Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
Đặc điểm của tài nguyên và
môi trường nước lục địa
của Việt Nam
Ngày nay, hầu như mọi người đều hiểu rằng nước là một trong những nguồn tài
nguyên thiên nhiên cơ bản và quý giá nhất. Hàng loạt tài liệu khoa học công bố
trong nhiều thế kỷ vừa qua trên thế giới đã nói lên điều đó. Khoảng hơn hai trăm
năm trước đây, trong sách “Vân Đài loại ngữ”, nhà bác học Việt Nam Lê Quý
Đôn đã viết:
"Vạn vật không có nước không thể sống được,
Mọi việc không có nước không thể thành được".
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có câu nói tuyệt vời trong huấn thị của Người tại Hội
nghị Thủy lợi toàn miền Bắc họp tại Bắc Ninh, ngày 14-9-1959 như sau:
"Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có
nước, thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh...
... Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hoà với nhau để nâng cao
đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội"1.
Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
cấp nước.
Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
Ngoài nguồn nước mặt từ mưa, Việt Nam hiện còn có nguồn nước rất lớn do các
con sông xuyên biên giới đem từ lãnh thổ các nước ngoài vào như sông Hồng,
sông Mã, sông Cả, sông Mê Công. Lượng nước này ước tính bằng 520 tỷ m3, gấp
1,7 lần lượng nước ngọt hình thành trong nước. Một số sông xuyên biên giới như
sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn, Bằng Giang ở Cao Bằng, chuyển một lượng nước từ
Việt Nam qua lãnh thổ Trung Quốc. Tuy nhiên lượng này không đáng kể so với
tổng lượng nước hình thành trên lãnh thổ Việt Nam . Các phụ lưu của sông Mê
Công, như Nậm Rốm, Sê Kông, Sê Băng Hiêng, Sê San, Srê Pok chuyển một
lượng nước khá lớn từ lãnh thổ Việt Nam vào các nước láng giềng như Cộng hoà
dân chủ nhân dân Triều Tiên, Lào, Campuchia, nhưng rồi từ các nước này lượng
nước đó lại chảy trở lại vào Đồng bằng sông Cửu Long.
Tổng hợp hai nguồn nước mặt: nguồn hình thành trên lãnh thổ quốc gia và nguồn
từ nước ngoài chảy vào, nói một cách khái quát, Việt Nam có tổng lượng nước
mặt trung bình năm bằng khoảng 830 tỷ m3. Trong đó phần hình thành trong
nước là 310 tỷ, chiếm 37%; phần từ nước ngoài vào là 520 tỷ, chiếm 63%.
Tài nguyên nước nói trên tồn tại dưới những dạng thức khác nhau như sông, hồ,
kênh, rạch, đầm phá, vừa lưu giữ, vận chuyển, chuyển hóa nước, vừa tạo nên tài
nguyên đa dạng sinh học và nguồn cảnh sắc thiên nhiên vô cùng phong phú và đa
Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
Nước ta đã xây dựng khoảng 75 hệ thống thủy lợi vừa và lớn với diện tích tưới
tiêu của mỗi hệ thống từ 10.000ha đến 200.000ha, như các hệ thống: Bắc Hưng
Hải, sông Nhuệ, Thác Huống, Bắc Thái Bình, Đồng Cam, Ayun Hạ, Dầu Tiếng.
Ven biển có nhiều đầm, phá, bàu, trằm. Nổi tiếng là đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai (Thừa Thiên - Huế), có diện tích bằng 216km2 mặt nước; Thị Nại (Bình
Định), 45km2; Trường Giang (Quảng Ngãi), 36,9km2; Cù Mông (Phú Yên),
30,2km2; Nước Ngọt (Bình Định), 26,5km2; Thủy Triều (Khánh Hòa), 25,5km2;
Ô Loan (Phú Yên), 18,0km2; Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), 16,0km2; Trà Ổ (Bình
Định), 14,4km2; Đầm Nại (Ninh Thuận), 12,0km2.
Bảng II.1. Số liệu so sánh tài nguyên nước của một số quốc gia của Viện Tài
nguyên Thế giới - WRI (2002 - 2004)
* Theo số liệu và cách tính của nước ta thì lượng nước mặt là 10.375m3/người,
chênh lệch khoảng 7%
Về nước dưới đất, tiềm năng của nước ta cũng tương đối lớn. Tổng trữ lượng có
tiềm năng khai thác được trên cả nước của các tầng trữ nước trên toàn lãnh thổ,
chưa kể phần hải đảo, ước tính gần 2000m3/s, tương ứng khoảng 60 tỷ m3/năm.
Trữ lượng này thay đổi nhiều theo các vùng: dồi dào nhất ở Đồng bằng sông
Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
phần đã được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như: sản xuất nước khoáng
đóng chai; thủy lý trị liệu trong y học, khai thác khí CO2; khai thác năng lượng
địa nhiệt. Theo số liệu điều tra tới năm 1999, cả nước có khoảng 400 nguồn nước
khoáng và nước nóng đã được khảo sát, trong đó 287 nguồn đã được công nhận.
Xét theo những số liệu như đã nêu trên có thể nói rằng Việt Nam là một quốc gia
tương đối giàu tài nguyên nước. Theo tài liệu của Viện Tài nguyên thế giới công
bố năm 2002 - 2003, thì hiện nay hàng năm lượng tài nguyên nước ngọt tái tạo
được trên mặt trái đất là 40.594km3, trung bình cho mỗi đầu người là 6.538m3.
Trị số trung bình tương ứng của nước ta là 11.189m3, gấp 1,7 lần trung bình của
thế giới. Tuy nhiên với lượng nước này nước ta cũng chỉ thuộc vào loại tương
đối phong phú về tài nguyên nước ngọt trên đầu người. Các nước nhiều nước như
Lào có tới 68.318m3/người; Campuchia, 30.561m3/người; Mianma
21.358m3/người. Các quốc gia ít nước như Trung Quốc chỉ có 2.185m3/người,
Hàn Quốc, 1.471m3/người. Nhiều nước nghèo tài nguyên nước chỉ có khoảng
500m3, thậm chí 50m3/người.năm.
Cũng như tại nhiều nơi khác trên thế giới, ở nước ta tài nguyên nước không chỉ
có giá trị về cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, mà còn là nguồn năng
lượng sạch, nguồn vật liệu của rất nhiều ngành công nghiệp, thủ công nghiệp, cơ
sở thiên nhiên của các ngành thủy sản, giao thông, du lịch, giải trí, điều dưỡng, là
nhân tố quan trọng của sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái, quyết định
Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
sạch như hiện nay.
Lấy sông Mê Công làm thí dụ. Mê Công là một con sông xuyên biên giới quan
trọng ở châu Á có tiềm năng rất lớn về các dạng tài nguyên nước. Từ những năm
cuối thập kỷ 50 của thế kỷ XX đã được các nước trong lưu vực và các tổ chức
quốc tế hết sức quan tâm việc quản lý hợp lý tài nguyên nước cùng các tài
nguyên thiên nhiên liên quan khác và các hoạt động phát triển trên lưu vực. Việc
hợp tác quản lý dòng sông quan trọng này được thực hiện trong khuôn khổ tổ
chức hợp tác quốc tế về phần hạ lưu sông Mê Công, cụ thể là của Ủy ban quốc tế
về hạ lưu sông Mê Công trước từ năm 1957 đến năm 1975, Ủy ban lâm thời hạ
lưu sông Mê Công từ năm 1975 đến năm 1995 và Ủy ban sông Mê Công
(Mekong River Commission, MRC) hiện nay. Qua nhiều đổi thay của lịch sử,
thành viên của các Ủy ban này là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam . Địa
phận quản lý của các Ủy ban chỉ là phần "hạ lưu" sông Mê Công. Trung Quốc và
Mianma không phải là thành viên chính thức của Ủy ban và chỉ tham gia một
cách không chính thức vào một số cuộc họp của Ủy ban. Với đặc điểm như trên,
sông Mê Công là một dòng sông liên quốc gia. Theo thỏa thuận đã có giữa bốn
quốc gia thuộc phần hạ lưu lưu vực sông Mê Công là Thái Lan, Lào, Campuchia
và Việt Nam, không nước nào được xây dựng công trình trên dòng sông chính,
việc xây dựng các công trình quan trọng trên các sông nhánh lớn cũng cần thông
Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
Khó khăn thứ hai: tài nguyên nước phân bố rất không đều theo không gian
và thời gian
Lượng mưa, nhân tố chủ yếu hình thành tài nguyên nước trên lãnh thổ nước ta,
phân bố rất không đều theo không gian và thời gian. Bình quân toàn lãnh thổ
lượng mưa năm là 1.944mm. Tuy nhiên, lượng mưa này phân bố rất không đều
theo không gian. Có những nơi lượng mưa này đạt 8.000mm/năm như ở Bạch
Mã thuộc Thừa Thiên - Huế; 5.000mm/năm như ở Bắc Quang thuộc Hà Giang;
Nam Châu Lĩnh thuộc Quảng Ninh. Trong lúc có những nơi lại chỉ có
700mm/năm như ở thị xã Phan Rang, Ninh Thuận, thậm chí chỉ có 400mm/năm
như ở thị xã Phan Rí thuộc Bình Thuận. Trong từng phạm vi lãnh thổ nhỏ hơn
như tỉnh, huyện lượng mưa phân bố cũng rất không đều. Trong năm 2002, nhiều
tỉnh ở Tây Nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long
trong 3 - 4 tháng hầu như không có giọt mưa nào. Trong năm 2003, nhiều tỉnh ở
Tây Nguyên, duyên hải miền Trung đều có tình trạng không có mưa suốt trong 3
tháng mùa hè (Bảng II.3).
Bảng II.3. Lượng mưa trong một số tháng của năm 2002 tại một số địa điểm
(mm)
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
Nguồn: Niên giám Thống kê và Hồ sơ nguồn nước, 2002
Trong bối cảnh chung cả nước như vậy, sự phân bố nước không đều theo không
gian và thời gian làm cho tình trạng thiếu nước về mùa khô và lũ lụt với lưu
lượng lớn, có sức tàn phá mạnh mẽ trở nên đặc biệt trầm trọng tại một số nơi. Tỷ
lệ giữa lưu lượng tối đa và lưu lượng tối thiểu của một số con sông lên tới 1.000,
thậm chí 10.000 lần.
Khó khăn thứ ba: có nhiều thiên tai gắn liền
với nước
Lũ lụt là thiên tai phổ biến nhất và ác liệt nhất
ở nước ta. Theo tài liệu ghi chép của các cơ
quan quản lý nước thì trong thế kỷ XIX, chỉ
Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
Nguồn: Ngô Đình Tuấn, 2003
Hạn hán cũng là thiên tai gây tác hại hết sức lớn, trên diện rộng cho sản xuất
nông, công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân. Vào mùa khô tất cả các vùng sinh
thái trên nước ta từ đồng bằng, trung du đến miền núi đều có thể bị hạn nặng.
Trong những năm gần đây ở Tây Nguyên đã liên tiếp có 6 năm bị hạn 1994,
1995, 1996, 1997, 1998 và 2003. Đặc biệt năm 1998 diện tích cây công nghiệp,
cây ăn quả bị hạn là 111.000ha, bị chết là 19.300 ha, riêng cà phê bị hạn là
74.400ha, bị chết là 13.800ha và hơn 770.000 người thiếu nước sinh hoạt.
Tại vùng Lục Khu thuộc tỉnh Cao Bằng nhân dân địa phương cho biết trong các
năm 1978, 1998 mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tận tháng 5 năm sau, nước cho
trồng trọt và chăn nuôi cạn kiệt, nước ăn uống, sinh hoạt cho nhân dân vô cùng
Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
khan hiếm. Nhân dân phải bỏ hết mọi việc để đi tìm nước, "cõng" nước về nhà
SplitvàUnregistered
Nam là một trong những nước có tốc độ tăng nhanh nhất về tỷ lệ này trên thế
giới. So sánh với một số nơi trên thế giới thì nước sông ngòi phần thượng lưu và
tại một số hồ lớn ở Việt Nam còn tương đối sạch. Tuy nhiên, với sự phát triển
nhanh của công nghiệp hóa, đô thị hóa, gia tăng dân số ở nông thôn cũng như
thành thị, chất lượng nước mặt cũng như nước ngầm đã có những biểu hiện suy
thoái khá nghiêm trọng.
Mức độ ô nhiễm nước ở một số khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp
tập trung đã rất lớn. Thí dụ tại Cụm Công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ
Chí Minh, ước tính mỗi ngày có khoảng hàng trăm nghìn m3 nước thải công
nghiệp từ các nhà máy giấy, hóa chất, dệt nhuộm thải ra, tuy đã có những cố
gắng khắc phục, nhưng nước kênh Tham Lương vẫn còn mầu đen, mùi hôi thối,
hàm lượng chất độc hại cao.
Ở thành phố Thái Nguyên nước thải từ các cơ sở luyện gang, thép, kim loại mầu,
sản xuất giấy, khai thác than chưa được xử lý vẫn đổ ra sông Cầu và chuyển về
vùng hạ lưu là nơi dân cư đông đúc sản xuất nông, công nghiệp phát triển. Hàng
trăm làng nghề về sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, dệt nhuộm, giấy với lượng nước
thải hàng ngàn m3/ngày không qua xử lý cũng góp phần gây ô nhiễm nguồn
nước tại nhiều địa phương ở đồng bằng và trung du.
Khung II.2. CHƯƠNG TRÌNH NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI
TRƯỜNG NÔNG THÔN Ở BẠC LIÊU
Những năm gần đây, vào mùa khô người dân ở Bạc Liêu thường thiếu nước sinh
hoạt. Để khắc phục tình trạng này, Nhà nước đã phát động nhân dân hưởng ứng
phong trào khoan giếng bơm tay. Tuy nhiên, hiện nay một số giếng bơm tay đã
Việt Nam
môi
Việt Nam
môi
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
and
SplitvàUnregistered
Ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đô thị lớn và vừa vẫn còn tình trạng
nước thải sinh hoạt, lẫn lộn với nước thải công nghiệp không qua xử lý tập trung,
mà trực tiếp thải ra các sông, hồ, kênh, mương lộ thiên đi qua các khu dân cư và
sản xuất. Nước thải từ phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế cũng còn được thải
chung vào hệ nước thải công cộng. Độ ô nhiễm của phần lớn các vực nước tiếp
nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
Ô nhiễm nước ở nông thôn và các khu vực sản xuất nông nghiệp cũng rất nghiêm
trọng. Ở đây chưa có cơ sở hạ tầng tốt cho thoát nước thải, phần lớn chất thải của
con người và gia súc không được xử lý, bị rửa trôi theo dòng mặt, hoặc thấm
xuống đất, làm cho nguồn nước mặt cũng như nước ngầm bị ô nhiễm về mặt hữu
cơ và vi sinh. Môi trường nước nông thôn còn bị ô nhiễm do sử dụng không hợp
lý và đúng quy cách các hóa chất nông nghiệp, trong đó có không ít hóa chất độc
hại. Tỷ lệ số hộ ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh chỉ mới đạt khoảng 30
- 40%. Chỉ khoảng 28 - 30% số hộ có công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn.
Khó khăn thứ năm: yêu cầu về nước đang tăng nhanh
Nạn thiếu nước đang đe dọa toàn thế giới. Tài liệu thông tin về tài nguyên và môi
trường nước không ngớt nhắc tới tình trạng "Trên trái đất hiện thường xuyên có
hai tỷ người đang khát"; "trong mỗi khoảng thời gian 8 giây lại có một em bé bị
1) Nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về thực trạng, đặc điểm tài nguyên
và môi trường nước ở nước ta.
2) Thực hiện đầy đủ Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường cùng các luật,
pháp lệnh, quy định liên quan tới khai thác, bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên
và môi trường nước bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất.
3) Hoàn chỉnh và nâng cao chất lượng quy hoạch lưu vực các sông; nâng cao năng
lực và hiệu quả hoạt động của Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước và của các
ban quản lý lưu vực các sông.
Việt Nam
môiand
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
SplitvàUnregistered
4) Nâng cao hiệu quả, tiết kiệm dùng nước trong tất cả các ngành sản xuất và sinh
hoạt bằng các biện pháp khoa học, công nghệ và phương thức quản lý tiên tiến.
Về nông nghiệp, cần thực hiện các biện pháp tưới tiết kiệm nước; giảm tổn thất
nước bằng cách kiên cố hóa hệ thống kênh mương, nâng cấp công trình đầu mối,
nâng cao hiệu quả quản lý; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ưu tiên phát
triển các cây con có nhu cầu sử dụng nước thấp, hiệu quả kinh tế cao; tích cực
phòng chống ô nhiễm nước; sử dụng các hóa chất nông nghiệp theo đúng các quy
định và hướng dẫn kỹ thuật.
Về công nghiệp và thủ công nghiệp kiểu làng nghề, cần nâng cao hiệu quả sử dụng
nước; tái sử dụng nước; xây dựng và hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải; tích cực
phòng chống ô nhiễm nước; thực hiện nghiêm túc các luật pháp, quy định về quản
lý nước thải.
vùng cửa sông ở các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Ngãi nước mặn
lấn sâu vào 30 - 40 km, ảnh hưởng đến việc lấy nước tưới và sinh hoạt.
Nguồn: Báo Nhân dân, ngày 10-7-2003
5) Xây dựng các hồ chứa nước sử dụng tổng hợp, khai thác nhiều bậc thang trên
một dòng sông khi có điều kiện thuận lợi, nhằm mục đích cấp nước, chống hạn,
ngăn ngừa ô nhiễm mặn, cung cấp năng lượng tái tạo được; hết sức chú ý giảm
Việt Nam
môiand
trường
cuộc sống Version -
Simpo PDF
Merge
SplitvàUnregistered
thiểu và phòng tránh tối đa các tác động môi trường tự nhiên và xã hội của các hồ,
đập, đặc biệt là của các hồ đập lớn.
6) Gắn liền việc quản lý tài nguyên nước mặt và nước dưới đất với quản lý các tài
nguyên thiên nhiên khác như: đất, rừng, khoáng sản, năng lượng trong các quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội các lưu vực theo hướng bền vững.
7) Hợp tác chặt chẽ, có hiệu quả với các nước láng giềng cùng chia sẻ tài nguyên
nước trên các hệ thống sông xuyên biên giới để xây dựng và thực hiện các quy
hoạch phát triển chung và quy hoạch sử dụng nước, bảo vệ chất lượng nước trên
các sông này.
8) Đối với tài nguyên nước dưới đất, cùng với các phương hướng nói trên, cần chú
ý: tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới trong điều
tra, thăm dò, khai thác, sử dụng và bảo vệ nước ngầm, áp dụng các phương thức
mới, như sử dụng hành lang thu nước, giếng tia, bổ sung nhân tạo để tăng cường
tính mạng, tài sản cho nhân dân, ổn định được sản xuất và đời sống, phát triển
vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành vùng kinh tế trù phú, bền vững.
Trên vùng đồng bằng ven biển miền Trung cần sử dụng các biện pháp: 1) Quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng các công trình hạ tầng hợp lý để chủ
động né tránh, thích nghi để phát triển trong môi trường thiên tai; 2) Giảm nhẹ
thiệt hại của lũ chính vụ, kiểm soát lũ tiểu mãn, lũ đầu vụ, lũ cuối vụ bằng cách
xây dựng một số hồ lớn trên các sông chính như Rào Quán (Quảng Trị), Tả Trạch
(Thừa Thiên - Huế), A Vương (Quảng Nam), Nước Trong (Quảng Ngãi), Định
Bình (Bình Định), Ba Hạ (Phú Yên); 3) Chỉnh trị lòng sông, chống sạt lở, chống
bồi lấp cửa sông, ổn định cửa thông thoát lũ, phát triển giao thông thủy thuận lợi;