z
TIỂU LUẬN:
Biện pháp phát triển thị trường bán
hàng của công ty cổ phần vận tải và
dịch vụ Petrolimex Hà Tây
Lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trường,định hưóng XHCN hiện nay bất kỳ một doanh
những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường
và phát triển thị trường I-Lý luận cơ bản về thị trường của doanh nghiệp :
1-Khái niệm cơ bản về thị trường:
Một trong những quy luật cơ bản nhất của nền sản xuấthàng hoá là quy luật
cung cầu trong mối quan hệ sản xuất tiêu dùng.Sản xuất là sáng tạo ra các thuộc tính
hàng hoá của sản phẩm vá được xác định để bán,vì vậy tạo lập nguồn cung.Mặt khác
ở người tiêu dùng tồn tại những thu nhập dưới hình thức tiền tệ và trở thành nguồn
cầu.Do những cách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng, tất yếu dẫn đến sự mất cân đối
cung-cầu cho từng loại sản phẩm,cũng như cho tổng cung tổng cầu xã hội. Sự vận
động cung và cầu phát sinh giá cả được thể hiện tập trung trong hoạt động mua bán
hàng hoá bằng tiền tệ ở những thời gian,không gian,đối tượng, phương thức khác
nhau tạo ra khái niệm “thị trường”.
Như vậy thị trường tồn tại ở mọi nơi ,mọi lúc ,mọi lĩnh vực và mọi hình
thái,nếu tồn tại tác động của các quy luật kinh tế khách quan.
Có rất nhiều khái niệm thị trường được miêu tả ở nhiều góc độ rất khác
nhau,song điều cơ bản xét sự hình thànhcủa thị trường phải có:
- Đối tượng trao đổi:Sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ.
- Đối tưọng tham gia trao đổi:Bên bán và bên mua.
- Điều kiện thực hiện trao đổi:Khả năng thanh toán.
Vậy ta có thể khái niệm tổng quát về thị trường như sau:”Thị trường là biểu
hiện của quá trình mà trong đó thể hiện các quyết định của người tiêu dùng về hàng
hoá và dịch vụ,cũng như quyết định của các doanh nghiệp về số lượng ,chất
lượng,mẫu mã của hàng hoá.Đó là nhữnh mối quan hệ giữa tổng số cung và tổng số
cầucủa từng loại hàng hoá cụ thể”.
2-Phân loại thị trường: -Thị trường hàng hoá:Đối tượng trao đổi là hàng hoá với mục tiêu thoả mãn nhu cầu
tiêu dùng về vật chất .Thị trường hàng hoá có thể chia thành thị trường tư liệu sản
xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng.
-Thị trường dịch vụ:Là thị trường trao đổi các loại dịch vụ như:Sửa chữa , khách
sạn,du lịch và các dịch vụ khác.Thị trường này sử dụng các lệnh điều phối trực tiếp.
3-Vai trò của thị trường đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp:
Trong sản xuất kinh doanh thị trường đóng vai trò hết sức quan trọng,nó là yếu
tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Thị trường là khâu tất yếu của quá trình tái sản xuất do quá trình hàng hoá bao
gồm sản xuất , phân phối trao đổi và tiêu dùng .Thị trường là chiếc cầu nối giữa sản
xuất và tiêu dùng.Thị trường chỉ không tồn tại khi không có sản xuất hàng hoá và
tiêu dùng.
Mục đích của các doanh nghiệp thương mại là tối đa hoá lợi nhuận.Vậy doanh
nghiệp phảitiêu thụ được hàng hoá nhanh nhất vói số lượng nhiều nhất.Dựa trên cơ
sở thoả mãn tốt nhất nhu cầu người tiêu dùng và hoạt động này chỉ có thể thực hiện
được trên thị trường.Do đó thị trường là sống còn đói với tất cả các doanh nghiệp ,là
môi trường sống của các doanh nghiệp.Bán được hàng hoá nhanh tạo ra khả năng
quay vòng vốn và lợi nhuận cao, nên hoạt động bán hàng có ý nghĩa rất lớn nó được
thể hiện; trực tiếp thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá phục vụ sản xuất và đời
sống xã hội .Chuyển hàng hoá thành tiền tệ ,thực hiện giá trị hàng hoá . giữ được chữ
tín của doanh nghiệp trên thị trường ,ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin và khả năng
tái tạo nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường . Do vậy ,còn thị trường mới còn
sản xuất ,nếu mất thị trường thì sản xuất kinh doanh bị đình trệ . Thị trường phá vỡ
danh giới sản xuất tự nhiên ,tự cung tự cấp ,tự túc để tạo thành thể thống nhất trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân . Qua trao đổi mua bán giữa các vùng sẽ biến kiểu tổ
chức khép kín thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá liên hệ mật thiết
với nhau . Chuyển nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá .
Thị trường hướng dẫn sản xuất kinh doanh ,các nhà sản xuất kinh doang sẽ căn
*Chức năng thực hiện:
Chức năng thực hiện được thể hiện ở chỗ thị trường là nơi diễn ra các hành vi
trao đổi, mua bán, thể hiện được giá trị sử dụng của hàng hoá, thể hiện các tính chất
,đặc trưng khi sử dụng hàng hoá đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Thực hiện tổng số
cung và tổng số cầu trên thị trường, thực hiện cung –cầu của từng loại hàng, nhóm
hàng. Thực hiện cân bằng cung –cầu hàng hoá…Thông qua chức năng thực hiện của
thị trường mà tất cả các loại hàng hoá hình thành nên giá trị trao đổi của mình, làm
cơ sở cho sự phân phối các nguồn lực.
*Chức năng điều tiết kích thích:
Thị trường vốn có những quy luật và hoạt động riêng của nó.Các quy luật và cơ
chế vận hành đó được thị trường thực hiện là chức năng điều tiết và kích thích thông
qua sự cạnh tranh vốn có giữa các nghành ,mà đặc biệt ngay ngắt của cùng một
nghàng thị trường điều tiết được sự chuyển vốn từ các nghàng có lợi nhuận thấp sang
các nghành có lợi nhuân cao,nhờ đó một số loại sản phẩm bị giảm về số lượng sản
xuất.Chính sự vận động này tạo nên sự cân bằng cung –cầu hàng hoá, dịch vụ tren thị
trường .Vì vậy các doanh nghiệp muốn thành công trên thị trường thì họ phải sử
dụng triệt để những lợi thế và cơ hội của mình, nhưng đồng thời phải tính toán kỹ về
các khoản chi phí để có thể thu được lợi nhuận siêu nghạch.
*Chức năng thông tin:
Thông tin về thị trường có vai trò rất quan trọng đối với quản lý vĩ mô và sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh thương mại .Việc thu thập thông tin và
xử lý thông tin có độ chinh xác cao bao nhiêu thì càng tốt cho doanh nghiệp bấy
nhiêu, việc ra các quyết định, chính sách ,chiến lược của doanh nghiệp đạt hiệu quả
càng cao. Nếu không có thông tin thị trường thì không thể ra quyết định, nếu ra quyết
định thì sẽ gây ra những sai lầm khủng khiếp, có thể dẫn đến thua lỗ ,giải thể hay phá
sản doanh nghiệp. Thông tin thị trường tương đối phong phú và đa dạng về tổng
cung, tổng cầu, giá cả, cơ cấu cung cầu và hướng phát triển của các loại hàng hoá,
tâm đến sự thay đổi về cơ cấu gia đình , phong tục tập quán .Lối sống cũng tác động
đến nhu cầu mua sắm từng loại mặt hàng.
*Môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tốtự nhiên như: Đất đai, tài
nguyên thiên nhiên…Nó ảnh hưởng nhiều mặt cắc nguồn nguyên vật liệu đầu vào
cần thiết cho các doanh nghiệp và do vậy chúng có thể gây biến động lớn trên thị
trường.
Sự thiếu hụt tài nguyên cho sản xuất công nghiệp bắt buộc các nhà sản xuất
phải nghiên cưú nguồn nhiên liệu để thay thế để đáp ứng cho sự phát triển của nền
kinh tế nói chung .
Trong việc phát triển công nghiệp hầu như bao giờ cũng gây tổn hại cho môi
trường. Các chất thải công nghiệp (rắn, lỏng, khí ) và cả những chất thải không thể
tái chế làm ô nhiễm môi trường tự nhiên ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển kinh
tế. Ngày nay ý thức bảo vệ môi trường của xã hội đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo
ra các sản phẩm có độ an toàn cao , không ô nhiễm môi trường dẫn tới việc thị
trường công nghệ sử lý cácchất thải công nghiệp được mở rộng và ngày càng phát
triển.
* Môi trường công nghệ:
Do sự phát triển của khoa học kỷ thuật tạo ra một nền công nghiệp tiên tiến ,
làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh , đặc biệt là những phát minh sáng tạo, sáng
chế, các thành tựu khoa học được ứng dụng và có thể làm thay đổi nhu cầu làm cho
thị trường ngày càng sinh động . Môi trường công nghệ gây tác động mạnh mẽ tới
sức sáng tạo sản phẩm và cơ hội tìm kiếm thị trường mới. Sự cạnh tranh về kỹ thuật
công nghệ mới không chỉ cho phép các doanh nghiệp dành thắng lợi mà conf thay
đổi bản chất của quá trình cạnh tranh. Khi áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
lao động sẽ thay đổi rất nhiều. Do vậy các doanh nghiệp cần phải nắmm bắt và hiểu
rõ được bản chất của những thay đổi trong môi trường công nghệ. Cùng nhiều
theo xu hướng tôn trọng các giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời mong muốn
thoả mãn nhu cầu và có khả năng thanh toán dưới thu nhập của họ .
2-Nghiên cứu chi tiết thị trường của doanh nghiệp :
Thực tế cho thấy , khi chuyển sang kinh tế thị trường các doanh nghiệp phải tự
hoạch toán lỗ lãi , không còn được bao cấp như trước nữa . Cho nên các doanh
nghiệp đều phải lấy thị trường làm môi trường sống của mình , đây là quan điểm
đúng đắn các doanh nghiệp cần được phát huy. Mục tiêu nghiên cứu thị trường của
các doanh nghiệp còn đơn giản nên thu thập thông tin và tìm kiếm thông tin như
cung – cầu , giá cả…Của hàng hoá còn kém . Những thông tin thu được chủ yếu là
qua nhân viên bán hàng , do đó chưa phản ánh được toàn bộ thị trường mà chỉ phản
ánh thị trường riêng của doanh nghiệp , điều này không có lợi cho chiến lược kinh
doanh lâu dài.
Nhìn chung hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong những năm vừa
qua thì so với các doanh nghiệp nhà nước , doang nghiệp tư nhân, công ty cổ phần
nhanh nhậy và thích ứng kịch thời hơn so với sự vận động của thị trường , kết quả
kinh doanh đạt được không cao hơn nhưng nói chung thí chi phí cho nghiên cứu thị
trường còn chưa được hợp lý . Đặc biệt là các doanh nghiệp , bộ phận nghiên cứu còn
thiếu cán bộ Marketing chuyên nghiệp hoặc nghiên cứu thị trường còn chưa khoa
học , xâm nhập và mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài còn yếu , mà chỉ coi
các khách hàng truyền thống , các bạn hàng lâu năm là thị trường mục tiêu . Từ đó
dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thấp . Do đó doanh nghiệp cần đầu
tư cho nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp một cánh thích đáng, không nên cho
rằng vốn ít không có khả năng đầu tư vì hiệu quả mang lại từ việc đầu tư này là rất
lớn .
*Thị phần thị trường của doanh nghiệp trên thị trường .
Hiện nay chúng ta đang thực hiện chính sách mở cửa thì hàng hoá nước ngoài
đã xâm nhập vào thị trường trong nước rất đa dạng và phong phú làm tăng khả năng
khách hàng . Bởi vì trong nền kinh tế thị trường chính khách hàng mới là người
quyết định chất lượng hàng hoá , thị trường góp phần cải thiện nâng cao chất lượng
tiêu dùng hàng hoá
*Giá cả thị trường :
Giá cả thị trường là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường . Giá thị
trường là mức giá tồn tại trên thị trường , đó là giá mà người bán thực nhận được từ
hàng hoá của mình và người mua thực trả cho hàng hoá nhận được .
Giá chuẩn là mội quan niệm có tính chất lý thuyết để phản ánh mứ giá tại điểm
cân bằng của hai đường cong cung và cầu thị trường có xu hướng tiệm cận nó .
Giá thị trường được tạo nên bởi bốn yếu tố :
-Giá trị cá biệt hàng hoá .
-Tác động của quan hệ cung-cầu hàng hoá
-Giá trị đồng tiền
-Cạnh tranh
Điều đó cho thấy đứng trên giác độ xã hội mà xét thì trạng thái tối ưu tương
quan về cung-cầu là sự cân bằng , cân đối , sự phù hợp của chúng về số lượng cơ cấu
mặt hàng trong không gian . Cân đối cung-cầu là đặc tính chung nhất cho tất cả các
phương thức sản xuất , kinh doanh phải năng động , đáp ứng kịp thời những tình
huống của kinh tế thị trường .
* Mẫu mã hàng hoá của doanh nghiệp với thị trường :
Mẫu mã hàng hoá là nhằm phân biệt hàng hoá của doanh nghiệp vơí hàng hoá
của doanh nghiệp khác chủ yếu là chất lượng hàng hoá . Mẫu mã tốt được lựa chọn
sẽ mang lại mội số lơi ích . Nó có thể tạo ra mội mặt hàng mang hình ảnh doanh
nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh đơn điệu , từ đó mang lại một chu kỳ tái định vị
cho mặt hàng . Sản phẩm trong giai đoạn chín muồi của chu kỳ sống . Mặt khác một
mẫu mã tốt còn tạo điều kiện giao tiếp giá với khách hàng và kích thích lựa chọn ,
mua dễ dàng hơn . Doanh nghiệp cần nghiên cứu , nắm bắt và so sánh hiệu lực của
hàng hoá của thị trường , công việc này thành công hay không phụ thuộc vào chính
sách và định hướng phát triển do ban lãnh đạo doanh nghiệp vạch ra . tuỳ thuộc vào
từng giai đoạn cụ thể , từng thực trạng kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà họ có
những kế hoạc ngắn hạn , trung hạn hay dài hạn . Đối với một doanh nghiệp muốn
đứng vững trên thị trường thì bộ phận lãnh đạo phải đưa ra các mục tiêu , chiến lược ,
phương châm và quyết định trên cỏ sở lợi ích chung của tập thể và chúng phải chứa
đựng trong đó thế mạnh tổng hợp của mọi bộ phận , phòng ban trong doanh nghiệp .
*Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp :
Cạnh tranh là quy luật của nền kinh tế , mỗi quyết định của đối thủ cạnh tranh
đều ảnh hưởng đến thị trường nói chung và đến doanh nghiệp nói riêng . Nhiều
doanh nghiệp cứ lầm tưởng người tiêu dùng có nhu cầu về giá trị hàng hoá của mình
, nhưng về bản chất là họ cần giá trị sử dụng hàng hoá đó . Trên thị trường có rất
nhiều sản phẩm thay thế cho họ lựa chọn , đôi khi các nhu cầu này bị triệt tiêu nhau ;
sự thành công của doanh nghiệp này lại chính là thất bại của doanh nghiệp khác , sự
phát triển thị trường của doanh nghiệp này lại chính là sự thu hẹp thị trường của
doanh nghiệp kia . Vì vậy mọi quyết định của doanh nghiệp không thể bỏ qua yếu tố
cạnh tranh .
2 – Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển thị trường của doanh nghiệp:
*Nhóm chỉ tiêu định lượng:
-Tốc độ tăng trưởng lượng hàng hoá tiêu thụ và doanh thu bán hàng của doanh
nghiệp :Đây là hai nhân tố biểu hiện sự phát triển thị trường của doanh nghiệp.
Doanh thu bán hàng của doanh nghiệp là khoản tiền mà doanh nghiệp có được
do tiêu thụ hàng hoá :
Trong đó:
Như vậy doanh thu chụi ảnh hưởng của hai nhân tố; giá bán của từng mặt hàng
và sản lượng tiêu thụ mặt hàng đó . Trong hai nhân tố này thì nhân tố thứ hai được
coi là chỉ tiêu phát triển thị trường . Nếu doanh thu tăng không phải do sản lượng
*Nhóm chỉ tiêu định tính :
-Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp :
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét là khả năng nội lực tiềm
ẩn có thể đem lại một sự phát triển mạnh mẽ cho doanh nghiệp trong tương lai , nó
có quan hệ chặt chẽ với thị phần của doanh nghiệp . Một công ty có thị phần lớn là có
thế lực trên thị trường và do đó đương nhiên là có sức cạnh tranh mạnh , khả năng
mở rộng thị trường baô giờ cũng dễ dàng hơn các công ty khác.
Việc đánh giá khẳ năng cạnh tranh của doanh nghiệp thường vấp phải những
khó khăn nhất định . Ngoài những nỗ lực biểu hiện mang tính bề ngoài như ; lợi thế
về sản phẩm , nguyên liệu , bao bì , đóng gói giá cả … thì doanh nghiệp còn cần các
thông tin về khả năng tiềm ẩn như tài chính nhân lực … song cái cốt yếu là doanh
nghiệp phải tìm kiếm các thông tin về đói thủ để qua đó so sánh những cái gì mình có
được với những cái gì đang là thế mạnh , điểm yếu của họ . Từ đó tìm biệm pháp
khai thác điểm mạnh của mình , đánh vào điểm yếu của đối thủ .
-Mức độ thoả mãn của người tiêu dùng đối với hàng hoá của doanh nghiệp
Mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng mà hàng hoá của doanh nghiệp
mang lại được thể hiện qua các chỉ tiêu về :
Chất lượng :
Mặt hàng cung ứng :
Giá cả và phương thức thanh toán :
Điều kiện khác :
Mức độ thoả mãn người tiêu dùng có thể coi là điều kiện của sự phát triển cho
doanh nghiệp , độ thoả mãn người tiêu dùng về hàng hoá của doanh nghệp càng cao
thì doanh nghiệp càng có khả năng giữ vững và phát triển thi trường của mình .
doanh nghiệp .
Xí nghiệp vận tải và dịch vụ thuộc công ty xăng dầu Hà Sơn Bình được thành lập
theo quyết định số 397 / QĐ - TCT ngày 24/09/1999 của tổng công ty xăng dầu Việt
Nam và chính thức hoạt động từ ngày 01/10/1999 .
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà
Nước nhằm mục đích huy động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ , nâng cao sức cạnh
tranh , cải tiến phương thức quản lý , tạo điều kiện để người lao động có cổ phần , thật
sự là chủ nhân và tham gia quản lý doanh nghiệp nhà nước . Mục tiêu của cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước là nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp , góp phần
tăng trưởng kinh tế và tạo thêm việc làm , hoạt động năng động hơn , tăng thu nhập
cho người lao động .
Xí nghiệp vận tải và dịch vụ trực thuộc công ty xăng dầu Hà Sơn Bình được Bộ
Thương Mại và Tổng công ty xăng dầu Việt Nam quyết định chuyển thành công ty cổ
phần hoạt động theo hình thức quản lý mới , đa dạng hoá sở hữu , hoạt động năng động
hơn hiệu quả hơn .
Căn cứ vào luật doanh nghiệp được quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá X thông qua ngày 12/06/1999
Căn cứ vào nghị định 44/1998 NĐ - CP ngày 29/06/1998 của chính phủ về việc
chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và các thông tư hướng dẫn của
các cơ quan quản lý nhà nước về công tác cổ phần hoá .
Căn cứ vào quyết định số 1362/ QB / BTM ngày 03/10/2000 của Bộ Trưởng Bộ
Thương Mại về việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần .
Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hà Tây được chính thức đưa vào
hoạt động 01/10/2000 .
Do xã hội ngày càng phát triển , nhu cầu về hàng hoá ngày càng tăng đòi hỏi các
doanh nghiệp muốn có vị trí trên thi trường cần có nhiều mặt hàng chất lượng để đáp
ứng nhu cầu của người tiêu dùng .
lý của công ty gọn nhẹ , tổ chức điều hành chung mọi hoạt động của công ty là Đại hội
đồng cổ đông . Đại hội đồng cổ đông bầu hội đồng quản trị để quản lý công ty theo
nhiệm kỳ , bầu ban kiểm soát để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và công
tác điều hành quản lý công ty . Hội đồng quản trị bổ nhiện giám đốc để điều hành hoạt
động hàng ngày của công ty . Giám đốc chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về
việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ được giao . Giúp việc cho gián đốc có phó giám
đốc .
Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty Đại hội
đồng
xe
Đội
công
Xưởng
s
ửa
Các
CHXD
* Đại hội đồng cổ đông : là cơ quan quyết định cao nhất của công ty bao gồm các cổ
đông có quyền biểu quyết . Đại hội đồng cổ đông họp mỗi năm một lần hoặc bất
thường theo quy định của điều lệ này .
- Chức năng và nhiệm vụ của đại hội đồng cổ đông : Quyết định loại cổ phần,quyết
định việc tăng giảm vốn , bầu thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát , thông
qua báo cáo tài chính hàng năm , xem xét sai phạm và quyết định sử lý đối với thành
viên hội đồng quản trị , quyết định tổ chức lại và giải thể công ty.
*Ban kiểm soát : là cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% số cổ phần phổ thông
trở lên trong thời hạn ít nhất 6 tháng theo quy định tại khoản 14.6 điều 14 của điều lệ
này ( Ban kiểm soát có 3 thành viên trobg đó phải có ít nhất một thành viên có chuyên
môn về kế toán . Ban kiểm soát do đại hội đồng cổ đông bầu và bãi nhiệm ) .
- Chức năng và nhiệm vụ của ban kiểm soát : kiểm tra tính hợp lý , hợp pháp
trong quản lý , điều hành mọi hoạt động kinh doanh , thẩm định báo cáo tài chính hàng
năm của công ty , giám sát hội đồng quản trị , thường xuyên thông báo với hội đồng
quản trị về tình hình kết quả kinh doanh , được quyền yêu cầu các phòng ban cung cấp
thông tin số liệu , kiến nghị biện pháp cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý điều hành hoạt
động kinh doanh của công ty .
động sản xuất kinh doanh , quản lý tài sản , vốn , lập chứng từ thu chi đúng qui định ,
tổng hợp báo cáo định kỳ .
* Phòng kinh doanh
Chức năng : Tham mưu giúp giám đốc chỉ đạo quản lý , quy hoạch , phát triển thị
trường kinh doanh đạt hiệu quả cao .
- Nhiệm vụ : Xây dựng kế hoạch , phương hướng kinh doanh hàng năm và dài
hạn , đề xuất các giải pháp thực hiện kế hoạch , phương án mở rộng thị trường kinh
doanh , xây dựng cơ chế quản lý kinh doanh vận tải và kinh doanh các dịch vụ khác .
* Phòng tổ chức hành chính :
- Chức năng :Tham mưu giúp giám đốc các lĩnh vực công tác tổ chức hành chính
, lao động tiền lương , phương án lựa chọn bố trí cán bộ lao động .
- Nhiệm vụ :Xây dựng , sắp xếp lao động , hoàn thiện mô hình tổ chức , thực
hiện nghiệp vụ công tác tổ chức cán bộ , lao động . Thực hiện công tác đào tạo , an
toàn bảo hộ lao động . Thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động theo
qui định của pháp luật .
* Phòng kỹ thuật :
- Chức năng : Tham mưu giúp giám đốc các lĩnh vực quản lý kỹ thuật ngành
hàng kinh doanh , đàu tư khoa học kỹ thuật công nghệ .
- Nhiệm vụ :
+ Xây dựng kế hoạch hàng năm và dài hạn về đàu tư sửa chữa , bảo dưỡng phương
tiện , công nghệ phục vụ sản xuất kinh doanh , phẩm chất , đo lường , PCCC , vệ sinh
môi trường
+Xây dựng hoàn thiện nội quy ,quy trình ,các định mức kinh tế, kỹ thuật .
+ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất .
* Đội vận tải có nhiệm vụ :
+ Tổ chức thực hiện vận tải xăng dầu , các sản phẩm hoá dầu và các hàng hoá khác
theo qui định của công ty và pháp luật .
dụng .
*Đặc điểm mặt hàng kinh doanh của công ty:
- Kinh doanh , vận chuyển xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ :
Trong công cuộc đất nước đang trong tiến trình hiện đại hoá , công nghiệp hoá thì
xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ là mặt hàng thiết yếu cho nhu cầu sử dụng của thị
trường . Không một nghành công nghiệp nào là không sử dụng các loại dầu mỡ nhờn ,
còn các phương tiện giao thông , máy móc…Đều phải sử dụng nhiên liệu xăng , dầu .
Song với việc kinh doanh xăng dầu , vận chuyển xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ lại
phức tạp hơn nhiều các loại hàng hoá khác . Xăng dầu là mặt hàng dễ gây cháy nổ , có
ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động , ảnh hưởng đến môi trường và đặc biệt do
tính chất của xăng dầu bay hơi ở nhiệt độ thấp nên trong các khâu của quá trình kinh
doanh đều phải chịu hao hụt . Doanh nhgiệp kinh doanh xăng dầu phải đảm bảo công
tác phòng chống cháy nổ đảm bảo an toàn trong kinh doanh , hạn chế sự độc hại với
người lao động , ô nhiễm môi trường và cố gắng giảm tỷ lệ hao hụt ở các khâu trong
quá trình kinh doanh .
- Kinh doanh vật tư , xây lắp công trình xăng dầu và các dịch vụ khác :
Đặc điểm của các mặt hàng , dịch vụ kinh doanh này đòi hỏi doanh nghiệp phải có
những chuyên gia giỏi về kỹ thuật , trình độ kỹ thuật của công nhân phải có tay nghề
cao . Kinh doanh trong lĩnh vực này phải chịu sự cạnh tranh cực kỳ lớn trên thị trường
vì nó cần ít vốn , ít lao động…Nên có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân xuất hiện trên thị
trường.
* Đặc điểm mạng lưới tiêu thụ của công ty:
-Kinh doanh vận chuyển xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ:
Vận chuyển xăng dầu đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn hàng cho các mạng lưới cửa
hàng cho khu vực Hà Sơn Bình . Trong lĩnh vực kinh doanh vận chuyển xăng dầu công
ty đã có một đội xe đảm bảo chất lượng; có 50 xe téc phục vụ vận chuyển xăng dầu
bằng 390 (m3) phương tiện và 3 xe vận chuyển dầu mỡ nhờn , gas bằng 7,7 (tấn)