TIỂU LUẬN:
Lí luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tính
tất yếu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.Xuất phát từ chủ nghĩa mac-lenin
1.1.Lí luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam
1.1.1 Lý luận của chủ nghia mac-lenin
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về
xh, là kết quả của sự vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xh và lịc sử nhân loài, nhờ đó
mà hoàn thiện và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
phép biện chứng duy vật,hoàn thiện và phát triển thế giới quan phương pháp luận triết
học của chủ nghĩa mac-lenin
-khái niệm hình thái kinh tế-xh
Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch
sử, dung để chỉ xh ở từng giai đoạn lịch sử nhất định với một kiểu quan hệ sản xuát
đặc trưng cho xh đó phù hợp với trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một
lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.
Mâu thuẫn này không những không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xã hội hóa lao động làm cho các tiền
đề vật chất, kinh tế, xã hội ngày càng chín muồi cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản và
sự ra đời của xã hội mới - chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai
của loài người. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ
nghĩa xã hội.
Hai là, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp với
xu thế của thời đại, mà còn phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt Nam: cách
mạng dân tộc, dân chủ gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cuộc cách mạng dân
tộc, dân chủ trước hết là giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, dân chủ đồng thời
nó là tiền đề để “ làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người
có công ăn việc làm, được ấm no, và sống một đời hạnh phúc”, nhằm thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Vì vậy, cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp tục hợp lôgíc cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, làm
cho cách mạng dân tộc, dân chủ được thực hiện triệt để.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với mọi quốc gia đi lên chủ
nghĩa xã hội, nhưng nó lại đặc điểm riêng đối với mỗi quốc gia ; do điều kiện xuất
phát riêng của mỗi quốc gia quy định. Trước đây, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ
quá độ với “đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”. Khi cả nước
thống nhất cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, đặc điểm trên vẫn còn tồn tại. Phân tích rõ
hơn thực trạng kinh tế, chính trị của đất nước, trong cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “nước
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng không thể thực hiện quá độ trực tiếp lên
chủ nghĩa xã hội mà phải qua con đường gián tiếp, qua việc thực hiện hàng loạt các
hình thức quá độ. Sự cần thiết khách quan và vai trò tác dụng của hình thức kinh tế
quá độ được Lênin phân tích sâu sắc trong lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Thực
hiện các hình thức kinh tế quá độ, các khâu trung gian vừa có tác dụng phát triển
nhanh chóng lực lượng sản xuất, vừa cần thiết để chuyển từ các quan hệ tiền tư bản
lên chủ nghĩa xã hội, nó là hình thúc vận dụng các quy luật kinh tế phù hợp với điều
kiện cụ thể.
Tóm lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta
tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là quá trình rất khó khăn,
phức tạp, tất yếu “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường,
nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”
Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là con đường rút
ngắn để xây dựng đất nước văn minh, hiện đại. Nhưng khả năng tiền đề để thực hiện
con đường đó như thế nào? Phân tích tình hình đất nước và thời đại cho thấy mặc dù
kinh tế còn lạc hậu, nước ta vẫn có khả năng và tiền đề để quá độ lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
1.2.Thực tiễn kinh nghiệm các nước
1.2.1.Liên Xô với chính sách kinh tế mới –xuất phát,nội dung,thành tựu.
Hoàn cảnh:sau cách mạng tháng mười Nga thành công,đến cuối năm 1918,ở
nước nga có nội chiến(giai cấp địa chủ và tư bản bị lật đổ đã nổi dậy chống chính
quyền Xô
Viết).từ bên ngoài có sự can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc do Anh,Pháp
cầm đầu hòng bóp chết Nhà nước Xô Viết còn non trẻ.Để đối phó với tình hình
đó,Lênin nêu ra chiến.”
Cuối năm 1920,nội chiến kết thúc,nước Nga chuyển sang thời kì kiến thiết
trong hòa bình.Do đó,chính sách”Kinh tế cộng sản thời chiến “đã làm xong vai trò lịch
kỳ mà về sau này đã được đánh giá rằng chính Lênin đã thực hiện một bước ngoặt
cách mạng cực kỳ vĩ đại đối với nền kinh tế Xô viết, hình thành lý luận về một mô
hình kinh tế của thời kỳ quá độ đi lên CNXH.
Kết quả cuối năm 1922,Liên Xô đã vượt qua được nạn đói và đến năm
1925,nông nghiệp Liên Xô đã vượt mức trước chiến tranh.Tổng sản lượng lương thực
của Liên Xô đã tăng từ 42,2 triệu tấn(năm 1921)lên đến 74,6 triệu tấn(năm 1925).tổng
sản lượng công nghiệp năm 1925 so với năm 1913 mới đạt 75,5%.tuy nhiên ngành
điện và cơ khí chế tạo vượt mức trước chiến tranh,nhiều xí nghiệp công nghiệp nhẹ và
công nghiệp thực phẩm đã đạt và vướt mức trước chiến tranh.
Ngân sách nhà nước đã được củng cố lại:năm 1925-1926 ,thu nhập của Nhà
nước tăng lên gấp 5 lần so với năm 1922-1923.
1.2.2Trung Quốc với chính sách cải cách mới,sự phát triển kỳ diệu
Tháng 12-1978, hội nghị lần3(khóa XI) của đảng cộng sản trung quốc ghi nhận
sự kiện lịch sử của đất nước….con đường mới xây dựng chủ nghĩa xã hộ mang âm
hưởng trung quốc,qua các kỳ hội nghị và đại hội đảng,trung quốc không ngừng phát
triển tu duy lý luận làm phong phú nhận thức về con đường cũng như nội dung cải
cách và mở cửa
Về phương diện thực tiễn kinh tế, Trung Quốc sau 20 năm (1958-1978) thực
hiện các đường lối kinh tế tả khunh đã rơi vào tình trạng trì trệ kém phát triển. Tình
trạng đóng cửa lâu ngày nền kinh tế cũng gây trì trệ cho sản xuất và dẫn đến tình trạng
tụt hậu trong phát triển kinh tế
Trung quốc phê bình mô hình hóa tập trung kéo dài gây trì trệ cho nền kinh tế.
Vói mô hình ấy, bộ máy nhà nước mang tính tập trung quan lieu, hệ thống tổ chức
cồng kềnh, hiệu quả hoạt động thấp.Công tác đảng và công tác chính quyền chôg chéo
phận lớn trong nền kinh tế quốc dân .Hơn nữa ,miền Bắc lại bị tàn phá nặng nề của 15
năm chiến tranh.
Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tiến hành trong hoàn cảnh đất
nước ta bị chia cắt làm hai miền .Đế quốc Mỹ đã biến miền Nam thành thuộc địa và
căn cứ phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chuẩn bị gây
chiến tranh xâm lược.
Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong khi chủ nghĩa xã hội đã trở thành
một hệ thống thế giới
2.1.Đặc điểm của Việt Nam
2.1.1.Việt Nam đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng lớn từ
chiến tranh
Cả nước tiến lên từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ lẻ mà có nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu,tính chất nhỏ lẻ trong sản xuất thể hiện các mặt sau
- Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhỏ yếu
- Đại bộ phận lao động công nhân đều là thủ công
- Phân công lao động xã hội kém phát triển
- Năng xuất lao động xã hội rất thấp
- Tình trạng tổ chức vào quản lý kinh tế còn thiếu
chặt chẽ
- Việc kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân còn yếu
kém
- Nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng
Không nhưng thế nền kinh tế Việt Nam còn phải chịu hâu quả nặng nề sau 30
năm chiến tranh ác liệt ở miền nam lại còn có nhiều tan dư của chủ nghĩa thục dân mới
Nền kinh tế nông nghiệp yếu kém, trong các khâu sản xuất đa số là sử dụng lao
động thủ công, không có được nhưng công nghệ mới đưa vào sản xuất, cjo nên năn
xuất không cao
sách kinh tế mới là con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội, được áp dụng ở
Liên Xô từ mùa xụân 1921 thay cho “ chính sách cộng sản thời chiến” được áp dụng
trong nhửng năm nội chiến và can thiệp vũ trang của chủ nghĩa đế quốc.
2.2 Những mâu thuẫn hiện tại
Khi bắt đầu cải cách thì có rất nhiều ý kiến khác nhau về tính đúng đắn, lúc này
nền kinh tế nhiều hang hóa, nhưgn phần lớn vẫn là nền kinh tế nhà nước, các hợp tác
xã, nề kinh tế tập trung vẫn chiếm chủ đạo.nền kinh tế tồn tại những mâu thuẫn sau
-Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và định hướng xã hội chủ nghĩa
-Mâu thuẫn vơi việc phát triển kinh tế thì trường với công an việc làm
- Mâu thuẫn vơi việc phát triển kinh tế thì trường với việc phân hóa giàu nghèo
- Mâu thuẫn vơi việc phát triển kinh tế thì trường với vấn đề bảo về môi trường
sinh thái
3. Nhứng mục tiêu khi tiến lên nền kinh tế mở nhiều hang hóa
Về khách quan
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang phát triển như vũ bão và
toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trở thành
tất yếu; nó mở ra khả năng thuận lợi để khắc phục những hạn chế của nước kém phát
triển như thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, khả năng và kinh nghiệm quản lí yếu kém ,
nhờ đó ta có thể thực hiện “ con đường rút ngắn”.
Thời đại ngày nay, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là xu hướng khách quan của loài
người. Đi trong dòng chảy đó của lịch sử, chúng ta đã, đang và sẽ nhận được sự đồng
tình, ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của loài người, của các quốc gia độc lập đang đấu
tranh để lựa chọn con đường phát triển tiến bộ của mình.
Về chủ quan
Nước ta có nguồn lao động dồi dào với truyền thống lao động cần cù và thông
minh, trong đó đội ngũ làm khoa học, công nghệ, công nhân lành nghề có hàng chục
ngàn người là tiền đề rất quan trọng để tiếp thu, sử dụng các thành tựu khoa học và
tạo ra được năng suất lao động cao trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhờ đó những
mục tiêu và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mới được thực hiện ngày càng tốt hơn
trên thực tế.
Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, khi đất nước ta
chưa có tiền đề về cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội do chủ nghĩa tư bản
tạo ra; do đó phát triển lực lượng sản xuất nói chung, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nói riêng trở thành nhiệm vụ trung tâm của suốt thời kì quá độ. Nó có tính chất quyết
định đối với thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Nhiệm vụ không kém phần quan trọng khác của phát triển lực lượng sản
xuất, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là phát triển nguồn lực con
người - lực lượng sản xuất cơ bản của đất nước, yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế,
tạo đội ngũ lao động có khả năng sáng tạo, tiếp thu, sử dụng, quản lí có hiệu quả các
thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại. Vì vậy, phải phát huy nguồn lực trí tuệ và sức
mạnh tinh thần của con người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là “ quốc
sách hàng đầu” trong chiến lược phát triển đất nước.
3.1.2 Xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới theo đinh hướng xã hội chủ
nghiã:
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là xây dựng một chế độ xã hội mới có nền kinh tế
phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về những tư liệu
sản xuất chủ yếu. Chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu là đặc trưng của quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghiã; nó là sản phẩm của nền kinh tế phát triển với trình độ xã hội
hoá cao, các lực lượng sản xuất hiện đại, nó sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã
hội được xây dựng xong về cơ bản. Vì vậy, không thể nôn nóng, vội vàng, duy ý chí
trong việc xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa. Nó chỉ được hình thành
4. Tư tưởng đúng đắn
Hồ Chí Minh chủ chương thực hiện cơ cấu nhiều thành phần trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội là một tư tưởng tiến bộ
Đã có rất nhiều nước đã gặt hái được thành công khi chuyển đôi sang mô hình
kinh tế XHCN nhiều thành phần, điển hình là Trung Quốc đã gặt hái được thanh công
rất lớn.
Qúa độ đi lên chủ nghĩa xã hội đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
- Lênin đề cập đến. Trên cơ sở vận dụng lí luận về thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
của chủ nghĩa Mác-Lênin và xuất phát từ đặc điểm thực tế Việt Nam, Hồ Chí Minh đã
khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa.