1
Luận văn
Biện pháp phát triển thị
trường bán hàng của công
ty cổ phần vận tải và dịch
vụ Petrolimex Hà Tây
2
lời nói đầu
Trong nền kinh tế thị trường,định hưóng XHCN hiện nay bất kỳ
một doanh nghiệp nhà nước,công ty cổ phần,công ty tư nhân …Thì sự tồn
tại của công ty đều phải có thị trường của mình,sự phát triển của các công
ty là dựa vào sự phát triển thị trường của chính mình.Thị trường được coi
là điểm xuất phát,cũng là điểm kết thúc của quá trình sản xuất kinh
doanh.ở đâu có sản xuất,có tiêu dùng thì ở đó có thị trường.Mục tiêu của
các doanh nghiệp thương mại là tìm kiếm lợi nhuẩntên thị trường.Vậy các
doanh nghiệp phải nghiên cứu nhu cầu trên thị trường mới nắm bắt
đượcnhu cầu của thị trường trong từng thời kỳ khác nhau,doanh nghiệp
mới đưa ra thị trường những hàng hoá,dịch vụ nhằm đáp ứng đượcnhu cầu
của khách hàng với chất lượng phù hợp và số lượng tương đối chính
xác.Vậy phát triển thị trường một cách khoa học,đúng đắn,vạch ra đường
lối kinh doanh có hiệu quả luôn là một thách thức rất lớn đối với các doanh
nghiệp hiện nay.
Vấn đề thị trường và phát triển thị trường là một đề tài cực kỳ lớn
sản phẩm,cũng như cho tổng cung tổng cầu xã hội. Sự vận động cung và
cầu phát sinh giá cả được thể hiện tập trung trong hoạt động mua bán hàng
hoá bằng tiền tệ ở những thời gian,không gian,đối tượng, phương thức
khác nhau tạo ra khái niệm “thị trường”.
Như vậy thị trường tồn tại ở mọi nơi ,mọi lúc ,mọi lĩnh vực và mọi
hình thái,nếu tồn tại tác động của các quy luật kinh tế khách quan.
Có rất nhiều khái niệm thị trường được miêu tả ở nhiều góc độ rất
khác nhau,song điều cơ bản xét sự hình thànhcủa thị trường phải có:
- Đối tượng trao đổi:Sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ.
- Đối tưọng tham gia trao đổi:Bên bán và bên mua.
- Điều kiện thực hiện trao đổi:Khả năng thanh toán.
Vậy ta có thể khái niệm tổng quát về thị trường như sau:”Thị trường
là biểu hiện của quá trình mà trong đó thể hiện các quyết định của người
4
tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ,cũng như quyết định của các doanh
nghiệp về số lượng ,chất lượng,mẫu mã của hàng hoá.Đó là nhữnh mối
quan hệ giữa tổng số cung và tổng số cầucủa từng loại hàng hoá cụ thể”.
2-Phân loại thị trường:
*Căn cứ vào quan hệ mua bán quy mô quốc gia:
-Thị trường trong nước:Là thị trường mà ở đó hoạt động mua bán được
thực hiện trong phạm vi quốc gia và chủ yếu do người trong quốc gia đó
thực hiện.
-Thị trường thế giới:Là nơi diễn racác hoạt động mua bán giữa các quốc
gia với nhau.
* Căn cứ vào vai trò của từng khu vực:
-Thị trừơng chính còn gọi là thị trường trung tâm:Là thị trường có khối
lượng hàng hoá tiêu thụ trên tất cả thị trường và chịu sự cạnh tranh quyết
liệt.
-Thị trường chi nhánh :Là thị trường nhỏ và khối lượng hàng hoá tiêu thụ
3-Vai trò của thị trường đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiêp:
Trong sản xuất kinh doanh thị trường đóng vai trò hết sức quan
trọng,nó là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp.
Thị trường là khâu tất yếu của quá trình tái sản xuất do quá trình
hàng hoá bao gồm sản xuất , phân phối trao đổi và tiêu dùng .Thị trường là
chiếc cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng.Thị trường chỉ không tồn tại khi
không có sản xuất hàng hoá và tiêu dùng.
6
Mục đích của các doanh nghiệp thương mại là tối đa hoá lợi
nhuận.Vậy doanh nghiệp phảitiêu thụ được hàng hoá nhanh nhất vói số
lượng nhiều nhất.Dựa trên cơ sở thoả mãn tốt nhất nhu cầu người tiêu dùng
và hoạt động này chỉ có thể thực hiện được trên thị trường.Do đó thị
trường là sống còn đói với tất cả các doanh nghiệp ,là môi trường sống của
các doanh nghiệp.Bán được hàng hoá nhanh tạo ra khả năng quay vòng
vốn và lợi nhuận cao, nên hoạt động bán hàng có ý nghĩa rất lớn nó được
thể hiện; trực tiếp thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá phục vụ sản
xuất và đời sống xã hội .Chuyển hàng hoá thành tiền tệ ,thực hiện giá trị
hàng hoá . giữ được chữ tín của doanh nghiệp trên thị trường ,ảnh hưởng
trực tiếp đến niềm tin và khả năng tái tạo nhu cầu của người tiêu dùng trên
thị trường . Do vậy ,còn thị trường mới còn sản xuất ,nếu mất thị trường thì
sản xuất kinh doanh bị đình trệ . Thị trường phá vỡ danh giới sản xuất tự
nhiên ,tự cung tự cấp ,tự túc để tạo thành thể thống nhất trong toàn bộ nền
kinh tế quốc dân . Qua trao đổi mua bán giữa các vùng sẽ biến kiểu tổ chức
khép kín thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá liên hệ mật
thiết với nhau . Chuyển nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá .
Thị trường hướng dẫn sản xuất kinh doanh ,các nhà sản xuất kinh
doang sẽ căn cứ vào kết quả điều tra nhu cầu tiêu dùng của thị trường . Căn
đối với các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường hiện nay phải nghiên
cưú kỹ về thị trường, nắm rõ được nhu cầu của thị trường, hàng hoá phải
được đem ra bán thử. Nếu được mới bán, hay sản xuất đồng loạt thì mới
đảm bảo được hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
*Chức năng thực hiện:
Chức năng thực hiện được thể hiện ở chỗ thị trường là nơi diễn ra các
hành vi trao đổi, mua bán, thể hiện được giá trị sử dụng của hàng hoá, thể
8
hiện các tính chất ,đặc trưng khi sử dụng hàng hoá đáp ứng nhu cầu của
khách hàng. Thực hiện tổng số cung và tổng số cầu trên thị trường, thực
hiện cung –cầu của từng loại hàng, nhóm hàng. Thực hiện cân bằng cung –
cầu hàng hoá…Thông qua chức năng thực hiện của thị trường mà tất cả
các loại hàng hoá hình thành nên giá trị trao đổi của mình, làm cơ sở cho
sự phân phối các nguồn lực.
*Chức năng điều tiết kích thích:
Thị trường vốn có những quy luật và hoạt động riêng của nó.Các quy
luật và cơ chế vận hành đó được thị trường thực hiện là chức năng điều tiết
và kích thích thông qua sự cạnh tranh vốn có giữa các nghành ,mà đặc biệt
ngay ngắt của cùng một nghàng thị trường điều tiết được sự chuyển vốn từ
các nghàng có lợi nhuận thấp sang các nghành có lợi nhuân cao,nhờ đó
một số loại sản phẩm bị giảm về số lượng sản xuất.Chính sự vận động này
tạo nên sự cân bằng cung –cầu hàng hoá, dịch vụ tren thị trường .Vì vậy
các doanh nghiệp muốn thành công trên thị trường thì họ phải sử dụng triệt
để những lợi thế và cơ hội của mình, nhưng đồng thời phải tính toán kỹ về
các khoản chi phí để có thể thu được lợi nhuận siêu nghạch.
*Chức năng thông tin:
Thông tin về thị trường có vai trò rất quan trọng đối với quản lý vĩ
mô và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh thương mại .Việc
thu thập thông tin và xử lý thông tin có độ chinh xác cao bao nhiêu thì
độ học vấn.Thị trường vốn do con người hợp thành .Mục tiêu hoạt động
sản xuất kinh doanh cũng xuất phát từ nhu cầu của con người, nhằm phục
vụ con người và hướng tới nhu cầu của con người. Quy mô và tồc độ tăng
dân số phản ánh trực tiềp quy mô nhu cầu thị trường hiện tại và trong
tương lai ,và nó cũng thể hiện sự phát triển hay suy thoái của thị trường.
10
Dân số kéo theo nhu cầu của con người, dân số tăng thì nhu cầu tăng dẫn
tới thị trường cũng phát triển với sức mua khá lớn, nhưng nếu sức mua
giảm sút thì thị trường cũng bị thu hẹp. khi tìm hiểu về môi trường nhân
khẩu cũng cần quan tâm đến sự thay đổi về cơ cấu gia đình , phong tục tập
quán .Lối sống cũng tác động đến nhu cầu mua sắm từng loại mặt hàng.
*Môi trường tự nhiên:
Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tốtự nhiên như: Đất
đai, tài nguyên thiên nhiên…Nó ảnh hưởng nhiều mặt cắc nguồn nguyên
vật liệu đầu vào cần thiết cho các doanh nghiệp và do vậy chúng có thể
gây biến động lớn trên thị trường.
Sự thiếu hụt tài nguyên cho sản xuất công nghiệp bắt buộc các nhà
sản xuất phải nghiên cưú nguồn nhiên liệu để thay thế để đáp ứng cho sự
phát triển của nền kinh tế nói chung .
Trong việc phát triển công nghiệp hầu như bao giờ cũng gây tổn hại
cho môi trường. Các chất thải công nghiệp (rắn, lỏng, khí ) và cả những
chất thải không thể tái chế làm ô nhiễm môi trường tự nhiên ảnh hưởng
không tốt tới sự phát triển kinh tế. Ngày nay ý thức bảo vệ môi trường của
xã hội đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo ra các sản phẩm có độ an toàn cao
, không ô nhiễm môi trường dẫn tới việc thị trường công nghệ sử lý
cácchất thải công nghiệp được mở rộng và ngày càng phát triển.
* Môi trường công nghệ:
Do sự phát triển của khoa học kỷ thuật tạo ra một nền công nghiệp
tiên tiến , làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh , đặc biệt là những phát
*Môi trương văn hoá xã hội :
Môi trường văn hoá xã hội bao gồm các nhân tố đa dạng như phong
tục tập quán, các hành vi chuẩn mực, các giá trị văn hoá truyền thống, thái
12
độ,thị hiếu,thói quen , định hướnh tiêu dùng của mỗi dân tộc. Các giá trị
văn hoá truyền thống khó thay đổi tác động mạnh mẽ tới thái độ, hành vi
tiêu dùng của cá nhân , nhóm người. Tuy nhiên những giá trị văn hoá mang
tính thứ phát thì dễ thay đổi hơn và sẽ tạo ra cơ hội thị trường hay khuynh
hướng tiêu dùng mới . Do vậy các doanh nghiệp cần phải chú ý thích đáng
tới yếu tố văn hoá trước khi tiến hành xâm nhập hay phát triển thị trường
nào đó . Ngày nay đặc trưng môi trường văn hoá ở nước ta đang thay đổi
theo xu hướng tôn trọng các giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời
mong muốn thoả mãn nhu cầu và có khả năng thanh toán dưới thu nhập
của họ .
2-Nghiên cứu chi tiết thị trường của doanh nghiệp :
Thực tế cho thấy , khi chuyển sang kinh tế thị trường các doanh
nghiệp phải tự hoạch toán lỗ lãi , không còn được bao cấp như trước nữa .
Cho nên các doanh nghiệp đều phải lấy thị trường làm môi trường sống
của mình , đây là quan điểm đúng đắn các doanh nghiệp cần được phát
huy. Mục tiêu nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp còn đơn giản
nên thu thập thông tin và tìm kiếm thông tin như cung – cầu , giá cả…Của
hàng hoá còn kém . Những thông tin thu được chủ yếu là qua nhân viên
bán hàng , do đó chưa phản ánh được toàn bộ thị trường mà chỉ phản ánh
thị trường riêng của doanh nghiệp , điều này không có lợi cho chiến lược
kinh doanh lâu dài.
Nhìn chung hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong những
năm vừa qua thì so với các doanh nghiệp nhà nước , doang nghiệp tư nhân,
công ty cổ phần nhanh nhậy và thích ứng kịch thời hơn so với sự vận động
của thị trường , kết quả kinh doanh đạt được không cao hơn nhưng nói
mới thu được lợi nhuận tối đa . Còn doanh nghiệp nào chỉ hướng vào lợi
14
nhuận coi chất lượng hàng hoá là biện pháp nhất thời sẽ bị thất bại trong
kinh doanh . Mục đich kinh doanh vì người tiêu dùng , không lấy người
tiêu dùng làm phương tiện kinh doanh , quan điểm này xuất phát từ nguyên
tắc kinh doanh không định hướng vào người sản xuất mà phải định hướng
vào người tiêu dùng . Trên thị trường có rất nhiều sẩn phẩm nên doanh
nghiệp chịu chi phối của quy luật cạnh tranh . Vậy muốn hàng hoá có tính
cạnh tranh cao thì hàng hoáđó phải thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu xã
hội . Khoa học ngày càng phát triển, nó thúc đẩy sản xuất phát triển, thu
nhập của người tiêu dùng ngày càng cao , dẫn tới nhu cầu cao hơn, đòi hỏi
hàng hoá phải đa dạng hơn và họ cũng đòi hỏi rất nghiêm khắc tới chất
lượng hàng hoá . Hơn nữa thị trường là nơi phân phối-vận động hàng hoá
,kiểm tra chất lượng hàng hoá , bắt buộc các doanh nghiệp phải hạ thấp tối
đa hao hụt chất lượng . Doanh nghiệp còn phải phân loại , chỉnh lý , bao
gói lẻ , định lượng , làm tròn bộ…Để hàng hoá phù hợp nhất với kết cấu
mua hành của khách hàng . Bởi vì trong nền kinh tế thị trường chính khách
hàng mới là người quyết định chất lượng hàng hoá , thị trường góp phần
cải thiện nâng cao chất lượng tiêu dùng hàng hoá
*Giá cả thị trường :
Giá cả thị trường là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị thị
trường . Giá thị trường là mức giá tồn tại trên thị trường , đó là giá mà
người bán thực nhận được từ hàng hoá của mình và người mua thực trả cho
hàng hoá nhận được .
Giá chuẩn là mội quan niệm có tính chất lý thuyết để phản ánh mứ
giá tại điểm cân bằng của hai đường cong cung và cầu thị trường có xu
hướng tiệm cận nó .
Giá thị trường được tạo nên bởi bốn yếu tố :
-Giá trị cá biệt hàng hoá .
Chính tính phong phú và đa dạng của người tiêu dùng trên thị trường
, nhu cầu thị trường là nhu cầu có sức mua của người tiêu dùng về một loại
hàng hoá nào đó mà ngươì tiêu dùng đã sẵn sàng mua hoặc sẽ mua . Sức
mua tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của mọi tầng lớp dân cư , đây chính
là nhu cầu tiêu dùng có khả năng thanh toán . Do đó thu nhập của người
tiêu dùng tăng thì sức mua tăng và ngược thu nhập của người tiêu dùng
giảm thì sức mua giảm . Vậy sức mua có ảnh hưởng đến quyết định nhu
cầu tiêu dùng của thị trường .
Đặc điểm mua hàng: Trong xã hội có sự phân chia giầu nghèo , trên
thị trường thì khách hàng có thể là tổ chức hoặc cá nhân , họ cũng có thu
nhập khác nhau dẫn đến khả năng thanh toán khác nhau nên họ có nhu cầu
sử dụng hàng hoá khác nhau .Những khách hàng có thu nhập cao thường
sử dụng hàng có chất lượng cao còn khách hàng có thu nhập thấp họ
thường tiêu dùng hàng hoá thiết yếu cho cuộc sống.
Doanh nghiệp cần nắm chắc nhu cầu tiêu dùng của xã hội để phát
triển thị trường của mình bằng cách đa dạng hoá sản phẩm trong hoạt động
sản xuất kinh doanh để đáp ứng được nhu cầu của moị tầng lớp tiêu dùng
trên thị trường.
*Nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp :
Nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp là thoả mãn tốt nhất nhu cầu về
tiêu dùng hàng hoá của thị trường , công việc này thành công hay không
phụ thuộc vào chính sách và định hướng phát triển do ban lãnh đạo doanh
nghiệp vạch ra . tuỳ thuộc vào từng giai đoạn cụ thể , từng thực trạng kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp mà họ có những kế hoạc ngắn hạn , trung hạn
hay dài hạn . Đối với một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường
thì bộ phận lãnh đạo phải đưa ra các mục tiêu , chiến lược , phương châm
và quyết định trên cỏ sở lợi ích chung của tập thể và chúng phải chứa đựng
17
trong đó thế mạnh tổng hợp của mọi bộ phận , phòng ban trong doanh
phát triển thị trường của doanh nghiệp , chúng ta còn phải dựa trên các chỉ
tiêu định tính khác .
-Thị phần của doamh nghiệp :
Thị phần là chỉ tiêu phản ánh phần thị trường doanh nghiệp chiếm
lĩnh được trong tổng số thị trường cung ứng hàng foá đó . Đây là chỉ tiêu
phản ánh chính xác việt phát triển thi trường của doanh nghiệp . Để tính
được chỉ tiêu này doanh nghiệp phải tính chính xác được hàng hoá tiêu thụ
của mình trên thị trường , số lượng khách hàng mà doanh nghiệp có được .
Đây là cơ sở đảm bảo cho tính đúng đắn của chỉ tiêu thể hiện :
Tỷ trọng sản lượng tiêu thụ hàng hóa i của doanh nghiệp so với tổng sản
lượng hàng hoá i tiêu thụ trên thị trường của toàn nghành .
trong đó
Tỷ trọng khách hàng tiêu thụ hàng hoá i của doanh nghiệp so với thụ
hàng hoá i trên thị trường :
Về mặt lý thuyết thì doanh nghiệp hoàn toàn có thể phát triển hết thị
trường nghành và thu hút được toàn bộ số khách hàng có nhu cầu về hàng
hoá i , tức là tiêu diệt hết đối thủ cạnh tranh và trở thành người thủ lĩnh độc
quyền . Nhưng trên thực tế nhuẽng cản trở của đối thủ cạnh tranh , những
giới hạn về nguồn tài chính , sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước … không cho
phép bất cứ một doanh nghiệp nào có thể chiếm giữ vị chí độc quyền và tự
mình đặt ra gía cả . Chính vì vậy chỉ tiêu thị phần luôn luôn được các
doanh nghiệp quan tâm khi đánh giá việc phát triển thi trường . Nó thể hiện
vị thế của doanh nghiệp trên thị trường đồng thời phản ánh mức độ đạt
được mục tiêu giữ vững , xâm nhập và phát triển thị trường của doanh
nghiệp .
19
*Nhóm chỉ tiêu định tính :
-Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp :
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét là khả năng nội
chương ii : TìNH HìNH PHáT TRIểN THị TRƯờNG BáN HàNG ở
công ty cổ phần vận tải và dịch vụ PETROLIMEX
Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ Petrolimex Hà Tây là một đơnvị
hạch toán kinh doanh độc lập , có tài khoản và con dấu riêng .
Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ PETROLIMEX có tên giao dịch
quốc tế là:
PTS HA TAY ( Ha Tay Petrlimex Transportation and Service Joint - Stock
Company )
Trụ sở chính của công ty đặt tại : Km 17 - Quốc lộ 6 , Đồng mai ,
Thanh Oai , Hà Tây .
21
i . khái quát về sự phát triển của công ty :
1 . Quá trình hình thành và phát triển của công ty :
Công ty cổ phần vận tải và dịch vụ PETROLIMEX là doanh nghiệp
được thành lập dưới hình thức tách một bộ phận của công ty xăng dầu Hà
Sơn Bình
đưa vào hoạt động 01/10/2000 .
Do xã hội ngày càng phát triển , nhu cầu về hàng hoá ngày càng tăng
đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vị trí trên thi trường cần có nhiều mặt
hàng chất lượng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng .
2 . Chức năng nhiệm vụ của công ty:
*Chức năng của công ty :
Công ty tổ chức vận chuyển xăng dầu theo định hướng của Tổng
công ty xăng dầu Việt Nam , đảm bảo nguồn cung cấp xăng dầu cho các cửa
hàng bán lẻ xăng dầu trên thị trường khu vực Hà Sơn Bình . Tổ chức nguồn
hàng đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty trên thị trường trọng
điêmn Hà Sơn Bình . Tổ chức huy động vốn , sử dụng vốn , bảo toàn vốn và
phát triển vốn.
*Nhiệm vụ của công ty :
-Giữ vững thị phần vận tải hiện có trên địa bàn Hà Sơn Bình và mở
rộng thêm địa bàn mới . Tiếp tục phấn đấu giảm giá thành vận tải bằng cách
tăng năng suất lao động, giảm chi phí cho vận chyển nhằm nâng cao khẳ
năng cạnh tranh với phương tiện xã hội.
- Tập trung phát triển thị trường bán lẻ xăng dầu thông qua việc đầu tư
xây dựng các cửa hàng mới , liên doanh – liên kết , thuê cửa hàng , thuê địa
điểm kinh doanh và tổ chức tốt cho lái xe đi bán hàng lưu động .
23
- Tiếp tục đổi mới sắp xếp lại mô hình tổ chức sản xuất , hoàn thiện cơ
chế quản lý , công nợ , xoá bỏ mọi sự bao cấp nội bộ , nâng cao khả năng
cạnh tranh .
- Sắp xếp lại lao động theo hướng tinh gọn và có hiệu quả , mạnh dạn
giải quyết đối với số lao động dôi dư hoặc không đáp ứng được yêu cầu hoạt
động của doanh nghiệp .
- Tổ chức phân tích kinh tế hàng tháng , quý đánh giá hiệu quả của
khoán vận tải , cửa hàng …Để điều chỉnh và có các giải pháp cần thiết khắc
* Đại hội đồng cổ đông : là cơ quan quyết định cao nhất của công ty bao
gồm các cổ đông có quyền biểu quyết . Đại hội đồng cổ đông họp mỗi năm
một lần hoặc bất thường theo quy định của điều lệ này .
- Chức năng và nhiệm vụ của đại hội đồng cổ đông : Quyết định loại cổ
phần,quyết định việc tăng giảm vốn , bầu thành viên hội đồng quản trị và
ban kiểm soát , thông qua báo cáo tài chính hàng năm , xem xét sai phạm và
quyết định sử lý đối với thành viên hội đồng quản trị , quyết định tổ chức lại
và giải thể công ty.
*Ban kiểm soát : là cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% số cổ phần
phổ thông trở lên trong thời hạn ít nhất 6 tháng theo quy định tại khoản 14.6
Hi ng
qun tr
Giá
m c
Phó giám
c
Phòng K
biện pháp cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý điều hành hoạt động kinh doanh
của công ty .
* Hội đồng quản trị : là cơ quan quản lý công ty , có toàn quyền nhân danh
công ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích , quyền lợi của công
ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông .
- Chức năng và nhiệm vụ của hội đồng quản trị : quản lý công ty theo điều
lệ và nghị quyết của đại hội đồng cổ đông , quyết định chiến lược phát triển
công ty, quyết định phương án sản xuất kinh doanh , quyết định quy mô cơ
cấu tổ chức , quyết định thành lập chi nhánh mua cổ phần của công ty khác ,
bổ nhiệm , miễn nhiện , cách chức giám đốc , phó giám đốc và các trưởng
phòng . Chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật , vi phạm điều lệ .
Đình chỉ các quyết định của giám đốc nếu thấy vi phạm pháp luật và điều lệ
. Quyết định huy động vốn theo hình thức khác .
* Giám đốc :là người đại diện theo pháp luật của công ty , chịu trách nhiệm
trước hội đồng quản trị về quyền hạn và nhiệm vụ được giao . Giám đốc và
phó gián đốc trực tiếp điều hành các phòng ban chức năng , các cửa hàng
bán lẻ xăng dầu . Giám đốc trực tiếp quản lý công ty và chịu trách nhiệm
hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật .