Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
Chơng I
Tổng quan về cảng biển và dịch vụ cảng biển
I. Khái quát về cảng biển
1. Khái niệm về cảng biển
1.1. Khái niệm
Khái niệm của cảng biển gắn liền với sự phát triển của ngành hàng hải. Tr-
ớc đây cảng biển chỉ đợc coi là nơi trú gió to bão lớn cho tàu thuyền. Trang thiết
bị của cảng biển rất đơn giản và thô sơ. Ngày nay cảng biển không những chỉ là
nơi bảo vệ an toàn cho tàu biển trớc các hiện tợng tự nhiên bất lợi, mà trớc hết
cảng biển là một đầu mối giao thông, một mắt xích hết sức quan trọng của quá
trình vận tải. Do đó, kỹ thuật xây dựng, trang thiết bị và cơ cấu tổ chức của cảng
biển ngày càng đợc hiện đại hoá.
Ranh giới của một cảng biển gồm hai khu vực: vùng đất cảng và vùng đất
ngoài cảng. Trên mỗi phần của cảng có những công trình và thiết bị nhất định.
Theo điều 57 - Bộ luật Hàng hải Việt Nam (30/6/1990), cảng biển đợc định
nghĩa là cảng đợc mở ra để tàu biển ra, vào hoạt động:
- Vùng đất cảng là khu vực gồm kho bãi, cầu cảng, nhà xởng, khu vực hành
chính và dịch vụ hàng hải.
- Vùng ngoài cảng là khu vực gồm vùng nớc trớc cầu cảng, vùng neo đậu
chuyển tải, luồng ra, vào cảng và vùng tránh bão.
Nh vậy, cảng biển là một công trình có hàng loạt thiết bị kỹ thuật để phục
vụ tàu và hàng hoá. Trang thiết bị của cảng bao gồm:
- Thiết bị kỹ thuật phục vụ tàu ra vào, tàu chờ đợi, tàu neo đậu. Nhóm thiết bị
này gồm: luồng lạch, hệ thống phao tiêu, tín hiệu, phao nổi, cầu tàu,
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
- Thiết bị kỹ thuật phục vụ công việc xếp dỡ hàng hoá lên xuống công cụ vận
tải và ở trong kho bãi của cảng. Thiết bị xếp dỡ là yếu tố kỹ thuật quan trọng
nhất trong hoạt động sản xuất của cảng. Nó quyết định năng suất xếp dỡ, khả
năng thông qua về tàu và hàng hoá của cảng
- Thiết bị kho bãi của cảng dùng để phục vụ chứa đựng và bảo quản hàng hoá.
tổ chức, cá nhân thuê khai thác. Nhân lực thực hiện khai thác thờng do tổ
chức hay cá nhân đó thuê hoặc do cảng cung cấp.
Cảng công cộng: là loại cảng do chủ sở hữu đầu t xây dựng và bảo dỡng toàn
bộ các hạng mục công trình của cơ sở hạ tầng cảng biển. Đồng thời chủ sở
hữu là ngời trực tiếp khai thác. Nhân lực thực hiện khai thác thờng do các tổ
chức khác cung cấp trên cơ sở hợp đồng với cảng.
Cảng dịch vụ: chủ sở hữu đầu t xây dựng, bảo dỡng và khai thác trên cơ sở
hạ tầng cũng nh mọi phơng tiện thiết bị của cảng. Nhân lực sử dụng theo hợp
đồng.
c) Theo phạm vi phục vụ: cảng biển đợc phân thành hai loại
Cảng nội địa: là cảng phục vụ chủ yếu cho giao thông đờng thuỷ nội địa, ở
Việt Nam thờng là các cảng địa phơng.
Cảng quốc tế: là cảng thờng có tàu thuyền nớc ngoài cập bến làm hàng. Đây
là các cảng tổng hợp, cảng chuyên dụng quốc gia và một dạng nữa đặc trng
cho cảng quốc tế đó là cảng trung chuyển.
d) Theo các tiêu chí khác, cảng biển còn đợc phân thành:
Cảng cá,
Cảng quân sự,
Cảng thơng mại,..vv.
1.3. Chức năng và nhiệm vụ cảng biển.
Cảng biển thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau: là nơi ra vào, neo đậu của
tàu biển, là nơi phục vụ tàu bè và hàng hoá, là đầu mối giao thông quan trọng
của một nớc.
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
Nếu không đề cập đến những chức năng quản lý chuyên ngành (hàng hải,
hải quan, thuế quan, y tế, kiểm dịch động - thực vật, biên phòng) thì phần lớn
các nớc đều phân phối chức năng quản lý - khai thác cảng biển nh sau:
a) Theo cơ cấu cảng biển: bao gồm các chức năng sau
- Quản lý và khai thác cơ sở hạ tầng cảng biển
- Kinh doanh dịch vụ bốc dỡ tại cảng biển
bao bì, kẻ ký mã hiệu, kiểm tra số lợng chất lợng, thủ tục giao nhận hàng
hoá.
2. Hệ thống cảng biển Việt Nam
2.1. Nhóm cảng biển phía Bắc
Gồm các cảng biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình, có tác dụng góp phần
thúc đẩy kinh tế khu vực, nhất là vùng trọng điểm kinh tế Hà Nội- Hải Phòng-
Quảng Ninh. Đồng thời là cửa ngõ hớng ra biển của các nớc láng giềng mà
hành lang cho hàng hoá quá cảnh Việt Nam đang đợc các quốc gia hữu quan
nghiên cứu xem xét. Trong đó, cảng Hải Phòng là thơng cảng tổng hợp phục vụ
trực tiếp cho xuất nhập khẩu và trao đổi nội địa trên các tàu hàng bách hoá, tàu
container có sức chở khoảng 10.000 DWT và cảng Cái Lân là cảng nớc sâu tổng
hợp, phục vụ cho các khu công nghiệp tập trung và hàng xuất nhập khẩu ngoại
thơng vận tải trên các tàu lớn từ 10.000 50.000 DWT hỗ trợ cho cảng Hải
Phòng. Ngoài ra còn có các cảng nớc sâu tiềm năng nh: Đình Vũ, Cẩm Phả và
Nam Đồ Sơn. Tổng lợng hàng hoá dự kiến thông qua khu vực này là 60,6 triệu
tấn vào năm 2010.
a) Cảng Cẩm Phả (công ty Cẩm Phả quản lý)
Đây là cảng xuất khẩu than chính cho cả nớc và có khả năng tiếp nhận tàu
30.000 40.000 DWT, tuyến luồng vào cảng khá sâu và ổn định. Dự kiến
công suất cảng đạt 4 - 5 triệu tấn năm 2010 và cho phép tàu 30 - 50 nghìn tấn ra
vào cảng.
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
Một số thông số kỹ thuật của cảng:
- Chiều dài cầu cảng 300 m
- Diện tích kho 0
- Diện tích bãi 22.600 m
2
- Mớn nớc tàu cho phép - 9,5 m
- Trọng tải tàu cho phép 50.000 DWT
- Năng suất xếp hàng bình quân 8.000 tấn/ngày
- Năng suất xếp hàng bìng quân 960 tấn/ngày
- Khả năng thông qua 0,6 triệu tấn/năm
- Thiết bị chính 02 cẩu loại 12T & 01 cẩu loại 10T
d) Cảng xăng dầu B12 (công ty xây dựng B12 quản lý)
Cảng nằm phía thợng lu phà Bãi Cháy trong vịnh Hạ Long, có cơ sở khá
hoàn thiện, công suất cảng theo thiết kế đạt 1,5 triệu tấn/ năm. Đây là đầu mối
tiếp nhận hầu hết các loại xăng dầu nhập ngoại (hoặc từ nhà máy lọc xăng dầu
trong nớc) bằng các tàu trọng tải 10.000 ữ 30.000 DWT và thông qua hệ thống
tiếp chuyển nội địa bằng đờng ống, các tầu vận tải dới 30.000 DWT để cung
ứng toàn bộ xăng dầu cho khu vực phía Bắc.
Một số thông số kỹ thuật của cảng:
- Chiều dài cầu cảng 225 m
- Diện tích kho 70.000 m
2
- Diện tích bãi ---------
- Trọng tải tàu cho phép 20.000 DWT
- Năng suất xếp hàng bình quân 1.200 tấn/ngày
- Khả năng thông qua 1 triệu tấn/năm
-Thiết bị chính 06 đờng ống ngầm 219
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
e) Cảng Hải Phòng
Các cảng nằm tập trung bờ phải dòng sông Cấm, cách phao số "0" khoảng
36 km. Đây là một cụm cảng đợc khai thác hơn 100 năm nay. Các công trình
cầu bến đủ khả năng tiếp nhận tàu trọng tải 10.000 DWT. Một khó khăn lớn
nhất đối với cụm cảng Hải Phòng là tuyến luồng bị sa bồi rất lớn. Để duy trì độ
sâu -4,0 m ữ -4,8 m hàng năm phải nạo vét duy tu khoảng 1,5 triệu m
3
ữ 1,6
triệu m
3
Lào qua đờng 7, đờng 8, trong đó có cảng Nghi Sơn, Cửa Lò, Vũng áng là cảng
tổng hợp trung tâm của vùng phục vụ cho xuất nhập khẩu bằng tàu biển đến
15.000 DWT. Ngoài ra, chú trọng phát triển cảng chuyên dùng Nghi Sơn, Thạch
Khê.
a) Cảng Nghệ Tĩnh (Cửa Lò - Bến Thuỷ)
Do Cục Hàng hải Việt Nam quản lý khai thác. Cảng hiện nằm trên bờ phải
cửa sông Cấm. Điều kiện tự nhiên tơng đối thuận lợi: phía Bắc có núi Nghi
Thiết kéo dài đến thôn Lố là một đê thiên nhiên che chắn sóng và gió Đông bắc;
phía Nam có Hòn Ng và Lèn Chu có tác dụng giảm sóng. Phần mặt bằng trên
bờ đủ rộng, địa chấn thích hợp cho việc xây dựng các công trình cảng loại lớn.
Song luồng tàu đi từ phao số "0" vào cảng khoảng 03 km chịu ảnh hởng của
dòng bùn cát từ cửa biển khá lớn và gây bồi lắng rất nghiêm trọng. Cao độ tự
nhiên luồng và khu nớc đạt 0,0 ữ -2,0 m.
Một số thông số kỹ thuật của cảng:
- Chiều dài cầu cảng 421 m
- Diện tích kho 19.200 m
2
- Diện tích bãi 51.000 m
2
- Chiều dài tàu cho phép 120 m
- Mớn nớc tàu cho phép -5,8 m
- Trọng tải tàu cho phép 5.000 DWT
- Năng suất bốc xếp hàng 800 tấn/ ngày
- Khả năng thông qua 1 triệu tấn/năm
- Thiết bị chính cần cẩu chân đế 3, xe nâng hàng 7
Cơ sở hạ tầng, giao thông đờng sắt, thuỷ, bộ quanh vùng khá phát triển.
Chức năng chủ yếu của cảng là phục vụ hàng hoá xuất nhập khẩu của Nghệ An,
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
nam Thanh Hoá, một phần Hà Tĩnh và đảm nhận khối lợng ít hàng quá cảnh
của bắc Lào vào Việt Nam theo trục đờng số 8.
Vịnh Đà Nẵng nằm ở vị trí của một cửa ngõ lớn thông ra biển cho cả khu
vực từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi và một phần các tỉnh Nam Lào, Đông bắc
Thái Lan, Đông bắc Campuchia, cách tuyến hàng hải quốc tế từ ấn Độ Dơng
sang Thái Bình Dơng 302 hải lý. Vịnh rộng 1.200 ha, trên 3/4 chu vi vịnh đợc
che chắn bởi dải đất liền, dãy Hải Vân và bán đảo Sơn Trà tạo thành vùng nớc
kín, ảnh hởng sóng gió không lớn, độ sâu vùng vịnh trung bình 10 ữ 17 m.
Luồng tàu ra vào cảng ngắn, độ sâu tự nhiên lớn đến 10 ữ 11 m, ít bị sa bồi và
ổn định.
Đà Nẵng nằm giữa các trục giao thông chính của cả nớc, có các cơ sở hạ
tầng khá hoàn thiện, đờng quốc lộ 1A, có sân bay quốc tế xếp thứ ba cả nớc (hệ
thống đờng băng 3.100 m cho các loại máy bay cỡ lớn). Các công trình cung
cấp điện, nớc, thông tin và các điều kiện cung cấp dịch vụ hàng hải khá đầy đủ,
đa dạng.
Với các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, vịnh Đà Nẵng có đủ các điều
kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển các cảng biển cho loại tàu có trọng tẩi
lớn cập cầu làm hàng tổng hợp, hàng container
Hệ thống cảng biển hiện nay tại Đà Nẵng bao gồm các cảng: Đà Nẵng,
Nguyễn Văn Trỗi, dịch vụ sửa chữa tàu biển, sông Hàn 9, xí nghiệp sửa chữa
tàu Hải Sơn, Kỳ Hà, Nại Hiện, Mỹ Khê, Liên Chiểu, Tiên Sa.
Một số thông số kỹ thuật của cảng:
- Chiều dài cầu cảng 1.750 m
- Diện tích kho 137.809 m
2
- Diện tích bãi 90.000 m
2
- Phơng tiện xếp dỡ chính 16 cần cẩu, 31 xe nâng hàng
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
2.4. Nhóm cảng biển Nam Trung bộ
Gồm các biển từ Bình Định đến Bình Thuận, phục vụ cho phát triển kinh tế
của các tỉnh từ Bình Định đến Bình Thuận, các tỉnh Tây Nguyên (Đắc Lắc, Lâm
thành phố Hồ Chí Minh: là thơng cảng tổng hợp, tàu container đến 20.000
DWT, tàu dầu và tàu hàng rời đến 25.000 DWT, các cảng khu vực Vũng Tàu-
Thị Vải: hỗ trợ các cảng Tp Hồ Chí Minh và chuyển tải cho đồng bằng sông
Cửu Long, tiếp nhận tàu trọng tải 30.000 đến 60.000 DWT, trong đó có cảng
container, cảng chuyên dùng phục vụ cho các khu công nghiệp và các ngành
kinh tế trong vùng có khối lợng nhiều, vận tải trên các tàu lớn và căn cứ dịch vụ
dầu khí (Vũng Tàu). Hình thành cảng container cho tàu 50.000 và 80.000 DWT,
trọng điểm là Cái Mép, Thị Vải, Gò Dầu và Bến Đình - Sao Mai.
a) Cảng Sài Gòn
Là một cảng tổng hợp, cảng nằm trên sông Sài Gòn và trong vùng kinh tế
phát triển nhất đất nớc. Hiện tại cảng đảm nhận khối lợng hàng hoá thông qua
lớn nhất trong hệ thống cảng biển Việt Nam và chiếm 80% - 85% số lợng hàng
hoá toàn khu vực.
Một số thông số kĩ thuật của cảng:
- Chiều dài cầu cảng 2.931 m
- Diện tích kho 500.000 m
2
- Diện tích bãi 500.000 m
2
- Chiều dài tàu cho phép 230 m
- Mớn nớc tàu cho phép -10,8 m
- Trọng tải tàu cho phép 30.000 DWT
- Năng suất bốc xếp 22.000 tấn/ngày
- Khả năng thông qua 9 triệu tấn/năm
- Phơng tiện xếp dỡ chính 7 cẩu loại 05T - 150T, 86 xe nâng hàng
b) Cảng Bến Nghé
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
Nằm trên sông Sài Gòn, do Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quản
lý. Đây là một cảng đang có khả năng tiếp nhận tàu đến 20.000 DWT cho hàng
tổng hợp
miền Trung.
g) Cảng xăng dầu Petechim
Do Bộ thơng mại quản lý, có khả năng tiếp nhận tàu đến 25.000 DWT.
Hiện tại công suất khai thác mới chỉ đạt 20% đến 25% so với khả năng.
h) Cảng VITAICO
Do công ty liên doanh Vitaico quản lý. Đây là cảng chuyên dùng cho gỗ
nguyên liệu giấy. Nguồn nguyên liệu chính là ở khu vực Đồng Nai, và lợng
hàng này đợc dịch chuyển về khu vực cảng Thị Vải là phù hợp hơn.
2.6. Nhóm cảng đồng bằng sông Cửu Long.
Là nhóm cảng tiếp chuyển nội địa các cảng lớn trong nớc phục vụ kinh tế
từng tỉnh và có thể xuất nhập khẩu trực tiếp phục vụ với một số nớc trong khu
vực bằng tàu đến 10.000 DWT, trong đó cảng tổng hợp Cần Thơ đợc coi là cảng
trung tâm của vùng.
Với trên 650 km bờ biển và một hệ thống sông kênh dày đặc (gần
4500km), đồng bằng sông Cửu Long hiện nay là vùng có hệ thống giao thông
vận tải thuỷ phát triển mạnh nhất đất nớc. Song các vùng cửa sông và ven sông
có hiện tợng bồi lắng, diễn biến luồng tàu ngoài cửa biển phức tạp làm cho các
tàu vận tải lớn ra vào gặp nhiều khó khăn. Do bồi lắng trên sông, kênh, ớc tình
bình quân từ 0,07% ữ 0,25%/năm và trên các cửa sông ven biển từ 0,1 ữ
0,35%/năm, có nơi hơn 0,1m/năm nên việc xây dựng cảng ở ven biển đồng
bằng sông Cửu Long, luồng cho tàu chạy phải đợc cải tạo lại và duy tu thờng
xuyên theo định kì.
Về địa chất cấu tạo đáy ven bờ biển của vùng đồng bằng sông Cửu Long,
hầu hết có lớp bùn phù sa bồi (pha cát) khá dày đặc thuộc loại đất mềm yếu
nên việc xây dựng các công trình cảng gặp nhiều khó khăn và chi phí xây dựng
tốn kém hơn, mà tuổi thọ công trình lại không cao.
Thuỷ triều thuộc loại nhật triều (vịnh Thái Lan) và bán nhật triều không
đều (phía biển Đông). Vùng cửa biển có biên độ triều lớn, có lợi cho khai thác
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
tàu chạy vào luồng. Do đặc điểm dòng chảy, chế độ sóng triều nên ven bờ các
quyền làm dịch vụ kiểm đếm, cung ứng tàu biển cũng do một vài đơn vị của địa
phơng có cảng thực hiện. Trong thời kỳ đó, hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp dịch vụ tại cảng biển không có cạnh tranh vì mỗi doanh nghiệp
thực hiện một dịch vụ độc lập theo kế hoạch của Nhà nớc. Nhiệm vụ của các
doanh nghiệp là thực hiện kế hoạch mà Nhà nớc giao cho.
Sau năm 1990, do chính sách mở cửa của kinh tế thị trờng và tốc độ tăng tr-
ởng của nền kinh tế quốc dân nên lợng hàng thông qua các cảng biển của Việt
Nam đã không ngừng tăng lên. Số lợt tàu cập cảng để bốc dỡ hàng hoá cũng
tăng kéo theo nhu cầu về các dịch vụ khác. Nhằm tạo điều kiện cho các loại
hình dịch vụ tại cảng phát triển, căn cứ vào Bộ Luật Hàng hải (ngày 30-6-1990),
Luật Doanh nghiệp Nhà nớc 1995, Luật Doanh nghiệp 1999, Chính phủ đã ra
Nghị định NĐ-CP 10, trong đó có quy định về việc kinh doanh dịch vụ tại cảng
biển. Theo Nghị định này, có 9 hình thức kinh doanh dịch vụ hàng hải và do đó
có các hình thức kinh doanh dịch vụ tại cảng biển sau đây:
Dịch vụ lai dắt tàu biển
Dịch vụ cung ứng tàu biển
Dịch vụ sửa chữa
Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại cảng biển
Dịch vụ vệ sinh tàu biển
Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
2. Các loại hình kinh doanh dịch vụ cảng biển
Theo Nghị định 10 NĐ-CP, 2001, ta có các loại hình kinh doanh dịch vụ
cảng biển sau đây:
Dịch vụ lai dắt tàu biển
Dịch vụ lai dắt tàu biển là dịch vụ thực hiện các tác nghiệp lai, kéo, đẩy
hoặc hỗ trợ tàu biển và các phơng tiện nổi khác trên biển hoặc tại vùng nớc liên
quan đến cảng biển mà tàu biển đợc phép vào, ra hoạt động.
Dịch vụ cung ứng tàu biển
Dịch vụ cung ứng tàu biển là dịch vụ thực hiện các công việc sau đây liên
dịch vụ cảng biển gắn liền với việc vận tải đờng biển, cùng đóng góp vào quá
trình phát triển kinh tế. Thực tiễn cho thấy, hầu hết các quốc gia ven biển trên
thế giới và trong khu vực đều trở thành những nớc có nền kinh tế phát triển rất
nhanh, nhất là ngành kinh tế biển. Bởi vì cảng biển là đầu mối quốc gia quan
trọng, nối liền các khu vực của quốc gia và nối quốc gia đó với thế giới bên
ngoài bằng các huyết mạch giao thông nh đờng sông, đờng bộ, đờng sắt, hàng
không phục vụ vận chuyển hàng hoá và hành khách.
ở Việt Nam, hàng xuất nhập khẩu chủ yếu do vận tải biển đảm nhận.
Trong năm 1990, đóng góp của xuất nhập khẩu vào GDP chỉ là 42% thì đến
năm 1999 tỷ lệ này là 81% GDP, năm 2001 là 85%. Giá trị của số lợng ngoại tệ
vào khoảng 23 tỷ USD do xuất nhập khẩu mang về và những tác động trực tiếp,
gián tiếp của nguồn vốn này đối với nền kinh tế Việt Nam sẽ không thể thực
hiện đợc nếu không có hệ thống cảng biển và các loại hình dịch vụ tại cảng
biển. Hiển nhiên, điều này cũng chứng minh và giải thích tầm quan trọng của
cảng biển đối với việc phát triển cảng biển và các dịch vụ cảng biển. Nh vậy
cảng biển Việt Nam là đầu mối của lu thông hàng hoá, là trung gian của quá
trình từ sản xuất đến tiêu dùng của hầu hết các loại hàng hoá. Nói cách khác
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
cảng biển và dịch vụ cảng biển là một mắt xích cho các hoạt động kinh tế đối
ngoại.
Cảng biển không chỉ đóng một vai trò quan trọng trong dây chuyền sản
xuất của nền kinh tế quốc dân mà hoạt động của nó còn liên quan đến nhiều
lĩnh vực khác nh buôn bán, giao dịch, đại lý, môi giới, bảo hiểm, luật pháp, tài
chính, ngân hàng, du lịch, Và chính những hoạt động này đem lại một nguồn
lợi đáng kể đối với các quốc gia có biển. Chẳng hạn, một con tàu ra vào cầu
cảng kéo theo bao dịch vụ đi kèm chẳng hạn nh dịch vụ lai dắt, hoa tiêu cho tàu
vào vị trí an toàn. Khi tàu đã vào vị trí neo đậu an toàn, dịch vụ bốc xếp hoặc dỡ
hàng tiếp tục phát huy hiệu quả. Bên cạnh đó còn hàng loạt các dịch vụ khác
nh lu kho lu bãi hàng hoá hay cung ứng cho tàu lơng thực, thực phẩm và nhiên
liệu. Tất cả những hoạt động này đều đợc thu phí và đem lại một nguồn lợi đáng
biển và cha có sự quan tâm, đầu t thích đáng vào cảng và dịch vụ tại cảng. Do
đó, việc tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại cảng,
phát triển dịch vụ tại cảng là những việc làm cấp thiết hiện nay. Trớc hết, chúng
ta cần đánh giá đúng những u, nhợc điểm, cơ hội và thách thức đối với sự phát
triển của dịch vụ cảng.
4.1. Thế mạnh đối với việc phát triển dịch vụ cảng
Theo đánh giá của các chuyên gia hàng hải nớc ngoài, Việt Nam có những
thế mạnh sau đây để phát triển dịch vụ cảng biển:
- Nằm ở ví trí gần với các tuyến đờng vận tải hàng hải quốc tế chính và trong
khu vực phát triển năng động nhất thế giới.
- Nớc ta có bờ biển dài hơn 3200 km với nhiều vị trí thuận lợi, đợc thiên nhiên -
u đãi, có thể xây dựng và phát triển cảng
- Về thị trờng, chúng ta độc quyền phục vụ thị trờng 78 triệu dân, không bị chia
sẻ với các nớc khác trừ cảng VICT là cảng liên doanh:
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
- Về việc đầu t cơ sở hạ tầng và thiết bị cảng từ lâu vẫn tồn tại cơ chế "xin-
cho". Cảng chỉ việc lập luận chứng kinh tế kĩ thuật trình lên Nhà nớc là xin đợc
vốn để đầu t.
- Mức độ cạnh tranh vẫn cha khốc liệt do đợc Nhà nớc bảo hộ, không cho phép
các yếu tố nớc ngoài khai thác thị trờng.
4.2. Khó khăn đối với việc phát triển dịch vụ cảng biển Việt Nam
- Thực trạng của hệ thống cảng biển Việt Nam (cơ sở hạ tầng, thiết bị, độ sâu
cầu bến, vị trí cảng để phát triển, mở rộng cảng ) còn đang trong tình trạng lạc
hậu, không đồng bộ thống nhất và cha phù hợp với xu hớng phát triển của vận
tải biển thế giới.
- Hiệu quả khai thác cảng thấp, không có khả năng cạnh tranh với cảng trong
khu vực về năng suất, chất lợng và giá cả dịch vụ. Hiện tại chúng ta cha đủ điều
kiện để lôi kéo các tàu container trên 1.200 TEU, cha đáp ứng đợc các dịch vụ
trung chuyển container cũng nh dịch vụ tiếp vận, phân phối hàng, vận tải đa ph-
ơng thức theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây là lĩnh vực mũi nhọn để cạnh tranh hiện
Việt Nam. Điều quan trọng là chúng ta cần phải biết phát huy những thuận lợi,
và vợt qua những khó khăn để thúc nâng cao khả năng cạnh tranh của dịch vụ tại
cảng Việt Nam
Chơng II
Thực trạng dịch vụ cảng biển Việt Nam
I. Các nhân tố ảnh hởng đến dịch vụ cảng biển
1. Cơ sở vật chất kĩ thuật
Dịch vụ cảng biển và các bịên pháp phát triển Phạm Thị Mai Diệp A7 - K37
Ngày nay, với hơn 3200 km chiều dài bờ biển, Việt Nam có trên 90 cảng
biển lớn nhỏ với tổng chiều dài cầu cảng gần 24000 m, nhng năng suất khai
thác cảng rất thấp chỉ bằng 40 ữ 50% so với khu vực. Thực tế khai thác tại cảng
biển Việt Nam thấp do Việt Nam cha có hệ thống cảng hoàn thiện, hợp lý.
Trong xu hớng phát triển hiện nay của ngành vận tải biển thế giới là sử dụng tàu
trọng tải lớn và chuyên chở bằng container thì hệ thống cảng biển Việt Nam vẫn
thiếu cảng chuyên dụng, cảng nớc sâu, cảng trung chuyển do vậy đã bỏ lỡ một
mảng thị trờng rộng lớn. Hơn nữa, trang thiết bị của các cảng hiện có thì quá cũ
kĩ, lạc hậu không đáp ứng đợc yêu cầu đa đón và bốc xếp hàng hoá đối với các
tàu có trọng tải lớn và hiện đại Khả năng khai thác dịch vụ của cảng bị hạn
chế xuất phát từ chính thực trạng yếu kém của hệ thống cảng biển Việt Nam.
1.1. ảnh hởng đến dịch vụ khai thác tàu
Khai thác thị trờng dịch vụ liên quan đến tàu là một trong những nhiệm vụ
và chức năng quan trọng của cảng biển bao gồm có dịch vụ đa đón tàu ra vào
cảng, dịch vụ cung ứng cho tàu và dịch vụ sửa chữa nhỏ tại cảng. Muốn đẩy
mạnh đợc các loại dịch vụ này thì yếu tố quan trọng hàng đầu là phải tạo mọi
thuận lợi cho tàu vào cảng, rồi từ đó mới có các dịch vụ khác phát sinh. Số lợt
tàu ra vào các cảng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan (nh sản lợng
hàng xuất nhập trong năm), và chủ quan hay chịu ảnh hởng trực tiếp từ cơ sở vật
chất của cảng biển. Mỗi cảng dặc trng bởi những thông số kĩ thuật riêng nh
chiều dài cầu cảng cho biết số lợng tàu tối đa có thể vào cảng làm hàng cùng
một lúc hoặc độ sâu luồng cho biết trọng tải tối đa của tàu cho phép ra vào
qua cảng (tấn)
1995 18.705 -------- 34.000.000
1996 21.583 74.500.000 36.600.000
1997 22.405 85.200.000 45.763.820
1998 22.639 96.100.000 56.576.260