên qua các năm, điều đó đã
phần nào cải thiện đợc đời sống ngời lao động làm cho họ yên tâm gắn bó
với các doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty.
Kể từ khi mới thành lập Tổng công ty đã xác định hớng đi chính cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đó là Hớng vào xuất khẩu nhằm
tăng nguồn thu ngoại tệ, đảm bảo cân đối trả nợ và tái mở rộng, thỏa mãn
nhu cầu tiêu dùng trong nớc, từng bớc đa công nghiệp dệt may Việt Nam
trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn góp phần tăng trởng kinh tế, thực hiện
đờng lối CNH-HĐH đất nớc. Vì vậy các sản phẩm chủ yếu của công ty
đều hớng về xuất khẩu, trong đó sản phẩm chính để xuất khẩu là sản phẩm
may và sản phẩm dệt kim. Còn sản phẩm tiêu thụ trong nớc chủ yếu là sản
phẩm sợi (khoảng 99% số lợng sợi sản xuất ra).
Đối với sản phẩm chính để xuất khẩu thì thị trờng xuất khẩu lớn
nhất là Đông Âu, còn ở Tây Âu thì thị trờng Đức chiếm tỷ trọng chủ yếu.
Còn ở Châu á thì thị trờng Nhật Bản là chính, còn thị trờng Mỹ đang trong
1997 1000 tấn 56.9
1998 1000 tấn 61.9
1999 1000 tấn 64.4
2000 1000 tấn 78.9
350
395
472.2
451.3
484.9
546.6
166.5
162.2
189.7
165.7
174.3
212.3
0
100
200
300
400
500
600
1995 1996 1997 1998 1999 2000
Kim ngạch XK(giá tính đủ) -triệu USD
Kim ngạchXK(giá HĐ) - triệu USD
Nhờ những kết quả đạt đợc trên làm cho tổng nộp ngân sách của
Tổng công ty có xu hớng ngày càng tăng: Năm 1995 khi mới thành lập nên
nộp ngân sách của Tổng công ty chỉ khiêm tốn là 62,5 tỷ đồng nhng đến