ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM VĂN HÙNG
HỆ MỤC TIÊU CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM VĂN HÙNG
HỆ MỤC TIÊU CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số:
60 22 85
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Văn Oánh
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
THỜI KỲ ĐỔI MỚI................................................................................ 67
3.1. Các căn cứ đề xuất giải pháp............................................................................. 67
3.1.1. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm giảm sút lòng tin
của nhân dân đối với Đảng .................................................................... 67
3.1.2. Xuất hiện xu hướng hạ thấp vai trò quản lý của Nhà nước, nhất là
trong lĩnh vực kinh tế ............................................................................ 68
3.1.3. Nhu cầu chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế tạo sự phát triển
bền vững cho đất nước .......................................................................... 69
3.1.4. Lý luận về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và hiệu quả của kinh
tế nhà nước (trực tiếp là doanh nghiệp nhà nước) còn nhiều cách
nhận định và đánh giá khác nhau .......................................................... 70
3.1.5. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở nước ta hiện
nay đạt hiệu quả chưa cao ..................................................................... 71
3.2. Hệ giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới........................................................ 72
3.2.1. Nhóm giải pháp về chính trị ................................................................... 72
3.2.2. Nhóm giải pháp về kinh tế ..................................................................... 84
3.2.3. Nhóm giải pháp về văn hoá - xã hội ...................................................... 87
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 94
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
lượng sản xuất hiện đại là nền tảng; phát triển văn hoá, giáo dục... là những mục
tiêu quan trọng được V.I.Lênin và Đảng Bônsêvich Nga đặc biệt quan tâm nhằm
góp phần xây dựng một nước Nga xã hội chủ nghĩa hùng cường.
Trên hành trình đi tìm đường cứu nước, tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái
Quốc đã tiếp cận “Luận cương” của V.I.Lênin. Người đi đến khẳng định: “Chỉ
có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp
bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Hội nghị thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam (02/1930) đã thông qua “Cương lĩnh chính trị đầu
tiên” của Đảng, trong đó chính thức ghi nhận mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng
nước ta là: “...làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội cộng sản” [48, tr. 1].
Qua từng thời kỳ lịch sử, nhận thức về chủ nghĩa xã hội được Đảng ta và
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng bước làm rõ nhưng luôn dựa trên sự kiên định trước
sau như một mục tiêu: “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Nhờ đó,
chúng ta đã từng bước vượt qua khó khăn, trở ngại, hoàn thành thắng lợi công
cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước,
tạo đà tiếp tục tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Và trong điều kiện
mới của lịch sử dân tộc, nhận thức về chủ nghĩa xã hội tiếp tục có những bổ sung,
hoàn thiện. Đại hội VI của Đảng (1986) đã đặt nền móng quan trọng cho sự hình
thành nhận thức mới của toàn Đảng, toàn dân ta về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Tổng kết 5 năm đổi mới, Đại hội VII
của Đảng (1991) đã thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội” trong đó nêu lên 6 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà
nước ta đang xây dựng. Đại hội VIII (1996), IX (2001) và X (2006) của Đảng
tiếp tục bổ sung và hoàn thiện nhận thức mới về công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước ta trên nhiều nét cơ bản gắn với những mục tiêu cụ thể. Đảng đã
2
lịch sử cụ thể ở nước ta, góp phần mang lại những thành tựu bước đầu của công
cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm vừa qua, ở Việt Nam có nhiều công trình khoa học, sách báo,
tạp chí của các tác giả đã công bố về vấn đề lý luận và thực tiễn công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Với những cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã nêu
lên nhiều vấn đề vừa mang tính quy luật chung, vừa mang tính đặc thù của quá
trình đó mà đề tài cần tham khảo và kế thừa. Một số công trình tiêu biểu, như:
- Trần Nhâm (Chủ biên): “Có một Việt Nam như thế: Đổi mới và phát
triển”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. Các tác giả đã làm sáng tỏ các
luận cứ khoa học và thực tiễn của đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của
Đảng và Nhà nước ta, khẳng định những thành tựu to lớn của 10 năm đầu đổi
mới và trình bày các định hướng phát triển cho thời kỳ mới.
- Nguyễn Đức Bình (Chủ nhiệm): “Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KHXH
01.01), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Đây là công trình nghiên cứu khá
công phu và sâu sắc về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Các tác giả đã đề cập tới con đường cứu nước và giải phóng dân tộc
gắn với bước đột phá về đường lối cứu nước mà Nguyễn Ái Quốc vạch ra để dẫn
dắt dân tộc ta đến những thắng lợi lịch sử. Đồng thời, các tác giả trình bày quá
trình đổi mới tư duy, cách thức tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
hiện nay, từ đó vạch ra phương hướng và nội dung cơ bản của việc phát triển
kinh tế - xã hội và văn hoá, đổi mới hệ thống chính trị.
- Tập thể tác giả: “Việt Nam 20 năm đổi mới”, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2006. Thông qua tác phẩm, các tác giả đã tổng kết một số vấn đề lý luận
- thực tiễn của chặng đường 20 năm đổi mới đất nước, phân tích những thành tựu
4
- Nguyễn Quốc Phẩm, Đỗ Thị Thạch (Đồng chủ biên): “Một số khía cạnh
nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”,
Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2010. Các tác giả đã tập trung làm rõ cơ sở
lý luận và thực tiễn của những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống xã hội, qua đó đưa ra
một số đánh giá về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội X và những nội dung cần
bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 của Đảng ta.
- Hoàng Chí Bảo: “Chủ nghĩa xã hội hiện thực và quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012. Trên cơ sở
phân tích, đánh giá về lịch sử và lý luận, thực trạng và triển vọng, giá trị của chủ
nghĩa xã hội hiện thực; về đặc điểm của con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, tác giả khẳng định quá độ
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn
đúng đắn, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, phù hợp với quy luật
khách quan và thực tiễn cách mạng Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của
toàn dân ta. Đồng thời, tác giả cũng gợi mở nhiều vấn đề cần nghiên cứu, tổng
kết nhằm làm sáng tỏ những nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Các công trình khoa học, sách báo nói trên tuy nội dung rất phong phú
nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu có tính chất chuyên sâu đề tài hệ mục
tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới. Vấn đề đó mới chỉ được
các nhà lý luận, các nhà hoạt động chính trị đề cập ở những mức độ nhất định,
phản ánh những khía cạnh cụ thể. Lựa chọn đề tài này, tác giả luận văn tiếp thu
kết quả nghiên cứu của những người đi trước và mong muốn bổ sung được
những ý kiến, đề xuất làm sáng tỏ hơn nội dung của đề tài, đóng góp thêm cho
công tác nghiên cứu lý luận.
6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng về chủ nghĩa xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp, thống
kê, khái quát hóa, gắn lý luận với thực tiễn...; kế thừa các công trình nghiên cứu
của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
6. Đóng góp về khoa học của luận văn
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các tác giả trước,
đồng thời dựa vào quá trình phân tích về mặt lý luận và tổng kết thực tiễn công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, luận văn bước đầu hệ
thống hóa sự thống nhất biện chứng trong quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; làm rõ quá trình
Đảng ta từng bước phát triển nhận thức và hiện thực hóa các mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay.
Trên cơ sở đó, tác giả khuyến nghị một số giải pháp góp phần thực hiện mục tiêu
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho việc
nghiên cứu, giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về chủ nghĩa xã hội trong các trường đại học, cao đẳng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được bố cục thành 3 chương, 6 tiết:
8
Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội với tính cách là một trào lưu tư tưởng, lý luận,
phản ánh lý tưởng giải phóng đa số nhân dân lao động; được nảy sinh, phát triển
qua hàng ngàn năm ở khắp các quốc gia, dân tộc. Do đó, nó mang giá trị nhân
văn sâu sắc và rộng lớn.
Thứ hai, chủ nghĩa xã hội với tính cách là một khoa học, hiểu theo nghĩa
hẹp là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin, là bộ phận lý luận
10
chính trị - xã hội. Xét theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học là hệ tư tưởng
của giai cấp công nhân, do đó cũng đồng nghĩa với chủ nghĩa Mác-Lênin. Lênin
viết: “Hệ tư tưởng của giai cấp vô sản - học thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa
học, tức là chủ nghĩa Mác” [32, tr. 336]. Đó là khoa học nghiên cứu tổng hợp
vấn đề sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Nội dung sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân ở các giai đoạn lịch sử, ở các quốc gia, những điều kiện
khách quan và tiền đề chủ quan để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch
sử của mình...
Thứ ba, chủ nghĩa xã hội với tính cách là một phong trào thực tiễn, phong
trào đấu tranh của nhân dân lao động chống lại các giai cấp thống trị, chống chế độ
tư hữu, áp bức, bóc lột, giành dân chủ; trong đó phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế là phong trào mang tính chất xã hội chủ nghĩa đầy đủ nhất, sâu sắc nhất.
Thứ tư, chủ nghĩa xã hội với tính cách là một chế độ xã hội hiện thực với
những đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá... đảm bảo cuộc sống ngày
càng cao cho mọi thành viên của xã hội [70, tr. 185]. Đó là giai đoạn đầu (giai
đoạn thấp) trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Từ các phương diện tiếp cận trên và từ nội dung nghiên cứu của luận văn,
tác giả luận văn quan niệm một cách khái quát: Chủ nghĩa xã hội là một chế độ
xã hội do nhân dân xây dựng về mọi mặt, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân thông qua đảng của nó, nhằm xoá bỏ chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất
công, nghèo nàn; mang lại dân chủ, hoà bình, ấm no, tự do, hạnh phúc và tạo
sản giống như một nhà tự nhiên học đặt, chẳng hạn, vấn đề tiến hoá của một
giống sinh vật mới, một khi đã biết nguồn gốc của nó và định được rõ rệt hướng
của những biến đổi của nó” [33, tr. 104].
Sinh thời, C.Mác và Ph.Ăngghen coi hình thái kinh tế - xã hội cộng sản
chủ nghĩa là một cơ thể xã hội vận động và biến đổi không ngừng. Các ông kiên
quyết đấu tranh chống những biểu hiện lãng mạn và duy tâm trong việc mô tả xã
12
hội tương lai. Vì thời C.Mác, cách mạng xã hội chủ nghĩa - C.Mác thường gọi là
cách mạng vô sản - chưa giành được thắng lợi, tức là chưa có thực tiễn xã hội
chủ nghĩa, cho nên khi dự báo về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, C.Mác
và Ph.Ăngghen không xác định trước những hình thức cụ thể của nó, không
muốn vẽ bức tranh tỉ mỉ với những chi tiết về những quan hệ của nó mà chỉ đề ra
những luận điểm có tính chất phác hoạ về tính tất yếu ra đời của hình thái kinh tế
- xã hội cộng sản chủ nghĩa, về những phương hướng phát triển chủ yếu và
những đặc trưng tiêu biểu của xã hội đó. Hai ông đã nhìn thấy trước rằng xã hội
mới phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ trên con đường tiến lên chủ
nghĩa cộng sản. Và với tính cách là một chế độ xã hội, nó không thể trực tiếp
sinh thành trong lòng chế độ tư bản.
1.1.2.1. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng giai cấp công nhân,
nhân dân lao động ở tất cả các dân tộc và giải phóng xã hội về phương diện
chính trị
Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen
chỉ ra mục tiêu và con đường thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội phải trải qua
hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn giai cấp vô sản phải tiến hành cách
mạng để “tự xây dựng thành giai cấp thống trị”, là giai đoạn có mục tiêu “giành
lấy dân chủ”. Giai đoạn thứ hai tiếp ngay sau đó là giai đoạn “giai cấp vô sản sẽ
dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản
Ph.Ăngghen xem giai đoạn thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là “giai
cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị”, là giai đoạn “giành lấy dân
chủ”.
Sau khi đã giành được chính quyền về tay giai cấp mình, thiết lập Nhà
nước chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân phải tiến hành xây dựng Nhà nước
chuyên chính vô sản thành công cụ để thực hiện cải biến cách mạng toàn diện.
Nhà nước ấy sẽ từng bước xoá bỏ toàn bộ những tàn tích của xã hội tư bản, đồng
thời tổ chức, xây dựng chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa,
14
mang lại tự do, dân chủ thực sự và nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân,
trong đó có giai cấp công nhân.
1.1.2.2. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng giai cấp công nhân,
nhân dân lao động ở tất cả các dân tộc và giải phóng xã hội về phương diện kinh
tế, xoá bỏ bóc lột
Một trong những giá trị nổi bật của lý luận mácxít, là việc C.Mác và
Ph.Ăngghen đã phác hoạ ra mô hình xã hội mà ở đó mục tiêu cao nhất là con
người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có điều kiện phát triển toàn diện.
Xét về phương diện kinh tế, mô hình đó dựa trên nguyên tắc: Sau khi
giành được chính quyền, với bộ máy nhà nước trong tay, giai cấp công nhân sẽ
từng bước xoá bỏ chế độ tư hữu - nguồn gốc của mọi áp bức, bất công. C.Mác và
Ph.Ăngghen quan niệm rằng, mọi cuộc cách mạng xã hội nhằm lật đổ chế độ xã
hội cũ và thiết lập chế độ xã hội mới bao giờ cũng phải “đưa vấn đề chế độ sở
hữu lên hàng đầu, coi đó là vấn đề cơ bản của phong trào, không kể là nó có thể
phát triển đến trình độ nào” [45, tr. 646]. Vì vậy, theo các ông, thủ tiêu chế độ tư
hữu là một cách nói vắn tắt nhất và tổng quát nhất về việc cải tạo toàn bộ chế độ
xã hội. Xuất phát từ quan niệm như vậy, các ông đã đi đến kết luận rằng, những
người cộng sản hoàn toàn đúng khi đề ra việc thủ tiêu chế độ tư hữu thành yêu
làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, xoá
bỏ ách áp bức, nô dịch và bóc lột tư sản, thiết lập chính quyền cách mạng của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, con người mới có điều kiện vươn tới
những khát vọng của tự do, ấm no, hạnh phúc. Theo tư tưởng của C.Mác, để
thực hiện được mục tiêu trên, chủ nghĩa xã hội phải tiến hành cách mạng triệt để,
trước hết là cách mạng về kinh tế. Phải thực hiện việc phát triển nhanh lực lượng
sản xuất, thay đổi vị trí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong quan
hệ sản xuất - từ thân phận của những người nô lệ, làm thuê, bị áp bức, bóc lột và
nô dịch, trở thành người làm chủ các tư liệu sản xuất chủ yếu, làm chủ nền sản
xuất xã hội; đồng thời tiến hành cải tạo triệt để các quan hệ xã hội, văn hoá, tinh
16
thần. Trên nền tảng ấy, tình trạng nghèo nàn, lạc hậu sẽ từng bước được xoá bỏ,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; con
người sẽ có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
1.1.2.4. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là xây dựng một xã hội công bằng,
bình đẳng
Chủ nghĩa xã hội là xã hội vì con người, coi sự giải phóng con người, giải
phóng nhân loại là mục tiêu cao nhất của nó. Sự nghiệp “giải phóng giai cấp bị
áp bức”, giải phóng con người, giải phóng nhân loại là một quá trình lâu dài,
gian khổ, đầy phức tạp song nhất định đi đến thắng lợi cuối cùng. Quá trình đó
đòi hỏi phải được thực hiện thông qua một cuộc cách mạng xã hội, bằng việc lật
đổ trật tự xã hội cũ nhằm thiết lập chế độ xã hội mới. Đó là một liên hợp trong
đó, sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất
cả mọi người.
C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy, niềm hi vọng mà quần chúng nhân dân
lao động đặt vào tự do, bình đẳng, bác ái do cuộc cách mạng tư sản đem lại đã
không được thực hiện mà bị thay thế bằng một hệ thống bóc lột mới - tư bản chủ
khắc phục và xoá bỏ dần những bất bình đẳng trong xã hội, tiến tới xây dựng một
chế độ xã hội công bằng và bình đẳng thật sự cho tất cả mọi người.
1.1.3. Quan điểm của V.I.Lênin về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
1.1.3.1. Hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi V.I.Lênin
phát triển chủ nghĩa Mác
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển dần sang giai
đoạn đế quốc chủ nghĩa, thực hiện sự phát triển mạnh mẽ cả về bề rộng lẫn chiều
sâu. Bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ XIX, nền kinh tế ở các nước tư bản có
những hiện tượng mới: Quá trình tích tụ và tập trung sản xuất tư bản đã thật sự
đạt tới “quy mô khổng lồ”, đưa đến sự hình thành các liên hiệp tư bản độc quyền
quy mô lớn. Sự dung hợp giữa tư bản ngân hàng với tư bản công nghiệp tạo ra
một loại tư bản mới, đó là tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính khống chế nền
18
kinh tế và do đó, trở thành những thế lực thống trị tại các nước tư bản; quyết
định toàn bộ chính sách đối nội cũng như đối ngoại của từng nước; đẩy mạnh
tranh giành thị trường trong nước và tạo các liên minh quốc tế ồ ạt xâm chiếm
thuộc địa. Đến đầu thế kỷ XX, việc phân chia thế giới về mặt lãnh thổ đã hoàn
thành; hệ thống thuộc địa của các nước tư bản chiếm gần 55% diện tích đất đai
và 35% dân số thế giới.
Sự xác lập chủ nghĩa đế quốc làm cho tất cả các mâu thuẫn vốn có của chủ
nghĩa tư bản càng trở nên cực kỳ gay gắt. Mâu thuẫn trên phương diện kinh tế
giữa lực lượng sản xuất xã hội hoá ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên
chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất biểu hiện thành
mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản. Về chính trị, giai cấp tư
sản lúc này đã phản động trên tất cả các mặt và tăng cường các thủ đoạn chia rẽ
giai cấp công nhân để phá hoại phong trào của họ. Bên cạnh đó, ở khắp nơi, giai
cấp tư sản tìm cách câu kết với giai cấp địa chủ làm cho ách áp bức đối với quần
1902, V.I.Lênin đã tin một cách chắc chắn rằng giai cấp vô sản Nga sẽ làm tròn
được nhiệm vụ phá hủy dinh lũy mạnh mẽ nhất của thế lực phản động châu Âu,
châu Á và sẽ trở thành “đội tiên phong của giai cấp vô sản cách mạng quốc tế”.
Với một niềm tin như vậy, V.I.Lênin bước lên vũ đài chính trị với tư cách là
người bảo vệ chủ nghĩa Mác, chống mọi trào lưu cơ hội chủ nghĩa và truyền bá
chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân Nga, đồng thời phát triển chủ nghĩa
Mác trong những điều kiện lịch sử mới.
Giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế
giới ghi nhận những cống hiến to lớn của V.I.Lênin đối với phong trào cách
mạng trên thế giới không chỉ ở việc V.I.Lênin đã tiếp tục giương cao ngọn cờ
cách mạng không ngừng do C.Mác và Ph.Ăngghen khởi xướng, mà còn ở chỗ
Người đã kết hợp chặt chẽ lý luận và thực tiễn, từ thực tiễn mà phát triển lý luận
để hiện thực hoá sinh động những quan điểm lý luận khoa học và cách mạng
20
trong di sản đồ sộ mà C.Mác và Ph.Ăngghen để lại. Những luận điểm của
V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội là mẫu mực về bổ sung, phát triển, vận dụng sáng
tạo quan điểm mácxít về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước
Nga Xôviết.
1.1.3.2. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
* Mục tiêu chính trị:
Xuất phát từ tình hình thế giới và thực trạng nước Nga sau khi đã giành
được chính quyền về tay nhân dân; đặc biệt là yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng như tính tất yếu khách quan phải xây
dựng, củng cố bộ máy nhà nước Nga thật sự trong sạch, vững mạnh, đòi hỏi
Đảng và Nhà nước Nga phải có sự cải tiến, đổi mới công tác tổ chức bộ máy
chính quyền nhà nước các cấp sao cho thật hợp lý, gọn nhẹ, hiệu quả. Đây là yêu
cầu có tính chất bức thiết, đồng thời cũng là thể hiện tập trung nhất mục tiêu