LỜI NÓI ĐẦU
Đứng trước xu thế toàn cầu hoá hiện nay Việt Nam không có con đường
nào khác ngoài con đường hội nhập kinh tế quốc tế. Lịch sử phát triển của thế
giới chỉ ra rằng chỉ có hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu thương mại
quốc tế thì một quốc gia mới có thể phát triển hưng thịnh, mới có thể bắt kịp với
đà phát triển chung của thế giới.
Việt Nam đã gần như hoàn tất quá trình đàm phán chỉ còn một số khâu
nhỏ nữa trong quá trình đàm phán với Mỹ, EU, Austraylia nữa là Việt Nam có
thế trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO trong
thời gian ngắn tới.
Chúng ta vui mừng và háo hức đón chờ sự kiến trọng đại mang tính bước
ngoặt trong tiến trình phát triển kinh tế nước nhà. Bên cạnh đó chúng ta cũng
phải nhận thức được những cơ hội và thách thức lớn lao mà chúng ta sẽ gặp
phải khi hoà mình vào vòng luân chuyển WTO để từ đó có những bước đi và
hành động đúng đắn. Một trong những cơ hội và thách thức lớn đặt ra với Việt
Nam là vấn đề môi trường trong thương mại quốc tế.
Trong phạm vi nghiên cứu đề cập đến: “Nâng cao nhận thức của nhà quản lý
và doanh nghiệp về bảo vệ môi trường trong thời kì hội nhập”.
I. LÝ LUẬN
1 . Vai trò của môi trường:
Trước khi đề cập đến vai trò của môi trường chúng ta cùng xem qua về
khái niệm môi trường. Theo “Luật bảo vệ môi trường” của Việt Nam: “môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát
triển của con người và thiên nhiên”. Như vậy môi trường có 4 vai trò chính đó
là:
- Là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động
sản xuất của con người
- Là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và
Bên cạnh các rào cản về lao động, hàng rào thuế quan thương mại thế giới
còn có rào cản về môi trường được gọi là “rào cản xanh”. “ Rào cản xanh” được
hiểu là các quy định về môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động
xuất nhập khẩu giữa các quốc gia. Bên cạnh yếu tố tích cực là bảo vệ môi trường
nó còn là một công cụ phi thuế quan cực kỳ hiệu quả của các nước phát triển và
đang phát triển ở trình độ cao để bảo hộ hàng hoá trong nước. Đây là một vấn đề
nan giải được đặt ra với nước ta. Thực tế đã chỉ ra Việt Nam ngày càng phải đương đầu
với rất nhiều các yêu cầu về môi trường từ các nước phát triển. Bằng chứng là tôm xuất
khẩu củaViệt Nam bị Mỹ, cộng đồng châu Âu từ chối, bị trả lại do không đạt tiêu chuẩn
về vệ sinh an toàn thực phẩm. Thịt xuất khẩu bị đe doạ vì nạn Sar và H5N1. Hậu
quả xuất khẩu bị đe doạ vì những tin đồn về chất diệt cỏ dioxin.... Không còn
nghi ngờ gì, khi Việt Nam gia nhập WTO, các nhu cầu về môi trường còn
nghiêm ngặt hơn và đất nước cần chuẩn bị sẵn sàng đế đổi phó với các vấn đề
liên quan đến vấn đề môi trường - thương mại. Về phía Việt Nam, chúng ta cũng
cần sử dụng một cách hiệu quả hơn “Rào cản xanh” đế kiểm soát xuất, nhập
khẩu các sản phẩm liên quan đến vấn đề môi trường bảo vệ các ngành sản xuấttrong
nước cũng như hạn chế tối đa các ngoại ứng tiêu cực do các doanh nghiệp
nước ngoài hoạt động sản xuất tại Việt Nam.
3. Các yêu cầu đặt ra với Việt Nam
Thứ nhất: Phải đáp ứng được các yêu cầu về môi trường để vượt qua
“rào cản xanh” mà nhiều nước đang áp dụng đồng thời năng lực bảo vệ môi
trường trong nước cũng phải được nâng cao để đáp ứng được các biện pháp
quản lý sắp tới sẽ phải áp dụng chung cho cả hàng hóa trong nước cũng như
hàng hoá nhập khẩu.
Thứ hai: Do sự phức tạp của rào cản thương mại liên quan đến vấn đề
môi trường cho nên đòi hỏi các cơ quan trong nước và các doanh nghiệp phải
nắm vững các quy định liên quan đến vấn đề môi trường để đấu tranh bảo vệ
quyền lợi của mình đồng thời cũng cần nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu về
vấn đề môi trường như ô nhiễm không khí, nguồn nước thải của các thành phố,
tuy không khí ở những vùng nông thôn vẫn chưa bị ô nhiễm nhưng không khí tại
những công trình xây dựng đếu có lượng So2 và một số chất quá mức cho phép.
Ô nhiễm bụi nhiều nơi bị ô nhiễm trầm trọng tới mức báo động. Nồng độ bụi
trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh trung bình cao hơn tiêu
chuẩn cho phép từ 2-3 lần.
Đặc biệt ở các nút giao thông thì nồng độ bụi cho phép cao hơn tiêu chuẩn từ 2-5
lần. Quá trình phát triển của các khu đô thị và quá trình hội nhập đang đặt ra vấn đề về
môi trường như: ô nhiễm môi trường tại các chợ đầu mối nhất là những rác thải rắn và
rác thải lỏng. Những rác thải phát sinh do giết mổ và hoạt động buôn bán thuỷ hải
sản... Bên cạnh đó ô nhiễm do rác thải của các bệnh viện, ô nhiễm do lạm dụng
hoá chất trong sản xuất nông nghiệp, ô nhiễm do qua trình vận tải, chuyên chở
dầu do sự cố ngày càng gia tăng. Cũng như việc xử lý rác chủ yếu bằng biện
pháp chôn lấp là một trong những nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm nước
ngầm...
2- Về cơ chế chính sách:
Hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ, việc gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO chúng ta đã phải chỉnh sửa và bổ sung hơn 100 luật. Hơn nữa luật
của chúng ta là luật khung vì thế không thể thực hiện được khi chưa có những
văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành. Chính vì thế đã gây ra rất nhiều những
khó khăn cho cả doanh nghiệp cũng như những người làm công tác quản lý môi
trường.
Cơ chế chính sách, nhìn nhận từ phía doanh nghiệp: về việc giải quyết các
vấn đề thương mại và môi trường là một vấn đề rất bức xúc với các doanh
nghiệp liên doanh. 37% số doanh nghiệp liên doanh cho rằng khó khăn lớn nhất
mà họ gặp phải là cơ chế chính sách thiếu đồng bộ, còn nhiều bất cập, 32% số
kết đi theo xu hướng phát triển bền vững, vẫn chưa thực sự được chú ý trong các
vòng đàm phán và chuẩn bị cho tiến trình gia nhập WTO. Dự thảo luật bảo vệ
môi trường còn đang được soạn thảo. Dư thảo luật bảo vệ môi trường sửa đổi
năm 2005 cũng chưa phản ánh hết các yêu cầu của WTO về môi trường và
thương mại.
4- Về phía các doanh nghiệp:
Thứ nhất: Nhận thức của doanh nghiệp về mối quan hệ giữa thương mại
và môi trường. Cho đến nay việc sản xuất các sản phẩm xanh chưa được quan
tâm đúng mức. Một số nhà quản lý điều hành doanh nghiệp còn chưa được trang
bị kiến thức hoặc hiểu biết còn hạn chế về những yêu cầu xanh đối với sản
phâm. Khảo sát về hiện trạng quản lý môi trường ở một số doanh nghiệp điển
hình tại Việt Nam cho thấy, hầu hết các công ty nhà máy đều chưa đạt được tiêu
chuấn, quy định về môi trường.
Thứ hai: Hầu hết các công ty nhà máy đều chưa có bộ phận chuyên trách
về môi trường. Các cán bộ được giao thực hiện công tác về môi trường không cóchuyên
môn sâu trong lĩnh vực này hoặc chỉ mới tham gia các khoá đào tạo ngắn
hạn về môi trường. Người chịu trách nhiệm thêm nhiều công tác chuyên môn
khác như các vấn đề kỹ thuật, an toàn lao động, nhân sự...dẫn đến tỷ lệ thời gian
giành cho công tác này chỉ chiếm khoảng 40-50%. Thực trạng này cho thấy
công tác quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường do các co quan quản lý môi
trường nhà nước và địa phưong yêu cầu bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện
chưa thực sự đáp ứng với mức độ chuyên nghiệp theo yêu cầu bảo vệ môi
trường mà nhiều nước đặt ra đối với hàng nhập khẩu.
Thứ ba: về đầu tư cho công nghệ xử lý môi trường. Theo quá trình kháo
sát từ tháng 9 đến tháng 12/2003 tại 526 doanh nghiệp tại 18 tỉnh thành phố trong
cả nước đã chỉ ra nhiều thực trạng trong vấn đề môi trường cũng như việc giải
quyết vấn đề môi trường tại doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thiếu vốn đế đầu tư
cho vấn đề xử lý môi trường. Điều đó thế hiện rõ nét nhất với những doanh
các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn rất lớn.
5- Về phía cộng đồng dân cư:
Những năm gần đây, với xu thế phát triển chung của đất nước, hoạt động
đô thị hóa, công nghiệp hóa với tốc độ rất nhanh. Điều đó cũng đồng nghĩa với
môi trường ở các thành phố lớn như: Hà Nội, thành phố HCM cũng như các tỉnh
thành phố có tốc độ đô thị hoá nhanh, bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng.
Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường và trình độ khoa học công
nghệ áp dụng cải thiện và phòng ngừa ô nhiễm môi trường còn hạn chế, kinh
nghiệm quản lý môi trường đô thị và công nghiệp còn bất cập, ý thức bảo vệ môi
trường của người dân còn thấp. Thực trạng này đòi hỏi các địa phương cần xác
định cho đúng những thách thức môi trường hiện nay, nguyên nhân của vấn đề
và nghiên cứu tìm ra các giải pháp phù hợp nhất đế khắc phục ô nhiễm, suy
thoái môi trường, đảm bảo phát triển bền vững.
* Ngành dệt may Việt Nam
Dệt may là một trong những nghành công nghiệp sản xuất, sản xuất quan
trọng của nền kinh tế quốc dân. Với khả năng thu hút lao động lớn, đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và phục vụ xuất khẩu đem lại hiệu quả kỉnh tế
cho đất nước.
Với gần 2000 doanh nghiệp đang hoạt động, đem lại nguồn ngoại tệ xuất
khâu lớn thứ hai, đạt 4,83 tỷ USD trong năm 2005, ngành dệt may được coi là
ngành mũi nhọn của nền kinh tế xuất khẩu sang hon 100 nước.
Đến nay ngành dệt may sử dụng gần 2 triệu lao động, thu thút 37,7% lực
lượng lao động trong cả nước, đang chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới
mà mục tiêu trước nhat là WTO.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế cũng như thực tế của chính
ngành dệt may trong thời gian qua cho thấy ngành dệt may nước ta sẽ phải đối
- Việt Nam trong việc sản xuất các sản phẩm xanh:
Có một thực tế là cho đến nay ngành dệt may cho đến nay viêc sản xuất
các “sản phẩm xanh” chưa được quan tâm đúng mức :
Một số nhà quản lý và điều hành ở Việt Nam chưa được trang bị kiến thức
hoặc có ít hiểu biết cập nhập về nhũng yêu cầu “xanh” đối với sản phẩm dệt
may xuất khẩu.
Các danh nghiệp nhuộn vẫn còn sử dụng một số hóa chất, chất phụ trợ,
thuốc nhuộm và công nghệ chưa tiên tiến, hiện đại gây ô nhiễm nặng tới môi
trường nước thải. Chúng ta có thể đưa ra ví dụ :
Trong hồ sợi ngày càng sử dụng nhiều PAV làm tăng tải lượng COD
trong nước thải và PVA khó xử lý vi sinh.
Kỹ thuật “giảm trọng” polieste bằng kiềm được áp dụng phổ biến làm
sản sinh một lượng terephtara và glycol trong nước thải sau sử dụng 5-6 lần
đưa COD có thể lên tới 80000mg/l.
Nước thải trong các công ty , nhà mảy hiện nay khoản 300-400 mg/l COD
(đủ vượt tiêu chuẩn nuớc thải loại B từ 3-4 lần). Dự đoán sẽ tăng lên khoảng
700-800 mg/l và có thể tăng hơn nữa trong tương lai.
Nếu như tình hình ô nhiễm môi trường trước tiên là ô nhiễm nước thải
không được kiểm soát thì các doanh nghiệp dệt nhuộm nói riêng và ngành dệt
may nói chung phải đương đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng, phải tốn rất
nhiều kinh phí cho việc xử lý mới đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường quy
định và để phát triển sản xuất, xuất khẩu bền vững thỏa mãn các yêu cầu của
tiêu chuẩn xanh về môi trường.
Kế hoạch đầu tư ngành công nghiệp phụ trợ triển khai quá chậm cũng là
vấn đề mà không ít doanh nghiệp dệt may lo lắng khi hội nhập. Bởi vì nó có vai
trò quan trọng -> sản xuất các sản phẩm xanh
- Giải pháp
Sau đây là một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng
môi trường.
Trên cơ sở đó các cơ quan chức năng sớm hoàn thiện các quy định về việc
quản lý xuất nhập khẩu(XNK) những hàng hoá nhạy cảm với môi trường như:
•
Các quy định về XNK các sản phảm đã bị cấm ở thị trường nước ngoài.
•
Các quy định về nhãn hiệu hàng hoá thân thiện với môi trường.
•
Các quy định về thuế, phí môi trường.
•
Các quy định về các chứng cứ khoa học cho việc áp dụng các biện
pháp hạn chế thích hợp với quy định của môi trường.
Đặc biệt, nhanh chóng ban hành các danh mục hàng hoá thuộc diện quản lý.
1.2 Nghiên cứu kinh nghiệm phối hợp giữa chính sách thương mại và
môi trường của các nước đang phát triển đặc biệt là Trung Quốc đã là thành viên
của WTO. Cho đến nay đã có nhiều tranh chấp về thương mại trong khuân khổ
WTO gắn với vấn đề môi trường. Nghiên cứu kỹ các tranh chấlap này sẽ giúp Việt
Nam bảo vệ hàng xuất khẩu, vượt qua rào cản khi bị các nước khác áp dụng hạn
chế hoặc cấm nhập khẩu với những lý do gắn với môi trường.
Mặt khác kinh nghiệm đó giúp chúng ta ngăn chặn hợp lý hàng nhập khẩu
vào Việt Nam gây tác động xấu tới môi trường.
Hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao kỹ năng và trình
độ cho người lao động trong việc tuân thủ các quy trình sản xuất thân thiện với
môi trường.
2 Phía doanh nghiệp:
Doanh nghiệp làm thế nào đế có thể vượt qua các rào cản phi thuế quan
trong thương mại quốc tế.
2.1 Vấn đề quan điếm, nhận thức:
Các doanh nghiệp và các nhà quản lý cần phải hiểu trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, việc đối mặt với các rào cản NTB và TBT là một điều tất
yếu, không thể tránh được, phải nhận thức là hội nhập không chhỉ là cạnh tranh
mà còn là có sự họp tác quốc tế có lợi cho tất cả các bên tham gia.
Phải chủ động tìm hiểu và thích nghi với những yêu cầu mới của quá trình
hội nhập, phải sẵn sàng đối phó với các rào cản thương mại đang ngày càng
phức tạp và tinh vi hơn.
Yêu cầu các nhà lãnh đão doanh ngiệp phải có một sự hiểu biết đầy đủ và
tường tận về các loại rào cản trong thương quốc tế và những tác động của nó đến
những hoạt đống sản xuất kinih doanh và các sản phẩm của các doanh nghiệp
của mình, cần phải hiếu rằng các yêu cầu của hàng rào TBT không chhỉ đòi hỏi
cao về mức độ đáp ứng mà còn hết sức phức tạp về thủ tục hành chính.
Phải cập nhập thông tin về tình hình, diễn biến và dự báo về các rào cản
và cả những biện pháp khắc phục mang tính nguyên tắc, cụ thể theo tập quán
quốc tế, sẵn sàng đối phó với chúng.
2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh cùa doanh nghiệp:
Đe vượt qua rào cản thương mại, từng doanh nghiệp phải nâng cao năng
lực cạnh tranh của mình, nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
trên quốc tế.
Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dược đánh giá qua các tiêu chí
liên quan đến các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, trình độ khoa học
Tiêu chuấn OHSAS 180001: quản lý an toàn sức khoẻ nghề nghiệp.
Việc áp dụng và được chứng nhận phù hop với các tiêu chuẩn quốc tế sẽ
giúp cho các doanh nghiệp duy trì được các hoạt động cải tiến, đạt được sự thoã
mãn khách hàng và nhất là sẽ tạo được một sự bình đảng trong thương mại quốc
tế. Nâng cao được sức cạnh tranh của hàng hoá, vì vậy mới tạo ra điều kiện
vững chắc đế vượt qua rào cản thương mại quốc tế.
2.3 Đấy mạnh các hoạt động nghiên cứu thị trường:
Để nắm vững thông tin và chủ động vượt qua các rào cản thương mại, các
doanh nghiệp cần phải có biện pháp nghiên cứu thị trường có hiệu quả hơn.
Chuẩn bị tốt và chuyên nghiệp các đội ngũ nhân viên nghiên cứu thị
trường.
Thiết lập mối quan hệ với các sứ quán việt Nam ở nước ngoài đế có thể
thu thập thông tin và có sự hồ trợ, bền vững cần thiết trong quá trình kinh doanh
ở nước ngoài.
Khai thác sức mạnh của các hiệp hội người Việt Nam ở nước ngoài để
nắm bắt được những quy định và pháp luật, thị hiếu và tập quán tiêu dùng của
khách hàng tại thị trường nhập khẩu.
2.4 Tổ chức các hiệp hội:
Trước áp lực của thị trường nước ngoài về nhập khẩu, chúng ta phải có sự
liên kết giữa doanh nghiệp xuất khẩu cùng ngành nghề, hình thành các hiệp hội
ngành nghề đế nâng cao năng lực sản xuất và xuất khẩu, liên kết đấu tranh hoặc
chủ động bàn bạc để cùng thống nhất đối phó với các rào cản ở nước ngoài.
Trên thực tế chúng ta thường đối mặt với những vụ kiện, tranh chấp
thương mại do hiệp hội các nhà sản xuất hoặc kinh doanh ở nước ngoài phát
động. Vì vậy củng cố và nâng cao vai trò các hiệp hội cũng là một trong những
công cụ hết sức cần thiết.