1
CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, song nó mang lại cả hai mặt tích cực và tiêu cực.
Thế giới ngày càng có tính liên kết và tác động tương hỗ lẫn nhau. Thế giới được liên kết bởi
các tổ chức kinh tế, thương mại, các tổ chức xã hội, và ngày càng hướng tới một cộng đồng
kinh tế chung cho cả một khu vực, nhưng đồng thời thế giới cũng được liên kết bởi các loại
bệnh dịch, chủ nghĩa khủng bố, di cư và cả nạn ô nhiễm - trong đó có vấn đề “hiệu ứng nhà
kính” và sự biến đổi môi trường toàn cầu, v.v...
Qua một số nghiên cứu cho thấy, một trong các vấn đề nổi cộm của nạn ô nhiễm toàn
cầu hiện nay chính là tình trạng ô nhiễm môi trường từ các KCN, KCX do công tác thu gom,
xử lý và đổ thải các loại rác công nghiệp yếu kém, các khí đốt từ các nhà máy thải ra vượt quá
mức cho phép, gây ô nhiễm nguồn nước trầm trọng, chất lượng không khí bị suy giảm… Tại
các nước đang phát triển, chỉ 30-50% lượng rác thải được giải quyết. Thậm chí ở một số nước
có nền kinh tế đang phát triển, tốc độ tăng lượng rác thải còn lớn hơn tốc độ tăng dân số. Tại
Ấn Độ, chỉ 217/3119 thành phố có hệ thống cống thải; và sông Hằng là một trong những con
sông ô nhiễm nhất thế giới do hứng chịu chất thải từ 115 thành phố công nghiệp. Theo Tổ
chức Y tế thế giới (WHO), hiện đang có 1,2 tỷ người sống trong môi trường ô nhiễm quá tiêu
chuẩn vệ sinh hiện hành; 2 tỷ người đang khát; hơn 2 tỷ người vẫn thiếu nước sạch và điều
kiện sử dụng nước vệ sinh. Nghiên cứu cũng cho thấy biến đổi khí hậu chịu 20% trách nhiệm
đối với việc thiếu nước sạch, trong khi sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế chịu trách
nhiệm đến 80%.
Xu hướng phát triển công nghiệp đa ngành, đặc biệt là công nghiệp nặng, công nghiệp
hóa chất là nguyên nhân phát sinh phần lớn chất thải độc hại. Theo Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB), ô nhiễm không khí và nước tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á sẽ tiếp tục
tăng gấp 5 - 10 lần ở giai đoạn 2005-2010. Ô nhiễm đô thị và công nghiệp hiện này đang là
tác nhân gây ô nhiễm nặng nề đến các vùng nông nghiệp lân cận. Vấn nạn ô nhiễm môi trường
không của riêng một quốc gia nào mà đang là mối quan tâm chung của toàn thế giới. Trước
2
các nước này buộc phải tìm đến giải pháp chuyển lĩnh vực sản xuất gây ô nhiễm của họ ra
nước ngoài. Các nước phát triển như: Đức, Áo, Bỉ, Đan Mạch... đang đánh thuế mạnh vào các
ngành gây ô nhiễm, trong khi đó các nước đang phát triển lại có mức thuế thấp hơn nhiều do
khát vốn. Vô hình chung, các nước nghèo này trở thành những nước “nhập khẩu” ô nhiễm.
Từ những nhận định và phân tích trên đây, quả thật các nước nghèo đang phải hứng
chịu nhiều hệ quả của việc bành trướng và phát triển kinh tế và kỹ nghệ của các nước phát
triển. Nếu chính phủ các nước đang phát triển không tỉnh táo trước mặt trái của chu trình
CDTB này thì vấn nạn “nhập khẩu” ô nhiễm là càng trở nên nghiêm trọng hơn bao giờ hết và
vô hình chung một lần nữa lại đẩy nhanh, đẩy mạnh cho việc chuyển dịch ô nhiễm mà hệ lụy
chính là môi trường của chính quốc gia mình.
1.3. Các vòng đàm phán của WTO và các Hiệp định đa phương (MEAs) có liên quan
đến bảo vệ môi trường và sự hưởng ứng của các nước
1.3.1. Vấn đề môi trường ra đời trước khi hình thành WTO:
Bước vào những năm đầu của thập kỷ 70, các nước ký kết Hiệp định chung về Thuế
quan và Thương mại (GATT) bắt đầu nhận thấy rằng các vấn đề môi trường cần được giải
quyết trong khuôn khổ GATT vì chúng liên quan đến thương mại. Sự khởi đầu này gắn liền
với Hội nghị về Môi trường Con người (Conference on Human Environment) được tổ chức tại
Stockhom năm 1972. Mối quan tâm ban đầu trong GATT là cần hạn chế ảnh hưởng của chính
sách môi trường đối với tự do hoá thương mại trong khuôn khổ của GATT. Tuy nhiên vấn đề
này vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa và vẫn còn được tranh luận trong các cuộc đàm phán
của GATT, nhất là ở vòng đàm phán Uruguay.
1.3.2. Diễn biến vấn đề môi trường qua các Hội nghị của WTO
Sau khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay, WTO được thành lập, hội nghị Bộ trưởng
WTO lần thứ nhất tại Singapore từ ngày 9-13/12/1996 đã ra tuyên bố ủng hộ những diễn biến
thảo luận về thương mại và môi trường (TM&MT) trong WTO vào thời điểm này, đồng thời
yêu cầu Uỷ Ban Thương mại Môi trường tiếp tục phát huy chức năng của mình trong việc xúc
tiến thảo luận các chủ đề liên quan tới lĩnh vực môi trường.
Tới Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 3 từ ngày 30/11- 3/12/1999 tại Seatle, Hoa Kỳ,
các Bộ trưởng tiếp tục thảo luận về vấn đề TM&MT trong khuôn khổ phiên thảo luận về các
4
ảnh hưởng tới quyền lợi của các Thành viên WTO không tham gia MEAs, đồng thời cũng làm
thay đổi quyền và nghĩa vụ của các thành viên theo các Hiệp định hiện hành của WTO.
1.3.3. Các hiệp định đa phương về môi trường (MEAs) liên quan tới thương mại
Trong hơn 20 năm qua có hơn 200 MEAs được biết đến. Một số ít là các hiệp ước toàn
cầu, mở ra cho tất cả các quốc gia. Rất nhiều các hiệp ước song phương không được biết đến,
ước lượng khoảng hơn 1000 hiệp ước. Điều này cho thấy một cấu trúc quốc tế về QLMT là
gồm nhiều loại khác nhau và nó phản ánh phạm vi khác nhau của các hiệp ước và tiêu chí của
các hiệp ước. Nhìn tổng thể chúng ta có thể nhận thấy rằng sự liên quan giữa thương mại và
các MEAs là không phổ biến, chỉ khoảng 1/10 các hiệp định có đề cập đến TM&MT đáng chú
ý. Nguyên nhân là do các đo lường của MEAs không ảnh hưởng quan trọng đến lưu chuyển
thương mại hay giá trị của các lưu chuyển thương mại mà chúng có ảnh hưởng thì không quan
trọng trên phương diện toàn cầu. Tuy vậy, những hiệp định này đã tồn tại có ảnh hưởng quan
trọng đến các dòng lưu chuyển thương mại quốc tế. Theo Uỷ ban TM&MT của WTO, chỉ có
khoảng 14 MEAs (Phụ lục 2) trong đó sử dụng các quy định và biện pháp thương mại. Bên
cạnh hệ thống phân loại này của WTO, chương trình môi trường của liên hiệp quốc (UNEP)
cũng đưa ra một danh mục khoảng gần 30 Hiệp định đa phương về môi trường trong đó có thể
có các quy định liên quan đến thương mại.
Nhìn chung trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu, ô nhiễm môi trường luôn là chủ
đề tranh luận nóng bỏng trên các diễn đàn quốc tế. Các nước có nhiều quan điểm khác nhau,
hầu hết đều phản ánh quyền lợi của họ trong thương mại quốc tế. Mặc dù chưa có nhiều tiến
triển nhưng một khi đã được đưa vào chương trình nghị sự đàm phán thì vấn đề môi trường
trong thương mại quốc tế đã được chính thức thừa nhận và tất yếu sẽ diễn biến và ảnh hưởng
đáng kể đối với các bên liên quan.
6
1.4. Nghiên cứu vấn đề chống ô nhiễm ở các nước và các bài học kinh nghiệm rút ra
cho phát triển các KCN Việt Nam ( những bài học thành công và thất bại )
1.4.1. Trung Quốc (TQ) với ô nhiễm môi trường và bài học “cái bắt tay hiệu quả
với cộng đồng”
Trung Quốc trong những năm gần đây được biết đến như một cường quốc với tốc độ
tăng trưởng kinh tế chóng mặt. Nhưng cùng với tăng trưởng kinh tế cao, tình trạng ô nhiễm
Hiện nay, Trung Quốc có hơn 1000 tổ chức hoạt động vì môi trường như vậy. Công chúng ở
đây có quyền kiểm soát, giám sát ô nhiễm và báo cáo xử lý cho lực lượng quản lý. Điều này
đã làm phát huy sức mạnh BV&QLMT từ phía người dân, khiến họ tích cực hơn trong công
tác chống ô nhiễm. Nhờ đó lượng nước thải, Oxigen từ hóa chất, Sunfur dioxit, khói và bụi
công nghiệp thải ra tính trên GDP đầu người vào năm 2004 giảm đáng kể lần lượt 58%, 72%,
42%, 55% and 39% kể từ năm 1995 ( theo: SCIO). Các thành phố ở TQ cũng kêu gọi đầu tư
từ khu vực tư nhân cho các hoạt động môi trường. Kể từ năm 2001, chính quyền các tỉnh đã
đưa ra kế hoạch tư nhân hoá các hoạt động cải tạo môi trường. Và đến nay, công tác xử lý
nước thải, chất thải rắn, chất thải công nghiệp và giao thông công cộng đang là các dịch vụ tư
nhân được phép đầu tư. Mục tiêu cuối cùng của việc làm này là để hướng tới việc “chính
quyền sẽ không cần phải đầu tư vào các lĩnh vực này nữa”.
1.4.2. Các “biện pháp cứng rắn” trong việc chống ô nhiễm môi trường tại
Singapore
Hiện Singapore được đánh giá là quốc đảo sạch vào bậc nhất thế giới, và điều này
không đến một cách ngẫu nhiên. Chính từ những hậu quả do sự công nghiệp hóa mạnh mẽ làm
gia tăng ô nhiễm không khí, rồi chất thải lỏng và chất thải rắn làm môi trường xuống cấp rõ rệt
vào ba bốn thập kỷ trong thế kỷ trước, đã làm Singapore sớm nhận thức được không có con
đường nào khác là phải tự mình thực hiện tốt các chương trình BVMT. Đến nay, một cách
nhìn toàn diện, chưa có nước nào có được môi trường đô thị tốt hơn Singapore. Đó là do đất
nước này có một chiến lược QLMT rất cứng rắn, thực hiện nghiêm chỉnh kế hoạch hoá việc sử
dụng đất đai, biết kiểm soát kế hoạch xây dựng và phát triển đô thị, đặc biệt là các KCN, KCX.
Và điều quan trọng là đặc biệt chú trọng quản lý hạ tầng cơ sở, đi đôi với việc ban hành luật và
kiểm tra giáo dục nghiêm ngặt. Singapore đã chọn “con đường tổng hợp” để kiểm soát mọi sự
8
phát triển về kế hoạch sử dụng đất đai, các giai đoạn kiểm tra, mở rộng và xây dựng mới nhằm
giảm thiểu những tác động gây ô nhiễm môi trường. Ưu điểm về các hệ thống thoát nước và
thu gom, xử lý chất thải tại đây đã loại trừ và giảm thiểu được nguy cơ ô nhiễm nước và đất
đai. Tất cả những biện pháp nêu trên đã phát huy tác dụng và làm cho quốc đảo này dần phục
hồi và hiện nay là nước được đánh giá là có một môi trường trong sạch nhất thế giới.
( Xem phụ lục 3 - Phân tích cách thức quản lý hiệu quả nhằm chống ô nhiễm môi trường tại
sát gắt gao. Các luật quy định trách nhiệm gây ô nhiễm được thông qua, nhiều dự án được tiến
hành để cải thiện hệ thống thoát nước cho phù hợp với tỉ lệ dân cư. Ngoài ra, chính phủ đã có
các biện pháp đối phó với nhiều hình thức ô nhiễm môi trường, trong đó có ô nhiễm tiếng ồn,
độ rung, rác thải, lún đất, các mùi khó chịu, ô nhiễm đất và ô nhiễm do hóa chất nông nghiệp...
Năm 1967, Luật cơ bản phòng chống ô nhiễm môi trường bắt đầu có hiệu lực, đề ra
những chính sách và nguyên tắc chung về kiểm soát ô nhiễm, đồng thời khuyến khích nỗ lực
làm sạch môi trường. Luật cơ bản nêu rõ trách nhiệm của chính phủ TW, các chính quyền địa
phương, các công ty, nhà máy, đồng thời quy định những tiêu chuẩn chất lượng môi trường,
vạch ra các chương trình kiểm soát ô nhiễm và giúp đỡ nạn nhân nhiễm bệnh do ô nhiễm. Rồi
luật Bảo tồn thiên nhiên được thông qua năm 1972, tạo cơ sở cho mọi biện pháp pháp lý
BVMT. Tuy nhiên, các luật chỉ có thể quy định mức ô nhiễm từ những nguồn đã được xác
định, còn ô nhiễm từ những nguồn mà con người không biết hoặc ít biết đến vẫn là điều đang
gây nhiều lo ngại ở Nhật Bản. Chẳng hạn ô nhiễm tiếng ồn ở các nhà máy, KCN, công trường
xây dựng, …; ô nhiễm nguồn nước do các đám mưa có nồng độ axit cao…
1.4.4. Bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển các KCN, KCX Việt Nam
Trên đây là một số kinh nghiệm chống ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển
kinh tế ở các nước Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản (xem thêm Phụ lục 4 : Kinh nghiệm
chống ô nhiễm công nghiệp của các nước Châu Âu). Nghiên cứu vấn đề ô nhiễm môi trường
và kinh nghiệm thực tế chống ô nhiễm công nghiệp ở các nước này, ta có thể rút ra những bài
học thực tế đối với Việt Nam như sau:
Trên thực tế trong nhiều năm qua, kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực, từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chúng ta đã và đang hướng tới một nền công nghiệp và
dịch vụ hiện đại trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của các KCN, KCX là nơi thu hút
10
lượng lớn đầu tư trong và ngoài nước, và là nơi tạo hàng ngàn việc làm cho người lao động.
Hoạt động của các KCN, KCX những năm qua đã khẳng định đường lối, chủ trương đúng đắn
của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KCX. Song
bên cạnh đó, do quá chú trọng mục tiêu kinh tế, đặt lợi nhuận lên hàng đầu, cộng với sự quản
lý lỏng lẻo từ phía các ban ngành, Nhà nước, không ít các CSSX, các KCN, KCX đã gạt đi sự
quan tâm đối với vấn đề XLCT, gây ô nhiễm môi trường nặng nề, đặc biệt tại 2 khu vực Hà
một trong số các nước đang phải đối mặt với thực trạng ô nhiễm nguồn nước, nguồn đất
nghiêm trọng mà nếu không sớm nhận thức và rút tỉa kinh nghiệm từ các nước đã trải qua việc
chống chọi và giải quyết tình trạng này thì những hệ lụy về môi trường sẽ rất khó lường trước.
Nền kinh tế dù có được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng cao (7-8%/năm) nhưng đây vẫn chưa
đủ để được gọi là phát triển bền vững bởi còn xét đến nhiều khía cạnh khác, trong đó có vấn
đề môi trường. Rút tỉa kinh nghiệm từ Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore là các nước lân cận
điển hình cho công tác đẩy lùi vấn nạn ô nhiễm công nghiệp thì, “sự quyết tâm thống nhất
trong Chính phủ”, “sự thực hiện cứng rắn và nghiêm ngặt các biện pháp” và “sự kêu gọi nhân
dân vào cuộc” chính là 3 yếu tố cốt lõi để giảm thiểu ô nhiễm do các KCN, KCX trong quá
trình phát triển gây nên. Nhận thức được vai trò của môi trường trong phát triển kinh tế, chúng
ta cũng đã có tính đến yếu tố này trong quy hoạch kinh tế đô thị, trong các KCN-KCX, nỗ lực
tiếp thu KHCN xử lý chất thải công nghiệp và ban hành các quy chế hoạt động, đầu tư có tính
toán đến môi trường và tổ chức phân cấp quản lý. Song, chính vì nhận thức chưa sâu sắc và
tình trạng quản lý buông lỏng nên thực tế có đi chệch hướng so với quy hoạch. Sự thành công
trong công cuộc đổi mới và thu hút mạnh mẽ lượng đầu tư nước ngoài vào trong nước là một
tín hiệu đáng mừng. Nhưng bên cạnh đó còn có một tín hiệu khác, tín hiệu kêu cứu từ môi
trường sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế sôi nổi. Một câu hỏi lớn đang đặt ra, phải
chăng chúng ta đang đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế?
12
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT TP.HỒ CHÍ MINH
2.1. Đặc điểm phát triển các KCN, KCX TP HCM trong tiến trình hội nhập và trong
sự tác động đến việc gây ô nhiễm môi trường
2.1.1. Vài nét khái quát về KCN, KCX trên địa bàn TP HCM:
Sau khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng, phần lớn tập trung vào lĩnh vực dịch vụ như khách
sạn, văn phòng làm việc ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài vào công nghiệp,
nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu gặp hai khó khăn chính, đó là: CSHT yếu kém;
thủ tục xin giấy phép đầu tư và triển khai dự án đầu tư phức tạp, mất nhiều thời gian. Trước
Qua 18 năm phát triển, các KCN, KCX TP.HCM đã thực hiện được những mục tiêu
kinh tế, chính trị của Chính phủ đề ra trên các mặt: thu hút vốn đầu tư, giải quyết việc làm, du
nhập kỹ thuật, kinh nghiệm, tăng năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ, góp phần tích
cực vào sự phát triển chung của thành phố. KCN, KCX đang trở thành động lực cho sự phát
triển, có vai trò dẫn dắt công nghiệp quốc gia, là địa bàn hấp dẫn với sức hút lớn làn sóng đầu
tư nước ngoài trên cả ba phương diện: nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị. Bình
quân 1 ha đất trong các KCX, KCN đóng góp ngân sách khoảng 40.000 USD/năm; góp phần
tích cực vào sự phát triển chung của thành phố. Tuy nhiên xét về khía cạnh môi trường, đặc
điểm phát triển của các KCN, KCX hiện là vấn đề cần được bàn luận vì trong đó yếu tố môi
trường và ô nhiễm môi trường dường như đang đối lập với tốc độ tăng trưởng của KCN, KCX
trong quá trình hội nhập.
Dưới đây là một số đặc điểm phát triển đúc kết được qua quá trình nghiên cứu trong
sự lồng ghép với vấn nạn ô nhiễm môi trường:
2.1.2.1. Các cơ sở công nghiệp, KCN, KCX đan xen các khu dân cư gây ô
nhiễm đến môi trường lân cận và đến môi trường của cả vùng
Ô nhiễm môi trường từ các CSSX công nghiệp
Theo số liệu được công bố tại hội thảo khoa học về “ BVMT và phát triển bền vững tại
Việt Nam” (Hà Nội, tháng 9/2003), thì TP. HCM có 28.573 cơ sở sản xuất, trong đó có gần
3.000 cơ sở gây ô nhiễm, riêng cơ sở gây ô nhiễm nặng phải di dời có gần 1.000. Tính đến
năm 2008, TP.HCM đã di dời 1.261 CSSX, chiếm gần 90% các xí nghiệp gây ô nhiễm trong
khu dân cư ra ngoại thành nhưng tình hình ô nhiễm vẫn diễn biến xấu. Như vậy, vẫn còn hơn
10% doanh nghiệp gây ô nhiễm nặng môi trường chưa di dời và đều là những doanh nghiệp
lớn gây ô nhiễm rất nặng nhưng chưa có giải pháp xử lý và hầu như tập trung tại các khu vực
các quận Tân Bình, Bình Tân, quận 6, quận 10. Có nhiều cơ sở công nghiệp nằm đan xen các
khu dân cư, nhất là khu vực lưu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm, Kênh Đen, Kênh Nhiêu Lộc -
Thị Nghè. Theo thống kê của dự án kênh Tân Hóa - Lò Gốm, chỉ riêng trong khu vực lưu vực
15
kênh khoảng 1.700 ha, có đến 30 cơ sở công nghiệp xen lẫn vào khu dân cư, và đa số trong số
đó là các cơ sở gây ô nhiễm.
Từ các cơ sở công nghiệp này nước thải công nghiệp không được xử lý, thải trực tiếp
đến hoạt động của các doanh nghiệp KCN và ảnh hưởng không tốt đến việc XLNT của các
KCN TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn do quá trình chuyển đổi chức năng sử dụng đất: các loại
đất khác thu hẹp, do bị chuyển đổi thành đất công nghiệp. Ở Bình Dương, những KCN phát
triển mở rộng đã trở thành những lò xả chất thải tàn phá những vườn tược trù phú cả trăm năm
nay ở vùng Lái Thiêu và dọc sông Sài Gòn. Điều này không phù hợp và không chấp nhận
được đối với quy hoạch kinh tế vùng.
2.1.2.2. Các cơ sở công nghiệp, KCN tập trung quá nhiều trong khu vực
trung tâm và các cửa ngõ vào TP. Hồ Chí Minh làm ô nhiễm tập trung và gia tăng ở mức
độ khó xử lý
Các cơ sở công nghiệp và các KCN, KCX phần lớn tập trung ven các quốc lộ 1A, 22,
13, 51… và gần cửa ngõ vào TP. HCM và các tỉnh lân cận TP. HCM trong bán kính từ 30km
đến 50km. Trong khi đó các tỉnh như Bình Phước, Tây Ninh, Tiền Giang có nhiều dư địa để
xây dựng KCN thì lại có rất ít KCN. Có nhiều nguyên nhân liên quan đến sự tập trung mật độ
cao các cơ sở công nghiệp trên địa bàn TP.HCM, nhưng chủ yếu là do những lợi thế về thị
trường, về dịch vụ sẵn có (ngân hàng, văn phòng); về đầu mối giao thông, cảng biển, hàng
không, các cửa ngõ đi các nước láng giềng và thế giới. Bên cạnh đó, một lý do cũng khá quan
trọng đó là sự đổi mới và năng động trong các chính sách thu hút đầu tư của thành phố.
Song sự tập trung quá gần thành phố và bám vào các trục quốc lộ, trong khi những
đường vành đai của thành phố còn quá ít này (hiện nay mới chỉ có đường vành đai Xa Lộ Đại
Hàn) đã tạo nên những luồng người và hàng ra vào và đi xuyên qua thành phố không những
gây ách tắc giao thông trong đô thị và còn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn cho cả
vùng( chưa kể đến các loại ô nhiễm khác).
17
Hình 2.2 – Vị trí phân bố các KCN, KCX trên địa bàn TP.HCM
( Xem thêm Phụ lục 5: Một số thông tin về các KCN, KCX trên địa bàn TPHCM tính đến cuối
năm 2008)
2.1.2.3. Đa số các KCN, KCX gần sông nước đề tiện lợi về vận tải và xả
nước thải cho nên ô nhiễm nguồn nước lan rất nhanh, rất xa.
Tính đến nay, TP.HCM có 15 KCX, KCN đang hoạt động với khoảng 949 doanh
nghiệp, trong đó hầu như các KCN đều nằm trong các lưu vực sông chính và là nguồn gây ô
su sẽ lẫn trong mùi nước mắm và ngược lại,…rất khó chịu và mất mỹ quan). Hơn nữa loại ô
nhiễm khác nhau phải sử dụng công nghệ xử lý ô nhiễm khác nhau làm cho công tác xử lý tốn
19
kém và không hiệu quả. Một thực tế cho thấy là dù biết như vậy nhưng hầu như các KCN-
KCX vẫn chưa xem trọng và đánh giá cao về vấn đề này.
2.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển các KCN, KCX trên
địa bàn TP HCM
2.2.1. Thực trạng ô nhiễm tại các KCN, KCX TPHCM trước 1/7/2006
Từ 02/7/2002 đến trước ngày 1/7/2006, công tác QLNN về BVMT tại các KCN, KCX
do HEPZA đảm trách. Tính đến cuối năm 2005, TP.HCM có tất cả 12 KCN, 3 KCX, 1 khu
công nghệ cao và gần 23.000 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ. KCX Tân Thuận là đơn vị tiên phong
trong công tác BVMT và xây dựng nhà máy XLNT tập trung (khởi công tháng 3/1996) với
công suất thiết kế 10.000 m
3
/ngày. Tiếp theo từ năm 1999 đến năm 2005, 05 KCX và KCN
bao gồm: Linh Trung, Linh Trung 2, Lê Minh Xuân, Tân Tạo (Giai đoạn1), Tân Bình tiếp tục
tiến hành xây dựng và hoàn thành nhà máy XLNT tập trung.
Tuy nhiên, ngay cả ở những KCN đã có trạm XLNT tập trung, thì chất lượng thực tế
của các công trình này vẫn còn hạn chế, chưa đạt được những tiêu chuẩn quy định, gây ô
nhiễm môi trường, đặc biệt là ở một số KCN tập trung các ngành công nghiệp nhẹ như dệt
may, thuộc da, hoá chất… Theo đại diện của BQL tại mỗi KCN, mỗi lần kiểm tra luôn có
nhiều DN vi phạm việc xả thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm. Doanh nghiệp đầu tư xây
dựng hệ thống xử lý nhưng không vận hành vì tiêu hao thêm nhiều chi phí. Theo ước tính, mỗi
KCN lúc bấy giờ thải khoảng từ 3.000-10.000 m
3
nước thải/ngày đêm. Riêng lượng chất thải
rắn công nghiệp của thành phố đo được khoảng 1.500 - 1.800 tấn/ngày (nguồn: BQL KCX,
KCN TPHCM). Phần lớn chất thải công nghiệp có khả năng tái sử dụng nên được thu gom,
phân loại và tái chế; các CTNH được xử lý tiêu huỷ bằng phương pháp đốt hoặc đóng rắn,. . . ;
phần còn lại (không có khả năng tái chế hoặc CTNH) được nhập chung chôn lấp cùng chất