GV: Trần Thiên Đức -
V2011
HƯỚNG DẪN THÍ NGHIỆM BÀI 1
1. Tên bài: LÀM QUEN VỚI CÁC DỤNG CỤ ĐO ĐỘ DÀI
2. Nhận xét:
- Bài thí nghiệm này rất cơ bản, nó sẽ giúp các bạn sử dụng thành thạo thước kẹp và thước
Panme.
- Vấn đề chính của bài này lại nằm ở chỗ đa phần các bạn mới chỉ biết đến thước kẻ, bút chì, kéo
chứ chả mấy bạn đã được sử dụng các dụng cụ này khi nhìn thấy dụng cụ thấy sao mà phức
tạp thế, các thang đo thì chi chít choáng cầm thước đo cũng thấy run vì đọc hướng dẫn rồi
mà chả tưởng tượng ra cách làm như thế nào (giống tôi hồi trước thôi) không có gì mà phải
ngại.
- Ngoài ra khâu xử lý số liệu cũng là một khâu khá imba khiến cho các bạn sinh viên gặp rất
nhiều sai sót (imba vì các bạn đã học cách xử lý sai số nhưng 99.99% kiến thức đã bay mất
còn 0.01% thì quá ít nên chả ai để ý lúng túng khi xử lý số liệu cách khắc phục: đọc kỹ bài
lý thuyết sai số + tham khảo báo cáo mẫu ).
3. Giải quyết:
3.1. Những điều cần biết:
- Về dụng cụ: Bài thí nghiệm này tất nhiên sẽ phải có thước kẹp và Banme rồi và ngoài ra còn có
đối tượng đo đạc là viên bi sắt, khối trụ rỗng hình trụ.
- Chúng ta sẽ đo gì?
Bi: chắc chắn sẽ là đo đường kính dùng Banme
Trụ rỗng: đường kính trong, đường kích ngoài, đường cao dùng thước kẹp
Tóm lại là “Ban Bi Kẹp Trụ” quá dễ nhớ.
- Cách sử dụng thước Banme và thước kẹp: Trước khi tìm hiểu cách đo chúng ta phải biết hình
dạng dụng cụ như thế nào đã tham khảo hình vẽ dưới đây:
Chỗ kẹp bi cẩn thận đấy
Nút vặn
nói bằng tiếng anh), chỉ cần quan sát hình ảnh là hiểu thôi ).
3.2. Quá trình đo cần chú ý:
- Kẹp các đối tượng đo trên dụng cụ phải chắc chắn, không được lỏng lẻo vì hình tru khá to nên
rơi xuống đất chắc cũng dễ tìm nhưng viên bi thì bé xíu rơi xuống đất lại chui vào khe nào đó
thì potay.com mất dụng cụ thí nghiệm thì hậu quả vô cùng bi đát (chắc các bạn chưa tưởng
tượng được đâu, muốn biết chi tiết hãy hỏi các anh chị sinh viên khóa trước ).
- Đọc kết quả phải cẩn thận tránh nhầm lẫn giữa các vạch kết quả đo sai
- Làm xong thí nghiệm phải xếp dụng cụ gọn gàng trước khi ra về.
4. Xử lý số liệu:
- Khó khăn nằm ở trong phần xử lý sai số hãy luôn chú ý những điểm sau khi xử lý kết quả:
Sai số tuyệt đối và sai số tương đối đã đủ 2 chữ số có nghĩa chưa? (nếu lớn hơn thì phải
làm tròn ngay để lấy về 2 chữ số có nghĩa). Thế nào là chữ số có nghĩa thì xin mời đọc
bài sai số.
Giá trị đo được và sai số tuyệt đối của đại lượng đó phải cùng bậc, tương xứng chi tiết
tại bài sai số.
5. Báo cáo mẫu:
- Chưa có vì đang chờ các bạn gửi số liệu của buổi thí nghiệm đầu tiên về.
ARE YOU OK?
CHÚC MỌI NGƯỜI HỌC TỐT ^_^
GV: Trần Thiên Đức -
V2011
HƯỚNG DẪN THÍ NGHIỆM BÀI 2
1. Tên bài: KHẢO SÁT HỆ VẬT CHUYỂN ĐỘNG TỊNH TIẾN – QUAY. XÁC ĐỊNH
MOMENT QUÁN TÍNH CỦA BÁNH XE VÀ LỰC MA SÁT Ổ TRỤC.
2. Nhận xét:
- Về cơ sở lý thuyết trong sách có trình bày rất kỹ nên tôi chỉ tóm lược các ý chính. Điểm mấu
chốt của bài này chính là sử dụng định luật bảo toàn năng lượng trên quãng đường AB:
(phân tích phương trình trên ta thấy tại vị trí A vật đứng yên nên làm gì có động năng, lúc này
năng lượng của hệ vật dưới dạng thế năng trọng trường. Tại vị trí B (mốc thế năng) thì thế năng
bằng 0 năng lượng của hệ chỉ có động năng và động năng quay. Tuy nhiên, do hoàn cảnh xô đẩy
nên trong quá trình di chuyển xuống lực ma sát đã thịt mất một phần năng lượng nên nếu cộng
thêm phần năng lượng bị mất này đi ta sẽ thu được năng lượng như lúc ban đầu.)
GV: Trần Thiên Đức -
V2011
- Ở đây chúng ta phải đi xác định I nhìn vào phương trình chúng ta thấy cần xác định 3 đồng
chí là v, ω, fms (mấy đồng chí còn lại đã biết rồi nên không cần quan tâm:
Xác định v: bài toán trẻ con chắc ai cũng làm được
Xác định ω: bài toán lớp lá sử dụng mối quan hệ v và ω là ra.
Xác định fms: bài toán lớp lớn sử dụng định luật biến thiên thế năng bằng công cản là
xong.
h2 là vị trí cao nhất của quả nặng sau khi thả từ vị trí h1 có thể lấy ví dụ sau cho các
bạn dễ tưởng tượng là thả quả bóng từ vị trí h1 rơi xuống đất, rõ ràng là sau khi đập đất
(giả sử va chạm đàn hồi) thì quả bóng bật lên. Nếu tính đến lực cản (lực ma sát, lực cản
của không khí) thì quả bóng chỉ có thể lên được vị trí h2 < h1 chứ không thể lên bằng
hoặc hơn đâu như vậy năng lượng quả bóng còn lại ở trạng thái 2 sẽ là mgh2 < mgh1
phần còn lại đi đâu? chính là phần năng lượng đã bị tổn hao do lực cản gây ra.
- Về dụng cụ đo: (được mô tả bằng hình vẽ dưới) Nhìn chung các bạn chỉ cần để ý đến vài bộ
phận chính như quả nặng, bánh đà, trục bánh đà, thước đo để xác định vị trí quả nặng. Các bạn
chú ý đến 4 nút trên cùng mỗi nút có một chức năng riêng nên đừng có bấm bừa.
Nút F: a nhờ anh phờ anh phanh.
vào là xong.
- Các bước cụ thể:
B1: Ngắm nghía thăm dò thiết bị thí nghiệm xem nó có thừa có thiếu cái gì không, có cái
nào trục trặc không (như dây bị đứt, thước mờ, đại loại là những gì bất thường) nên
dành khoảng 5 phút cho bước này.
B2: Hạ thủy tức là hạ quả nặng xuống vị trí thấp nhất bằng cách bấm nút 3. Nói chung
là cứ thả cho quả nặng nó rơi từ từ xuống. Khi nào xuống vị trí thấp nhất thì các bạn bóp
phanh để cho nó ổn định. Ngoài ra phải để ý dây treo quả nặng phải song song với thước.
B3: Điều chỉnh cảm biến xuống dưới vị trí quả nặng khoảng 2 – 3 cm. Sau đó bật đồng
hồ cảm biến lên (chú ý là phải kết nối đồng hồ với cảm biến) và dịch chuyển cảm biến
lên đến vị trí cảm biến bắt đầu thay đổi trạng thái thì fix ngay cảm biến lại. Nghe thì nó
hơi trìu tượng nhưng các bạn để ý là nếu quả nặng chỉ cần che cảm biến quang điện là lập
tức nó sẽ thay đổi trạng thái ngay. Vì ban đầu ta để ở dưới vị trí quả nặng (không bị che)
trạng thái ổn định. Đưa lên một cái là bị che thay đổi ngay.
B4: Đọc và ghi giá trị ZB.
B5: Nhẹ nhàng ta đẩy xe hàng bằng cách quay bánh đà đề kéo quả nặng lên (giống như
quay bánh đà để kéo xô nước từ dưới giếng lên thôi). Chú ý là dây cuốn trên trục phải xít
nhau chứ đừng có chồng chéo lên nhau vừa xấu vừa dễ gây rối dây. Khi quả nặng
được đưa lên vị trí h1 (được cho trước) ứng với ZA thì hãm phanh dừng lại và ghi giá trị
ZA lại.
B6: Thả bom các bạn sẽ bấm nút 1 (mở phanh và đóng mạch điện của máy đo thời
gian) đồng thời ngay sau đó bấm luôn nút 2 (đóng mạch cổng quang điện). Đừng có bấm
nút 1 rồi bắt đầu suy nghĩ xem là bấm nút nào tiếp theo. Thường thì có thể bấm hai nút
này đồng thời cũng được. Kết quả là quả nặng sẽ rơi xuống dưới và đến vị trí thấp nhất
nó sẽ chắn cảm biến biến quang và khiến cho đồng hồ đang chạy ngon bỗng trở nên “cu
đơ”.
B7: Xác định h2 : sau khi làm cho đồng hồ quay cu đơ thì do quán tính mà quả nặng lại di
chuyển lên trên và đến một vị trí h2 nào đó nó sẽ xì tốp ngay. Đến lúc này các bạn bấm
ngay phanh F để cố định đồng chí quả nặng này lại và bắt đầu khi kết quả: gồm ZC và
thời gian trên đồng hồ.
- Thí nghiệm này liên quan tới kiến thức các bạn đã học trong chương trình vật lý lớp 12 – con
lắc vật lý đại loại nó là một vật rắn bất kỳ có thể dao động quanh một trục nằm ngang cố định
và không đi qua trọng tâm G của nó.
- Thao tác thí nghiệm trong bài cũng khá đơn giản và dễ làm, chỉ cần cẩn thận một chút là làm
bài này ngon lành.
3. Giải quyết:
3.1. Những điều cần biết:
- Trước hết ta tìm hiểu sơ qua về dao động của con lắc vật lý. Nhìn
hình vẽ ta thấy lực khiến con lắc dao động chính là trong lực P hay
chính xác hơn là thành phần Pn (vì hướng về vị trí cân bằng). Chú ý
là phương của trọng lực P sẽ đi qua khối tâm G của con lắc trong
bài thí nghiệm này chúng ta có thể dịch chuyển khối tâm nhờ một gia
trọng.
- Như ta đã biết lúc này chu kì của con lắc quán tính sẽ được tính
theo công thức:
√
L1 chính là đoạn O1G, I1 là momen quán tính của con lắc so với trục
quay.
- Bây giờ nếu chúng ta đổi trục sang O2 thì tương tự ta có:
Hình 1. Con lắc vật lý
√
- Chú ý là đối với con lắc vật lý ta sẽ tìm được một điểm O2 sao cho T2 đúng bằng T1 khi đó ta
sẽ có con lắc thuận nghịch. Tuy nhiên, việc cố định vị trí khối tâm G rồi tìm điểm O2 rất không
khả thi vì chẳng nhẽ khoan chi chít lỗ trên đường O1G để mò mẫm ra điểm O2 thõa mãn giải
pháp chính là sử dụng gia trọng C để thay đổi vị trí của khối tâm.
- Mục đích thứ hai của bài thí nghiệm này là ứng dụng con lắc thuận nghịch để xác định gia tốc
trọng trường. Việc tính toán ra công thức gia tốc trọng trường đã được trình bày kỹ trong tài liệu
hướng dẫn chúng ta có công thức cuối cùng như sau:
Bộ đếm
Cổng quang của cảm biến sẽ nối vào đây
Công tắc bật tắt
Hình 3. Đồng hồ đo thời gian hiện số
3.2. Quá trình đo cần chú ý:
- Điều chỉnh gia trọng phải nhẹ nhàng (vặn từ từ chứ đừng vặn hùng hục các bạn nữ Bách
khoa vặn cũng ác liệt lắm).
- Khi lắp xong thì phải kiểm trạng thái của đồng hồ đếm xem các thông số cơ bản đã thiết lập
đúng chưa.
- Chú ý khi kéo con lắc ra khỏi vị trí cân bằng thì góc lệch phải nhỏ đừng để góc lệch quá lớn.
a. Tìm vị trí x1:
B0: Kiểm tra đồng hồ đếm đã bật chưa? Nếu chưa bật thì bật lên.
B1: Vặn sát gia trọng về quả nặng 4 đặt con lắc theo chiều thuận (chữ “thuận” xuôi chiều và
hướng về phía mình) nếu không biết thế nào là xuôi chiều thì tốt nhất các bạn nên hỏi giáo
viên hướng dẫn.
B2: Kéo con lắc đến vị trí che cổng quang hoặc lệch hơn một chút (hình vẽ) rồi thả tay:
B3: Bấm reset để bắt đầu đo ghi kết quả 50T1
B4: Đảo chiều con lắc đo 50T2
GV: Trần Thiên Đức -
V2011
B5: Vặn gia trọng đến vị trí cách vị trí ban đầu 40mm (xác định bằng thước kẹp hoặc các bạn có
thể xác định bằng số vòng quay vì nếu tôi nhớ không nhầm thì 1 vòng là 1mm thì phải do đó
các bạn quay đủ 40 vòng là xong).
còn 1 % không qua là do không làm theo hướng dẫn hoặc không đi thí nghiệm thôi .
4. Xử lý số liệu:
- Khá dễ và cơ bản đối với những bạn đã đọc bài về sai số chỉ việc tính toán và điền kết quả
thế là xong (chẳng phải chém gió nhiều)
5. Báo cáo mẫu:
- Chưa có vì đang chờ các bạn gửi số liệu của buổi thí nghiệm đầu tiên về.
ARE YOU OK?
CHÚC MỌI NGƯỜI HỌC TỐT ^_^
GV: Trần Thiên Đức -
V2011
HƯỚNG DẪN THÍ NGHIỆM BÀI 4
1. Tên bài: XÁC ĐỊNH BƯỚC SÓNG VÀ VẬN TỐC TRUYỀN ÂM TRONG KHÔNG
KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CỘNG HƯỞNG SÓNG DỪNG
2. Nhận xét:
- Nhìn thấy tên bài thí nghiệm cũng cảm nhận được bài này không hề đơn giản nhất là với các
bạn sinh viên khối D (vốn nền tảng cơ sở vật lý thường không vững cứ nghĩ lên đại học khối
D không phải học lý nhưng ai ngờ vào Bách khoa lại phải học tâm lý chán nản điểm
kém).
- Tuy nhiên, nhìn chung mà nói thì bài này làm thì dễ mà hỏi về lý thuyết mới khó như vậy
mục tiêu hàng đầu là phải qua được vòng gửi xe .
3. Giải quyết:
3.1. Những điều cần biết:
- Làm thế nào để qua vòng gửi xe bây giờ? Very easy đọc kỹ lý thuyết nhưng lý thuyết thì
khó hiểu làm sao mà đọc kỹ được cần nắm các điểm mấu chốt sau:
Định nghĩa sóng dừng: không cần trình bày dài dòng chỉ cần nhớ là sóng có nút và bụng
Nếu dao động kích thích sóng là dao động điều hòa thì phương trình sóng sẽ có dạng:
(
)
(
)
(
)
Để ý kĩ thì hai thành phần màu xanh và màu đỏ chính là phương trình dao động điều hòa
và các bạn đã học ở lớp 12 thì U(x,t) chính là tổng hợp của hai dao động điều hòa. Tính
chất của hai dao động này cùng biên độ, cùng tần số và ngược chiều nhau kiểu gì cũng
sẽ tạo ra sóng dừng rồi.
Đến đây thì các bạn có thể đoán biết được là kiểu gì cũng sẽ phải sử dụng một nguồn kích
thích dao động điều hòa (chính là loa điện động: nguyên lý hoạt động là dòng xoay chiều
GV: Trần Thiên Đức -
V2011
Đầu lấy tín
hiệu ra
Hình 1. Máy phát tần (giá thành của một chiếc
mới toanh rất phải chăng – gần 9 chai nên
các bạn cứ cẩn thận khi thao tác )
điện động.
Pittong: có
thể dịch
chuyển lên
xuống nhờ hệ
thống ròng
rọc
Puli
Bộ khuếch
đại MIKE
giúp quan
sát tín hiệu
cực đại
Hình 2. Hệ thí nghiệm
- Về cơ bản bài thí nghiệm gồm hai phần chính
Khảo sát hiện tượng cộng hưởng sóng dừng trong một đầu kín một đầu hở đại khái là
ta truyền sóng âm kích thích vào ống rồi sau đó điều chỉnh pittong lên xuống để thay đổi
giá trị L tìm vị trí bụng sóng.
Khảo sát hiện tượng cộng hưởng trong ống hai đầu hở: pittong sẽ được bỏ ra và thay
- Ngoài ra còn phần “chém gió” đây chính là cơ hội cho các bạn khối D thể hiện (vốn giỏi văn
mà) nói chung là nhận xét xem kết quả mình thế nào? Sai số có lớn không? Vì sao lại như thế
? Vì sao nó không thế này mà nó lại thế kia?
5. Báo cáo mẫu:
- Chưa có vì đang chờ các bạn cung cấp số liệu.
ARE YOU OK?
CHÚC MỌI NGƯỜI HỌC TỐT ^_^
GV: Trần Thiên Đức -
V2011
HƯỚNG DẪN THÍ NGHIỆM BÀI 4
1. Tên bài: XÁC ĐỊNH HỆ SỐ NHỚT CỦA CHẤT LỎNG THEO PHƯƠNG PHÁP
STOKES
2. Nhận xét:
- Bài này thí nghiệm cũng khá đơn giản có mỗi nhiệm vụ thả bi rồi bấm giờ nhưng nó lại
hơi “ảo” ở chỗ cảm biến định vị viên bi thường không có hoặc có nhưng đã không còn hoạt động
do đó các bạn sẽ thấy có một cái đồng hồ bấm giây do bấm bằng tay nên nếu bấm không
chuẩn thì sai số khá lớn (bi thì rơi nhanh nên rất khó bấm được chính xác cách duy nhất là đo
càng nhiều lần càng tốt sau đó sẽ lựa chọn những giá trị gần nhau nhất).
- Ngoài ra bài này cũng khá mất vệ sinh vì nước trong ống không phải là sạch gì nên khi thao tác
tránh để nước bắn ra ngoài.
3. Giải quyết:
3.1. Những điều cần biết:
- Chất lỏng chuyển động trong ống hình trụ bao giờ vận tốc cũng sẽ giảm dần từ trục ống ra
ngoài và bằng 0 tại thành ống nguyên nhân là do sự suất hiện lực ma sát nội giữa các lớp chất
lỏng để dễ hình dung các bạn cứ cho nước chảy vào một cái màng các bạn sẽ thấy tại có phần
thế
Hình 3. Phân bố vận tốc của lớp chất lỏng xung quanh viên bi
- Nhìn vào công thức chúng ta sẽ biết ngay là để xác định hệ số nhớt của chất lỏng ta phải đi xác
định r, v, Fms.
Xác định r sử dụng Panme vấn đề là chưa làm bài thí nghiệm thì biết sử dụng
Panme thế nào đây đành phải đọc qua cách đọc Panme trong bài 1 thôi cũng dễ
hiểu thôi vì đằng nào chúng ta chả phải học. Đại loại kẹp bi vào Panme các bạn sẽ đo
được đường kính chia đôi là ra bán kính.
Fms: thông thường các bạn sẽ thấy người ta thường sử dụng điều kiện cân bằng để xác
định đại lượng vật lý thông qua một đại lượng khác. Trong bài thí nghiệm này ban đầu
viên bi sẽ rơi nhanh dần. Các lực tác dụng lên viên bi sẽ là Fms, FA (không đổi), P (không
đổi) ban đầu P lớn hơn Fms + FA nên viên bi sẽ rơi nhanh dần đều. Sau một thời gian
ông Fms thầy thằng P bắt nạt anh nhiều quá thế là trong quá trình gia tăng vận tốc ông Fms
tranh thủ tích lũy năng lượng (để ý là Fms phụ thuộc vào v) và hậu quả là Fms lớn đến
một giá trị nào đó thì Fms + FA = P bi sẽ rơi thẳng đều đây chính là lúc các bạn khảo
sát tốc độ của rơi của bi (chính là tốc độ của lớp chất lỏng sát bề mặt bi) đây cũng
chính là lý do mà tại sao chúng ta không tính thời gian rơi từ miệng ống (vì ban đầu vận
tốc đã ổn định đâu). Tổng động viên các điều kiện ta sẽ thu được công thức tính hệ số
nhớt của chất lỏng như sau (hơi phức tạp một chút):
(
)
Trong đó
là khối lượng riêng và đường kính của viên bi, là khối lượng riêng của
chất lỏng. Trong trường hợp chất lỏng trong ống hẹp có đường kính trong là d thì:
(
)
(
)
dịch chuyển trong ống này
3.2. Quá trình đo cần chú ý:
- Ghi các thông số đã cho liên quan tới bài thí nghiệm (thường có sẵn trên bảng), độ chính xác
của thước, dụng cụ,….
- Đừng có vội cầm viên bi thả luôn mà phải đo đường kính viên bi đã.
- Khi thả bi thì phải rất nhẹ nhàng tình cảm đừng có ném bộp một cái xuống nước .
- Mỗi lần vớt bi lên là phải lau sạch bi trước khi thả lần tiếp theo.
Các bước chính
B1: Một bạn cầm sẵn đồng hồ bấm giây để trực chiến, một bạn tiến hành thả bi
B2: Khi bi đi qua vị trí đầu tiên (ứng với cảm biến 4) bấm đồng hồ một cái (lúc này đồng hồ
bắt đầu đếm) đến vị trí tiếp theo (cảm biến 5) bấm thêm phát nữa giá trị trên đồng hồ
lúc này sẽ là thời gian bi đi từ vị trí 1 đến vị trí 2 (khoảng cách 12 đã biết rồi nhé).
B3: Lấy nam châm vớt bi lau bi.
B4: Quay về bước 1
Chú ý: Trước khi ra về các bạn cần thu thập những số liệu bổ sung sau:
- Độ chia nhỏ nhất trên ống (dùng để xác định khoảng cách giữa hai cảm biến đó)
- Gia tốc trọng trường và sai số tuyệt đối của nó.
GV: Trần Thiên Đức -
V2011
- Sai số của đồng hồ bấm giây
4. Xử lý số liệu:
- Đối với các bạn làm bài này đầu tiên thì hơi khó khăn một chút hãy xem bài sai số và tham
khảo báo cáo mẫu.
- Đối với các bạn đã làm mấy bài trước rồi thì phần xử lý số liệu bài này dễ ợt nếu không muốn
nói là chẳng có gì cả bài này tôi mà ngồi xử lý chắc mất tối đa 5 phút là xong
- Còn gì nữa không nhỉ? hết
- Ở đây có hai đại lượng mà các bạn cần phân biệt được bản chất là công và nhiệt. Mặc dù đơn vị
của cả hai đại lượng này đều giống nhau nhưng về bản chất thì chưa chắc đã giống nhau (ví dụ
như thấy hai người mặc váy thì đừng bảo là cả hai đều là girl vì biết đâu được đấy… ). Cả
công và nhiệt đều mô tả quá trình truyền năng lượng nhưng công là quá trình cơ học (liên quan
đến lực) còn nhiệt là quá trình nhiệt (liên quan tới nhiệt độ). Các bạn có thể xét một ví dụ sau để
dễ hiểu. Giữa trưa hè nóng nực một bạn nữ khối D bách khoa đang ở nhà làm báo cáo thí nghiệm
vật lý thì một cậu bạn trai đến chơi làm ảnh hưởng đến tinh thần học tập vấn đề là làm sao để
tống cổ đồng chí kia đi bây giờ có hai cách
Theo quan điểm “công”: Bạo lực là phương án tối ưu đấm đá, đuổi ra khỏi nhà (các
bạn nữ BK thì khoản này khá ok nên chắc sẽ chọn theo phương án này.
Theo quan điểm “nhiệt”: Biết thừa bạn trai chịu nóng kém đã thế thì bà tắt hết quạt
kết quả là nhiệt độ tăng cậu kia nghĩ ngay chắc học lý nhiều nên đầu óc có vấn đề giữa
trưa mà tắt quạt tránh xa cho an toàn và thế là out luôn.
Cả hai cách đều dẫn đến một kết quả nhưng cách thực hiện khá khác nhau hi vọng các bạn đã
hiểu.
- Một vấn đề nữa là các bạn chú ý qui ước dấu của công và nhiệt nhận +, cho - tức là nhận
nhiệt, nhận công thì Q, A > 0, truyền nhiệt, thực hiện công thì A < 0.
- Tiếp theo là cặp bài trùng rất quan trọng mà các bạn sẽ phải biết:
Nhiệt dung phân tử đẳng áp: CP (P chính là Pressure)
GV: Trần Thiên Đức -
V2011
Nhiệt dung phân tử đẳng tích: CV (V chính là Volume)
phép làm chứ các bạn không được làm). Đã có trường hợp một nhóm vào ngồi đo được 15 phút
đã thấy nộp kết quả biết ngay là fake số liệu hậu quả thì vô cùng bi đát. Đơn giản là các
bạn phải lấy số liệu 10 lần mỗi lần 5 phút như vậy nhanh thì cùng phải 50 phút tóm lại đừng
hi vọng đánh nhanh rút gọn với bài này cứ kháng chiến trường kỳ thôi .
- Cái quan trọng nhất chính là cách mà các bạn vặn van. Theo sách hướng dẫn “quan sát hai cột
nước bằng nhau rồi vặn van nhanh” nói thì dễ mà làm mới khó người chứ có phải máy đâu
mà cảm nhận được thời điểm hai cột nước bằng nhau và thế là xuất hiện các kỹ năng đóng
van made by BK student
GV: Trần Thiên Đức -
V2011
Cách 1: Mặt rất căng thẳng, tay run run khi cầm vảo van (các bạn nữ hay chọn cách này
vì đúng tính cách yếu đuối). Vặn nhè nhẹ và khi thấy khí xịt ra ngoài thì giật mình vặn
bộp van lại luôn tạch.
Cách 2: Hùng hùng hổ hổ vặn bộp một cái rồi cười hô hố vài giây rồi mới vặn lại tạch.
Cách 3: Chuẩn bị rất cẩn thận, mắt nhìn thẳng vào hai cột nước, tay cầm chắc van, vặn
một phát rồi quan sát hai cột nước cho bằng nhau rồi đóng ngay lại. Vấn đề là không bắt
chuẩn lúc hai cột nước bằng nhau được vì quá trình xảy ra rất nhanh (chắc chưa đầy 1s đã
bằng nhau rồi) tưởng chuẩn mang kết quả ra và what’s the hell? Bad data .
- Vậy điểm mấu chốt là gì? Đừng quan tâm đến gì sách nói hay quan tâm tới những gì gió nói .
Các bạn vặn van xuống thấy tiếng xịt chấm dứt là nhẹ nhàng khóa van đơn giản vậy thôi.
- Cuối cùng là chờ hai cột nước chênh lệch và ghi kết quả thôi Để kiểm tra kết quả xem có
đúng không các bạn áp dụng công thức tính hệ số Poisson theo chiều cao cột nước trong sách.
Nếu kết quả ra tầm từ 1.35 đến 1.4 là ok (càng sát 1.4 thì càng chuẩn nhé) vì hệ số Poisson đối
với không khí thì chỉ có thể nằm trong khoảng giá trị đấy thôi.