Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
1
Lời mở đầu
Các nhà quản lý mạng viễn thông đang hướng tới một mạng thế hệ sau với sự
tích hợp tất cả các mạng, dạng dữ liệu và dịch vụ trên toàn cầu vào một mạng duy
nhất. Với mạng thế hệ sau (NGN) này, người sử dụng có thể sử dụng tất cả các dịch
vụ viễn thông mà chỉ phải đăng ký với một nhà cung cấp dịch vụ, tất cả các dạng dữ
liệu: thoại, fax, video, dữ liệu máy tính…. sẽ dược truyền tải trên một mạng duy nhất.
Có nhiều sự lựa chọn công nghệ mạng chuẩn truyền tải này nhưng IP là sự lựa chọn
tốt nhất nhờ tính chất đơn giản và hỗ trợ rất tốt cho mạng Internet đang bùng nổ trên
thế giới. Tuy nhiên với xu hướng tích hợp các dạng dữ liệu lại với nhau, mạng điện
thoại chuyển mạch kênh truyền thống bộc lộ một nhược điểm lớn là sử dụng lãng phí
băng tần là tài nguyên vô giá trong các mạng tích hợp, công nghệ VoIP ra đời đã giải
quyết bài toán này. Thay vì sử dụng một kênh logic cố định để mang thông tin thoại
thì VoIP cắt thông tin thoại thành các gói tin và chuyển chúng qua mạng IP, nhờ vậy
băng thông của kênh logic được chia sẽ với các dạng dữ liệu khác, và cũng vì vậy mà
giá thành chi phí cho một cuộc gọi sẽ nhỏ hơn nhiều so với điện thoại truyền thống.
Đối với các doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu sử dụng dịch vụ gọi quốc tế thì
VoIP là một giải pháp thích hợp. Trong quá trình thử nghiệm dịch vụ tại nhiều quốc
gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, dịch vụ voIP đã dành được sự chấp nhận của
đại đa số người sử dụng dịch vụ. Trong tương lai dịch vụ VoIP được dự báo là sẽ rất
phát triển và trở thành một dịch vụ cơ bản trong các mạng thế hệ sau.
Với xu hướng phát triển của loại hình dịch vụ VoIP em đã chọn đề tài “Đánh
giá về chất lượng dịch vụ trong mạng VoIP” làm đề tài tốt nghiệp của mình. Mục
đích của đồ án là tìm hiểu chi tiết về quá trình thiết lập và giải phóng một cuộc gọi
VoIP sử dụng các giao thức phổ biến là SIP và H.323, đi sâu vào các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ VoIP như trễ, mất gói, jitter đồng thời đưa ra
một số biện pháp khắc phục.
Nội dung chi tiết bao gồm:
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
3
Chương I
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VoIP
1.1 Giới thiệu
Có thể nói phát minh quan trọng nhất trong thế kỷ 19 của loài người là phát
minh ra chiếc điện thoại của Alexander Graham Bell. Từ đó đến nay điện thoại trở
thành một vật dụng không thể thiếu đối với thế giới. Từ một tổ chức chính phủ đến
một gia đình bình thường nhất đều không thể thiếu chiếc máy điện thoại trong cuộc
sống và công việc hàng ngày của họ. Lợi ích mà điện thoại mang lại cho con người là
không thể phủ nhận. Chính vì vậy nghành công nghiệp viễn thông phát triển như vũ
bão và dịch vụ truyền âm thanh và hình ảnh ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên
chi phí cho dịch vụ điện thoại không phải là rẻ khi so sánh với các chi phí sinh hoạt
thông thường trong gia đình và chi phí kinh doanh. Cước phí cho cuộc gọi nội hạt đã
cao nhưng cho cuộc gọi đường dài còn cao hơn và đặc biệt là cuộc gọi quốc tế. Đối
với các cơ quan doanh nghiệp thường xuyên phải thực hiện các cuộc gọi đi quốc tế thì
đây quả thực là một vấn đề lớn. Tuy nhiên khi Internet (cũng có thể nói là phát minh
lớn nhất trong thế kỷ 20) ra đời thì có vẻ như vấn đề đã được giải quyết. Chính
Internet đã thay đổi bộ mặt của thế giới. Internet thực sự là cuộc cách mạng về công
nghệ trong viễn thông. Internet đã thu hẹp khoảng cách về không gian, thời gian, ngôn
Voice over IP: được hiểu là công nghệ truyền thoại qua môi trường IP. Vì đặc
điểm của mạng gói là tận dụng tối đa việc sử dụng băng thông mà ít quan tâm tới thời
gian trễ lan truyền và xử lý trên mạng, trong khi tín hiệu thoại lại là một dạng thời
gian thực, cho nên người ta đã bổ sung vào mạng các phần tử mới và thiết kế các giao
thức phù hợp để có thể đảm bảo chất lượng dịch vụ cho người dùng. Nó không chỉ
truyền thoại mà còn truyền cho các dịnh vụ khác như truyền hình và dữ liệu.
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
5
1 2 3
4 5 6
7 8 9
*
8 #
1 2 3
4 5 6
7 8 9
*
8 #
T e le p h o n e
T e lep h o ne
PST N
M ¹ng b¸o
hiÖu sè 7
(SS7)
S ig n a lin g G a te w a y
C o n tro ller
PST N
V o IP
G a t e w a y
V o IP
G a t e w a y
V o IP
G a t ew a y
IP
T e le p h o n e
IP
T e le p h o n e
IP
liệu và video. Mạng IP dang phát triển một cách bùng nổ trên toàn thế giới và càng
ngày càng có nhiều ứng dụng đã và đang được phát triển trên nền IP như Internet trở
nên gần gũi với cuộc sống con người. Để giải quyết vấn đề thời gian thực là vấn đề
chính cần quan tâm trong các dịch vụ thời gian thực qua mạng gói, tổ chức IETF phát
triển giao thức truyền tải thời gian thực RTP/RTCP là công cụ cho việc truyền tải
thoại và video trên mạng IP, sử dụng giao thức này. Sử dụng giao thức này các gói tin
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
7
sẽ đảm bảo được mức độ trễ cho phép khi truyền trên mạng nhờ sử dụng các cơ chế
ưu tiên và các dạng format gói tin RTP thích hợp. Bộ giao thức H.323, SIP được các
tổ chức ITU, IETF phát triển để thực hiện báo hiệu và điều khiển cuộc gọi VoIP, đã
được chẩn hoá quốc tế sử dụng cho việc cung cấp dịch vụ thông tin đa phương tiện
trên nền IP. Việc triển khai VoIP không đòi hỏi nâng cấp cơ sở hạ tầng mạng một
cách phức tạp, các thiết bị bổ sung là Gateway, Gatekeeper và bộ điều khiển đa điểm
MCU. Chi phí cho các thiết bị này tương đối rẻ và việc cài đặt, bảo dưỡng cũng
không phức tạp lắm. Hiện nay có nhiều hãng viễn thông lớn trên thế giới cung cấp
thiết bị cho thoại VoIP như Cisco, Acatel, Siemen…Các thiết bị này có thể tương
thích với hầu hết các chuẩn giao thức hiện nay.
Bên cạnh các ưu điểm, VoIP còn có những nhược điểm đặc biệt là về chất
lượng dịch vụ:
• Do dựa trên nền IP là kiểu mạng best effort và không tin cậy.
• Độ trễ không đồng nhất giữa các gói tin.
1.2.2 Các kỹ thuật mã hoá và nén số trong VoIP
Kỹ thuật số hoá đã cho phép truyền thông được tín hiệu tương tự giữa các địa
điểm cách xa nhau một cách khá trung thực. Tuy nhiên, một nhược điểm cơ bản của
số hoá đó là nó sẽ làm tăng độ rộng băng tần cần thiết. Trong mạng điện thoại thông
thường tín hiệu được mã hoá theo luật A hoặc luật µ với tốc độ 64kbps. Với cách mã
hoá này, cho phép khôi phục một cách tương đối trung thực các âm thanh trong giải
tần thoại. Tuy nhiên trong ứng dụng thoại trên mạng IP yêu cầu truyền âm thanh với
vô thanh.
Vào năm 1982, Atal đã đề ra một mô hình mới về kích thích, được gọi là kích
thích đa xung. Trong mô hình này, không cần biết trước âm cần tạo ra là âm hữu
thanh hay vô thanh và đó có phải là giai đoạn lên giọng hay không. Sự kích thích
được mô hình hoá bởi một số xung (thông thường là 3 xung trên 5ms ) có biên độ và
vị trí được xác định bằng cực tiểu hoá sai lệch, có tính đến trọng số thụ cảm, giữa
tiếng nói gốc và tiếng nói tổng hợp. Phương pháp này có khả năng cho tiếng nói chất
lượng cao tại tốc độ bit quanh 10 kbps và thậm chí chỉ 4,8 kbps. Tín hiệu kích thích sẽ
được tối ưu hoá một cách kỹ lưỡng và người ta sử dụng kỹ thuật mã hoá dạng sóng để
mã hoá tín hiệu kích thích này một cách có hiệu quả.
Bảng dưới đây trình bày về một số chuẩn mã hoá đang được sử dụng trong
thực tế:
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
9Hình 1.2 Các chuẩn mã hoá thoại.
Trong đó, các G.711 là thực hiện mã hoá PCM thông thường cho tốc độ 64
kbps, G.728 là kỹ thuật mã hoá CELP ở tốc độ 16 kbps với sự thay đổi độ trễ thấp,
G.729 là kỹ thuật mã hoá CELP cho tốc độ 8 kbps, G.723.1 cho tốc độ rất thấp ở 5,3
kbps và 6,3 kbps là các chuẩn mã hoá được dùng phổ biến trong công nghệ VoIP. Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
11
2.1.2 Lịch sử phát triển của H.323
Ban đầu H.323 là giao thức dành cho LANs (1996), chỉ là kết nối thoại trên
mạng LAN. Sau đó là sử dụng trên mạng WAN, mạng VoIP riêng và sau cùng là giao
thức trên Internet. Trước kia nó được các giao thức của IETF chấp nhận như RTP-
cung cấp khả năng truyền thoại và video thời gian thực qua mạng IP trên toàn thế giới
nhưng thực tế H.323 lớn hơn so với giao thức chỉ dành riêng cho mạng LAN. Nhận
thức được điều này, ITU-T đã liên tục phát triển giao thức này. H.320 cũng tương tự
như H.323 vì nó cũng cung cấp truyền thoại, video và dữ liệu song H.323 lại được
thiết kế cho truyền thông qua mạng gói như Internet, LAN doanh nghiệp hay các
mạng dựa trên IP khác trong khi H.320 chỉ thiết kế để dùng cho ISDN.
Dù có nhiều lần bổ sung song điểm tập trung cần phải giải quyết vẫn là tính
tương thích ngược. Mỗi version mới được đưa ra có nhiều đặc điểm nhưng vẫn không
thoả mãn được tính phối hợp hoạt động. H.323 bao gồm các giao thức H.225.0-RAS,
Q.931- H.245, RTP/RTCP và các bộ mã hoá và giải mã thoại, video, dữ liệu như các
bộ mã hoá và giải mã thoại (audio) G.711, G.723.1, G.728..., cho video là H.261 và
H.263, cho dữ liệu là T.120. Các dòng thông tin dữ liệu được truyền trên giao thức
H.323 MCU
H.323
Terminal
thái. Thông tin báo hiệu (ngoại trừ RAS) được truyền tin cậy trên giao thức TCP. Các
giao thức sau xử lý về báo hiệu:
• RAS: Quản lý việc đăng ký, chấp nhận và trạng thái dùng cho truyền
thông giữa một điểm cuối H.323 với một gatekeeper.
• Q.931: Quản lý việc thiết lập và điều khiển /kết thúc cuộc gọi.
• H.225: Điều khiển cuộc gọi.
• H.245: thảo luận về việc sử dụng kênh và các khả năng.
• H.235: bảo mật và nhận thực.
• H.450.x: các dịch vụ bổ trợ.
2.1.3 Sơ đồ mạng lưới Hình 2.2 Sơ đồ mạng lưới mạng VoIP.
Hình trên cho thấy vị trí các phần tử cơ bản và kết nối của chúng trong mạng
VoIP sử dụng chuẩn H.323 và kết nối tới các mạng ngoài.
2.1.4 Bộ giao thức H.323
H.323 cung cấp nhiều loại hình dịch vụ từ thoại đến video và dữ liệu, thông tin
đa phương tiện. Lược đồ sau minh hoạ các giao thức H.323 khi so sánh với mô hình
OSI.
Với dịch vụ Audio có giao thức lớp ứng dụng là các chuẩn G (G.711, G.723,
G.729) và Video có giao thức lớp ứng dụng là các chuẩn H (H.261, H.263), chúng
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
13
cùng với các giao thức RTCP, RAS, RTP dựa trên nền giao tức UDP ở lớp vận
chuyển.
Hình 2.4 trình bày các chức năng giao thức của hệ thống VoIP sử dụng H.323
cho Audio.
Hình 2.4 Các chức năng giao thức của hệ thống VoIP.
• Chức năng điều khiển H.245 dùng kênh điều khiển H.245 để mang bản tin
điều khiển đầu cuối-đầu cuối để quản lý hoạt động thực thể H.323.
- Các bản tin: khả năng trao đổi, đóng và mở kênh logic, yêu cầu ưu tiên
mode, bản tin điều khiển luồng, lệnh và chỉ thị chung.
- Vị trí: thiết lập giữa hai điểm cuối, điểm cuối với MCU, điểm cuối và
Gatekeeper. Kênh điều khiển H.245 được mang trên kênh logic 0, kênh
logic này mở từ khi thiết lập kênh điều khiển H.245 đến khi kết thúc
kênh này.
- Có 4 loại bản tin H.245: Request, Response, Command, Indication. Bản
tin Request và Response được sử dụng bởi các thực thể giao thức, bản
Audio
In/Out
Điều
khiển
Hệ thống
Chuyển
tải
Mã
Audio
Chuyển
đổi IP
Mạng IP
(Internet)
H.323 sử dụng các bản tin trong khuyến nghị H.225 và các bản tin được hỗ trợ
Q.931. Một kênh điều khiển cuộc gọi tin cậy (TCP) được tạo ra qua mạng IP
trên một cổng TCP. Cổng này phát đi các bản tin điều khiển cuộc gọi Q.931 để
kết nối, giám sát và giải phóng cuộc gọi. Kênh báo hiệu cuộc gọi độc lập với
kênh RAS và kênh điều khiển H.245. Thủ tục mở kênh logic H.245 không
được dùng để thiết lập kênh H.245 và bất kỳ kênh logic nào khác giữa nhiều
điểm cuối H.323. Trong hệ thống không có Gatekeeper, kênh báo hiệu được
mở giữa hai điểm cuối liên quan tới cuộc gọi. Trong hệ thống có Gatekeeper,
kênh báo hiệu cuộc gọi được mở giữa hai điểm cuối và Gatekeeper hoặc giữa
các điểm cuối mà Gatekeeper chọn.
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
16
2.1.5 Các thiết bị cấu thành hệ thống H.323
Hình 2.5 Các thiết bị thành phần của hệ thống VoIP dựa trên H.323.
Hình 2.5 cho biết các thiết bị thành phần cơ bản cấu thành một mạng VoIP dựa
trên giao thức H.323. Theo khuyến nghị H.323, mạng VoIP có thể có 4 thiết bị cơ
bản: đầu cuối H.323, Gatekeeper, Multipoint Control Unit và Gateway.
H.323. Các chuẩn mã hoá thường gặp là G.711, G.728 và G.723.1.
Không bắt buộc có các bộ mã hoá/giải mã Video. Bộ này có chức năng
mã hoá tín hiệu Video từ nguồn để truyền đi và giải mã tín hiệu Video
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
18
nhận được để đưa tới thiết bị hiện thị. Các chuẩn thường dùng là H.261,
và H.263.
2.1.5.2 Gateway H.323
Gateway (GW) là một điểm cuối trong mạng thực hiện các chức năng chuyển
đổi về báo hiệu và dữ liệu, cho phép các mạng hoạt động dựa trên các giao thức khác
nhau có thể phối hợp với nhau. Trong mạng VoIP, Gateway H.323 cho phép kết nối
mạng VoIP với các mạng khác. Nó cung cấp các khả năng truyền thông thời gian thực
và song hướng giữa các đầu cuối H.323 trong mạng gói với các đầu cuối trong mạng
khác hay với các Gateway khác. Trong khuyến nghị H.323, Gateway H.323 là một
phần tử tuỳ chọn và được sử dụng như là một cầu nối giữa các đầu cuối H.323 với các
đầu cuối H.310 (cho B-ISDN), H.320 (ISDN), H.321 (ATM), H.324M (Mobile).
Các chức năng chính của Gateway là:
• Cung cấp phiên dịch giữa các thực thể trong mạng chuyển gói (ví dụ
mạng IP) với mạng chuyển mạch kênh (ví dụ PSTN).
• Các Gateway cũng có thể phiên dịch khuôn dạng truyền dẫn, phiên dịch
các tiến trình truyền thông, phiên dịch giữa các bộ mã hoá/giải mã hoặc
phiên dịch giữa các đầu cuối theo chuẩn H.323 và các đầu cuối không
theo chuẩn này.
• Ngoài ra, nó còn tham gia vào việc thiết lập và huỷ bỏ cuộc gọi.
Các thành phần của một Gateway được mô tả trong hình sau:
Hình 2.7 Chức năng cơ bản của Gateway H.323.
a. Media Gateway: MGW
Đồ án tốt nghiệp
tương tự. Thêm vào đó, nó cũng thực hiện chuyển đổi giữa tín hiệu
DTMF trong mạng SCN và các tín hiệu thích hợp trong mạng chuyển
mạch gói khi mà các bộ mã hoá tín hiệu thoại không mã hoá tín hiệu
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
20
DTMF. Chức năng chuyển đổi kênh thông tin giữa IP và SCN cũng có
thể thu thập thông tin về lưu lượng gói và chất lượng kênh đối với mỗi
cuộc gọi để sử dụng trong việc báo cáo chi tiết và điều khiển cuộc gọi.
• OA&M: vận hành, quản lý và bảo dưỡng, thông qua các giao diện logic
cung cấp các thông tin không trực tiếp phục vụ cho điều khiển cuộc gọi
tới các phần tử quản lý hệ thống.
• Chức năng quản lý: giao diện với hệ thống quản lý mạng.
• Giao diện mạng chuyển mạch gói: kết cuối mạng chuyển mạch gói.
b. Media Gateway Controler: MGC
Mỗi GW có phần điều khiển được gọi là Media Gateway Controler (MGC)
đóng vai trò phần tử kết nối MGW, SGW và GK. Nó cung cấp các chức năng xử lý
cuộc gọi cho GW, điều khiển MGW, nhận thông tin báo hiệu SCN từ SGW và thông
tin báo hiệu từ IP từ GK.
MGWC có thể bao gồm các khối chức năng sau:
• Chức năng GW H.225.0: truyền và nhận các bản tin H.225.0.
• Chức năng GW H.245: truyền và nhận các bản tin H.245.
• Chức năng xác nhận: thiết lập đặc điểm nhận dạng của người sử dụng
thiết bị hoặc phần tử mạng.
• Chức năng điều khiển GW chấp nhận luồng dữ liệu: cho phép hoặc
không cho phép một luồng dữ liệu.
• Báo hiệu chuyển mạch gói: bao gồm tất cả các loại báo hiệu cuộc gọi có
thể thực hiện bởi các đầu cuối trong mạng. Ví dụ như theo chuẩn H.323
thì bao gồm: H.225.0, Q.931, H.225.0 RAS và H.245. Đối với một đầu
cuối H.323chỉ nhận thì nó bao gồm H.225.0 RAS mà không bao gồm
vọng được đặt trong GW VoIP chịu sự quản lí của MGC). MG chịu trách nhiệm quản
lý các tài nguyên mức thấp như là các thiết bị phần cứng để chuyển mạch và xử lý
luồng thông tin trong một GW.
c. Signalling Gateway: SGW
SGW cung cấp kênh báo hiệu giữa mạng IP và mạng SCN. Nó có thể hỗ trợ
chức năng kênh báo hiệu giữa mạng IP (ví dụ như H.323) hoặc báo hiệu trong mạng
SCN (ví dụ như R2, CCS7).
SGW có thể bao gồm các khối chức năng sau:
• Kết nối các giao thức điều khiển cuộc gọi SCN.
• Kết nối báo hiệu từ mạng SCN: phối hợp hoạt động với các chức năng
báo hiệu của MGWC.
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
22
• Chức năng báo hiệu: chuyển đổi giữa báo hiệu mạng IP với báo hiệu
mạng SCN khi phối hợp hoạt động với MGWC.
• Bảo mật kênh báo hiệu: bảo đảm tính bảo mật của kênh báo hiệu từ GW.
• Chức năng thông báo: ghi các bản tin sử dụng, xác định và ghi các bản
tin thông báo ra thiết bị ngoại vi.
• OA&M: vận hành, quản lý và bảo dưỡng thông qua các giao diện logic
cung cấp các thông tin không trực tiếp phục vụ cho điều khiển cuộc gọi
tới các phần tử quản lý hệ thống.
• Chức năng quản lý: giao diện với hệ thống quản lý mạng.
• Giao diện mạng chuyển mạch gói: kết nối mạng chuyển mạch gói.
SG sẽ làm nhiệm vụ phân tích và chuyển các bản tin báo hiệu trong mạng
PSTN vào mạng H.323. Các bản tin báo hiệu như ISUP, SCCP, TSUP được chuyển
đổi thành dạng hợp lý tại GW báo hiệu và chuyển vào mạng IP.
2.1.5.3 Gatekeeper H.323: GK
Gatekeeper là một thực thể tuỳ chọn trong mạng H.323 để cung cấp các chức
năng biên dịch địa chỉ và điều khiển truy nhập mạng cho các thiết bị đầu cuối H.323,
được đăng ký với nó.
Ngoài ra, Gatekeeper còn cung cấp một số dịch vụ tuỳ chọn khác:
• Báo hiệu điều khiển cuộc gọi: GK quyết định có tham gia vào quá trình
báo hiệu cho cuộc gọi hay không.
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
24
• Cấp phép cho cuộc gọi: GK GK quyết định có cho phép cuộc gọi được
tiến hành hay không.
• Quản lý băng tần
• Quản lý cuộc gọi
• Sửa đổi địa chỉ định danh
• Biên dịch số được quay: GK sẽ chuyển các số được quay sang số E.164
hay số mạng riêng.
• Quản lý cấu trúc dữ liệu
Hình 2.10 Gatekeeper thông tin với các thành phần trong mạng.
2.1.5.4 Khối điều khiển đa điểm H.323: MCU
MCU là một điểm cuối trong mạng để cung cấp khả năng truyền thông hội
nghị cho ba điểm hay nhiều thiết bị đầu cuối và các Gateway tham gia một hội nghị
đa điểm. Nó cũng có thể kết nối hai thiết bị đầu cuối trong một hội nghị điểm-điểm
mà sau đó có thể phát triển thành một hội nghị đa điểm. MCU bao gồm hai phần: một
bộ điều khiển đa điểm (MC) bắt buộc và một bộ xử lý đa điểm (MP) tuỳ chọn.
MC cung cấp các chức năng điều khiển để hỗ trợ các hội nghị giữa ba hay
nhiều điểm cuối tham gia một hội nghị đa điểm. Nó thực hiện trao đổi khả năng với
mỗi điểm cuối trong một hội nghị. MC gửi một tập khả năng tới các điểm cuối để chỉ
thị mô hình hoạt động mà chúng có thể sử dụng. MC cũng có thể sửa lại tập các khả
năng để gửi tới các thiết bị đầu cuối khi các đầu cuối tham gia hay ra khỏi hội nghị
hay vì một lý do nào khác.
IP QoS Network
H
2
2
5
R
A
S
(
U
D
P
)
Đồ án tốt nghiệp
Nguyễn Văn Thắng Lớp: Đ2001VT
25
MP nhận các dòng audio, video và data từ các điểm cuối trong một hội nghị đa
điểm. Nó sẽ xử lý tập trung các luồng phương tiện này và trả lại chúng cho các diểm
cuối. Nó có thể thực hiện các chức năng như trộn, chuyển mạch, hay các xử lý khác
dưới sự điều khiển của MC. MP có thể xử lý một luồng phương tiện đơn lẻ hay nhiều
luồng phương tiện phụ thuộc vào kiểu của hội nghị được hỗ trợ. Hình 2.11 Mô hình giao thức của MCU.
Thành phần của khối điều khiển đa điểm gồm:
• Bộ điều khiển đa điểm: cung cấp chức năng điều khiển.
• Bộ xử lý đa điểm: thu nhận và xử lý các dòng thoại, video hoặc dữ liệu.
2.1.6 Ngăn xếp giao thức H.323
H.323 là một tập hợp của nhiều giao thức còn được gọi là họ giao thức H.323