Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
LỜI MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Công ty Cổ phần xuất nhập và hợp tác đầu tư (VILEXIM) là một công ty đa
ngành, đa chức năng với lịch sử lâu dài hơn 40 năm. Công ty kinh doanh trong nhiều
lĩnh vực nhưng xuất khẩu là hoạt động kinh doanh chính của công ty, đây là hoạt
động đem lại nhiều doanh thu và lợi nhuận nhất cho công ty. Đối với công ty xuất
nhập khẩu nói chung và VILEXIM nói riêng thì thị trường xuất khẩu có vai trò rất
quan trọng, nó không những quyết định mục tiêu của doanh nghiệp mà còn phản ánh
tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, điều tiết hướng dẫn việc sản xuất kinh doanh
các mặt hàng xuất khẩu. Do đó việc thâm nhập và phát triển thị trường xuất khẩu là
điều kiện tiên quyết dẫn đến thành công của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể
tồn tại, phát triển và đững vững trên thị trường, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, thị trường xuất khẩu của
công ty VILEXIM vẫn còn nhỏ bé. Công ty chưa thực sự chú trọng đến việc phát
triển thị trường cả về chiều rộng cũng như chiều sâu, chưa tạo được vị thế vững chắc
trên thương trường, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty còn bấp
bênh, phụ thuộc nhiều vào thị trường và khách hàng, chưa tìm kiếm được những thị
trường mới có triển vọng cho hoạt động xuất nhập khẩu, phần lớn các khách hàng
của công ty chủ yếu vẫn là những khách hàng truyền thống, đã có quan hệ làm ăn lâu
dài đối với công ty.
Công ty vẫn chưa tận dụng triệt để những lợi thế sẵn có của mình trong lĩnh
vực buôn bán quốc tế, còn phụ thuộc nhiều vào các nhà cung cấp. Mặc dù hoạt động
xuất khẩu của công ty tăng trưởng mạnh và liên tục song mức độ tăng trưởng của
từng năm cao - thấp khá chênh lệch. Phần lớn hàng xuất khẩu là hàng thô và sơ chế,
chất lượng hàng xuất khẩu chưa cao nên khả năng cạnh tranh kém, kim ngạch xuất
khẩu vào thị trường mới hầu như không đáng kể.
Xuất phát từ thực tế đó của công ty, tôi nhận thấy việc phát triển thị trường
xuất khẩu của công ty là hết sức quan trọng, do vậy tôi đã chọn đề tài “ Một số giải
pháp đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu của công ty Cổ phần xuất
nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thống kê, tổng hợp: tổng kết hệ thống các số liệu liên quan đến
thị trường xuất khẩu của công ty, các mặt hàng xuất khẩu thành một chuỗi theo thời
gian để phân tích, đánh giá cụ thể.
Phương pháp phân tích: phân tích được vai trò của thị trường xuất khẩu hàng
hóa đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung và VILEXIM nói riêng để từ đó
thấy được mối quan hệ giữa phát triển thị trường xuất khẩu với việc sử dụng các biện
pháp nhằm phát triển thị trường xuất khẩu. Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích
chính sách, thông qua những chủ trương chính sách đã được áp dụng trong kinh tế để
phân tích tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu của công ty.
Phương pháp so sánh: để đối chiếu, so sánh kim ngạch cũng như thị trường
xuất khẩu hàng hóa của VILEXIM trong các năm khác nhau.
V. KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC
Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa những lý luận chung liên quan đến xuất khẩu
và phát triển thị trường xuất khẩu từ đó làm rõ được sự cần thiết phải đẩy mạnh phát
triển thị trường xuất khẩu hàng hoá ở Công ty VILEXIM.
Thứ hai, dựa trên tình hình hoạt động kinh doanh và xu hướng thương mại
phân tích thực trạng công tác phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá của công ty
VILEXIM từ năm 2006 đến nay.
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường xuất khẩu
của công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM.
VI. KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐÈ
Ngoài phần Lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
chuyên đề gồm có ba phần:
Chương I: Sự cần thiết phải đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu hàng
hóa ở công ty VILEXIM
Chương II: Thực trạng công tác phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của
công ty VILEXIM từ năm 2006 đến nay
Chương III: Một số giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường xuất khẩu và
nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá. Như vậy thị trường là tổng thể các
quan hệ về lưu thông hàng hoá, lưu thông tiền tệ, các giao dịch mua bán và các dịch
vụ. Khái niệm này đã lột tả được bản chất của thị trường trong thời kỳ phát triển này,
song khái niệm này mới chỉ đứng trên khía cạnh của nhà phân tích kinh tế nói về thị
trường, nó chưa giúp cho doanh nghiệp xác định được mục tiêu của mình.
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
4
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
Theo MC CARTHY: Thị trường có thể hiểu là một nhóm khách hàng tiềm
năng với những nhu cầu giống nhau và những người bán đưa ra sản phẩm khác nhau
với cách thức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó. Khái niệm này không những nói lên
được bản chất của thị trường mà còn giúp cho doanh nghiệp xác định được mục tiêu,
phương hướng kinh doanh của mình: Đó là hướng tới khách hàng, mục tiêu tìm mọi
cách thoả mãn nhu cầu của khách hàng để đạt được lợi nhuận tối đa.
Trên cơ sở khái niệm MC Carthy ta có thể đưa ra khái niệm về thị trường xuất
khẩu của doanh nghiệp. Thị trường xuất khẩu được định nghĩa là tập hợp những
khách hàng nước ngoài tiềm năng của doanh nghiệp tức là những khách hàng nước
ngoài đang mua hoặc sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp ấy.
Qua khái niệm này doanh nghiệp không chỉ xác định được mục tiêu của mình
là hướng tới khách hàng với nhu cầu đặc trưng của họ mà còn xác định rõ nhu cầu, cơ
cấu nhu cầu đó mang đặc tính cơ bản của thị trường quốc tế, bị chi phối bởi tập quán
văn hoá, ngôn ngữ lối sống, điều kiện tự nhiên của các nước đó.
Để có thể hiểu rõ hơn về thị trường xuất khẩu hàng hóa ta nghiên cứu các đặc
điểm của nó. Thị trường xuất khẩu hàng hóa có các đặc điểm sau:
- Thị trường xuất khẩu hàng hoá được phân biệt với thị trường trong nước ở
tập khách hàng tiềm năng - khách hàng tiềm năng nước ngoài cũng có quan điểm thị
hiếu, hành vi tiêu dùng rất khác nhau.
- Thị trường xuất khẩu hàng hoá thường có rất nhiều nhà cung ứng bao gồm
cả người cung ứng nội địa và các công ty đa quốc gia, các nhà xuất khẩu… vì vậy
tính chất cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu là rất lớn.
sản phẩm cho Công ty.
Cách phân chia này giúp cho doanh nghiệp đưa ra cách phân phối sản phẩm
hàng hoá một cách hợp lý, có phương cách xúc tiến khuyếch trương sản phẩm phù
hợp với từng thị trường.
1.2.3. Căn cứ vào lượng người mua bán tham gia thị trường
- Thị trường độc quyền: Là thị trường xuất khẩu mà ở đó chỉ có duy nhất một
hãng sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu tham gia xuất khẩu sản phẩm của mình
sang thị trường đó nên sản phẩm hàng hoá là duy nhất. Từ đó họ có thể kiểm soát
được giá bán, số lượng sản phẩm tiêu thụ và nắm chắc được quy luật cung cầu.
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Là thị trường xuất khẩu mà ở đó có nhiều hãng
sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu tham gia xuất khẩu các sản phẩm hàng hoá của
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
6
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
mình sang thị trường đó. Trong những hãng sản xuất này không có hãng nào có đủ ưu
thế và quy mô để cung ứng một sản phẩm đủ sức chi phối giá cả trên thị trường.
- Thị trường độc quyền cạnh tranh: Là thị trường mà ở đó vừa có trạng thái
độc quyền, vừa có trạng thái cạnh tranh. Trong trường hợp này bất kỳ một hãng sản
xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu nào cũng có thể là độc quyền hoặc là cạnh tranh
trong cùng một loại sản phẩm nhưng về mặt chất lượng và số lượng có khác chút ít.
1.2.4. Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu
- Thị trường có hạn ngạch: là thị trường bị giới hạn về số lượng, chất lượng
hàng hoá xuất khẩu.
- Thị trường không có hạn ngạch: là thị trường không bị giới hạn về số lượng,
chất lượng hàng hoá xuất khẩu.
1.2.5. Căn cứ vào nguồn gốc xuất khẩu
- Thị trường xuất khẩu trực tiếp: là thị trường mà ở đó các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu trực tiếp tham gia xuất khẩu vào thị trường không phải qua các khâu trung
gian. Ở thị trường này các doanh nghiệp tự nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách
hàng, thoả thuận giao dịch, ký kết hợp đồng rồi tự khai thác nguồn hàng, sản xuất, giá
đắn để doanh nghiệp tăng thêm thị phần sản phẩm của mình trên thị trường quốc tế
góp phần nâng cao doanh thu, lợi nhuận doanh nghiệp.
Phát triển thị trường theo chiều rộng có thể hiểu theo ba cách:
Theo tiêu thức địa lý: Phát triển thị trường theo chiều rộng chính là tăng
cường sự hiện diện của doanh nghiệp tại địa bàn mới bằng các sản phẩm hiện tại tức
là doanh nghiệp mang sản phẩm sang tiêu thụ tại các vùng mới để thu hút thêm khách
hàng, tăng doanh số bán sản phẩm. Tuy nhiên để đảm bảo thành công cho công tác
phát triển thị trường lúc này, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, xác định
điều kiện thị trường, đặc điểm khách hàng và nhu cầu khách hàng tại địa bàn mới để
đưa ra các chiến lược tiếp cận thị trường phù hợp.
Theo tiêu thức sản phẩm: Phát triển thị trường theo chiều rộng tức là doanh
nghiệp đem bán những sản phẩm mới vào thị trường hiện tại (thực chất là phát triển sản
phẩm) doanh nghiệp. Luôn đưa ra những sản phẩm mới có tính năng phù hợp với người
tiêu dùng hơn, khiến họ có mong muốn tiếp tục tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp.
Thường áp dụng chính sách đa dạng hoá sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng.
Theo tiêu thức khách hàng: Phát triển thị trường theo chiều rộng tức là
doanh nghiệp kích thích, khuyến khích các nhóm khách hàng mới tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp, có thể là khách hàng của đối thủ cạnh tranh, có thể là khách hàng
không tiêu dùng tuyệt đối (khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp). Muốn thực hiện
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
8
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
được điều đó doanh nghiệp cần hiểu được rõ nhu cầu của khách hàng, điểm mạnh
điểm yếu của đối thủ cạnh tranh để có những hoạt động hợp lý trong việc giành
khách hàng của thị trường.
2.1.2. Phát triển thị trường theo chiều sâu
Phát triển thị trường theo chiều sâu chính là sự nâng cao chất lượng hiệu quả
của thị trường. Chất lượng hiệu quả của thị trường có thể được đánh giá qua một số
tiềm năng về vốn, cơ sở vật chất và năng lực quản lý có thể phát triển theo
hướng kết hợp phát triển thị trường theo cả chiều rộng và chiều sâu để mở rộng
quy mô kinh doanh với hiệu quả cao.
2.2. Quy trình phát triển thị trường xuất khẩu
2.2.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu
Nghiên cứu thị trường xuất khẩu là xuất phát điểm để định ra các chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, từ chiến lược đã xác định doanh
nghiệp tiến hành lập và thực hiện các kế hoạch kinh doanh, chính sách thị trường. Bất
kỳ một doanh nghiệp thương mại đều phải tiến hành nghiên cứu thị trường, Nghiên
cứu thị trường là cần thiết, đầu tiên đối với mỗi doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh vì
thị trường không phải là bất biến mà thị trường luôn biến động, đầy biến đổi và thay
đổi không ngừng. Do đó nghiên cứu thị trường là việc làm thường xuyên của doanh
nghiệp. Mục đích công tác này là nghiên cứu xác định khả năng bán một loại mặt
hàng hoặc nhóm mặt hàng nào đó trên địa bàn quốc tế, trên cơ sở đó nâng cao khả
năng cung ứng để thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Để tạo thuận lợi cho hoạt động
phát triển thị trường thì hoạt động trên cần được doanh nghiệp thực hiện cẩn thận,
chính xác, mang tính thống nhất và đồng bộ.
Trước khi thực hiện phát triển thị trường xuất khẩu ở một khu vực nhất định
thì công tác nghiên cứu thị trường cần phải được triển khai đầu tiên và luôn đi trước
một bước. Thực hiện bước này tốt sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi trong việc lựa chọn
thị trường, mặt hàng, số lượng xuất khẩu cho phù hợp với từng thị trường
Đối với một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu thì công tác nghiên cứu
thị trường càng có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp. Hoạt động nghiên cứu thị
trường của doanh nghiệp được thể hiện dưới các góc độ:
- Tổ chức nghiên cứu thị trường trên nhiều thị trường khác nhau: thực hiện
được bước này ta sẽ biết được thị trường nào có triển vọng nhất để từ đó lựa chọn thị
trường có tiềm năng, đẩy mạnh hoạt động phát triển xuất khẩu tại thị trường đó.
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
10
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
11
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
- Xây dựng kế hoạch phát triển thị trường: Các kế hoạch phát triển thị trường phải
được tiến hành xây dựng thường xuyên, cụ thể và phù hợp với chiến lược phát triển thị
trường xuất khẩu của doanh nghiệp. Kế hoạch xây dựng bao gồm kế hoạch về vốn đầu tư
kinh doanh vào thị trường, kế hoạch lưu chuyển hàng hóa, kế hoạch marketing…
2.2.4. Tổ chức nghiệp vụ phát triển thị trường xuất khẩu
Hoạt động này bao gồm
+ Tổ chức nghiên cứu các đặc trưng của thị trường xuất khẩu.
+ Điều chỉnh các biện pháp phát triển thị trường
+ Đánh giá hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu.
2.3. Các phương thức thâm nhập để phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá
Sau khi đã lựa chọn được thị trường mục tiêu của mình và xây dựng được
chiến lược, doanh nghiệp cần lựa chọn phương thức tốt nhất để thâm nhập vào các thị
trường đó. Các phương thức doanh nghiệp có thể sử dụng là:
2.3.1. Hình thức thâm nhập thị trường thông qua xuất khẩu
Thâm nhập thị trường xuất khẩu có thể tiến hành thông qua ba hình thức sau:
Thứ nhất, hình thức xuất khẩu trực tiếp.
Đây là một hình thức kinh doanh mà trong đó người mua và người bán tiến
hành trao đổi trực tiếp với nhau, có thể thông qua các phương tiện giao tiếp hiện đại
như điện thoại, thư tín, fax, e-mail (thư điện tử)…để thoả thuận với nhau về các điều
khoản của hợp đồng.
Thông qua xuất khẩu trực tiếp, các doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận
cao hơn do giảm được các chi phí trung gian, việc xuất khẩu diễn ra nhanh chóng và
mang lại hiệu quả cao hơn. Hơn thế các doanh nghiệp còn có thể khắc phục được
những thiếu sót và có điều kiện để chủ động thâm nhập vào thị trường thế giới. Tuy
nhiên, để tham gia hình thức xuất khẩu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có đội ngũ
cán bộ chuyên nghiệp, kỹ năng giao tiếp tốt, được đào tạo một cách bài bản, nắm
vững và tinh thông những nghiệp vụ về thị trường ngoại thương, tâm huyết với nghề,
2.3.2. Hình thức thâm nhập qua hợp đồng
Đây là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài có nhiều ưu điểm. Trước
những rào cản thương mại của các quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp gặp phải
rất nhiều khó khăn trong hoạt động mở rộng, phát triển thị trường của mình. Việc sử
dụng hình thức thâm nhập thông qua hợp đồng giúp doanh nghiệp vượt qua được
những rào cản đó. Hơn nữa có những thứ hàng hoá không thể mua bán thông thường
được vì đó là những hàng hoá vô hình như: bí quyết công nghệ, nhãn hiệu, kinh
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
13
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
nghiệm quản lý… khiến doanh nghiệp không thể sử dụng hình thức thâm nhập thị
trường thông qua xuất khẩu được. Do đó các nhà kinh doanh đã lựa chọn hình thức
thâm nhập thông qua hợp đồng.
Hình thức thâm nhập qua hợp đồng có các loại sau: hợp đồng sử dụng giấy
phép, hợp đồng kinh tiêu, hợp đồng quản lý, dự án chìa khoá trao tay.
2.3.3. Hình thức thâm nhập thông qua đầu tư
Đây là hình thức thâm nhập đòi hỏi DN phải trực tiếp đầu tư vào xây
dựng nhà máy hoặc cung cấp thiết bị tại một nước và tiếp tục tham gia vào quá
trình vận hành chúng. Thâm nhập thông qua hình thức này đòi hỏi mức độ cam
kết của doanh nghiệp phải cao hơn. Ba hình thức phổ biến nhất của thâm nhập
thông qua đầu tư là chi nhánh sở hữu toàn bộ, liên doanh và liên minh chiến
lược.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá
Hoạt động phát triển thị trường là một trong các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, hoạt động này chịu tác động của cả yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài, yếu
tố chủ quan và yếu tố khách quan. Để thực hiện hoạt động phát triển thị trường được hiệu
quả tất yếu doanh nghiệp phải xem xét đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đó.
3.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
3.1.1. Chính trị pháp luật
Đối với mỗi nước khác nhau thì chế độ chính trị, luật pháp, và tình trạng kinh tế
này sẽ gây ra biến động lớn trong tỷ trọng giữa xuất khẩu và nhập khẩu, chẳng hạn
như tiền nội tệ giảm giá tương đối so với đồng ngoại tệ thì sẽ khuyến khích xuất khẩu
và hạn chế nhập khẩu.
Hiện nay tương quan giữa cung và cầu về ngoại tệ ở trong nước biến động rất
phức tạp vì còn một phần ngoại tệ không nhỏ vận động ngoài các trung tâm mua bán
của Nhà nước. Vì vậy đi đôi với việc mở rộng thị trường ngoại hối trong nước, phải
chú trọng các yếu tố khuyến khích xuất khẩu khi ấn định tỷ giá. Đây là những quyết
định có tính chủ quan nhưng rất cần thiết vì nếu không đẩy mạnh được xuất khẩu để
tạo nguồn ngoại tệ tự có thì chúng ta sẽ không đủ ngoại tệ để cân bằng cán cân thanh
toán quốc tế.
3.1.3. Hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Việc thực hiện xuất khẩu gắn liền với công việc vận chuyển và hệ thống thông
tin liên lạc. Nhờ có thông tin liên lạc mà các thoả thuận có thể tiến hành nhanh chóng,
kịp thời. Thực tế cho thấy rằng ảnh hưởng của hệ thống thông tin đã đơn giản hoá
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
15
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
công việc của hoạt động xuất khẩu rất nhiều, giảm đi hàng loạt các chi phí, nâng cao
tính kịp thời nhanh gọn. Việc hiện đại hoá các phương tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo
quản góp phần đem quá trình hoạt động xuất khẩu được nhanh chóng và an toàn
đồng thời cũng giảm được chi phí.
3.1.4. Hệ thống tài chính ngân hàng
Hệ thống tài chính ngân hàng có vai trò quan trọng trong xuất khẩu nói riêng
và thương mại quốc tế nói chung. Nó giúp cho việc quản lý, cung cấp vốn, đảm trách
việc thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và an toàn cho doanh
nghiệp. Điều này rất quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
xuất khẩu. Hiện nay hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can
thiệp đến tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế, làm cho hoạt động xuất khẩu
diễn ra hết sức thuận lợi.
3.1.5. Đối thủ cạnh tranh
lao động đủ theo yêu cầu (cả về số lượng và chất lượng) và một cơ sở vật chất đảm
bảo hiệu suất và công suất công việc. Đội ngũ lao động phải được đào tạo thường
xuyên về năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ, về các mặt quản lý và các chức
năng công việc... Cơ sở vật chất cũng phải thường xuyên được cải tổ và xây mới.
3.2.3. Các yếu tố vô hình
Các yếu tố vô hình là một điều kiện rất thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận và
chiếm lĩnh thị trường. Nó là giấy thông hành cho hàng hoá doanh nghiệp đến với
khách hàng. Tiềm lực vô hình là hình ảnh uy tín của doanh nghiệp trên thương
trường, mức độ nổi tiếng của sản phẩm nhãn hiệu hàng hoá, uy tín của doanh nghiệp
trong quan hệ xã hội... Tất cả các tiềm lực đó đều ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ
kinh tế với các đối tác nước ngoài của doanh nghiệp trên thị trường.
3.2.4. Sản phẩm và kênh phân phối
Sản phẩm là một hệ thống các yếu tố thoả mãn đồng bộ nhu cầu của khách
hàng bao gồm mẫu mã, chất lượng, công dụng, giá cả của sản phẩm... Mỗi loại hàng
hoá có tính chất và đặc điểm riêng, do vậy chỉ phù hợp với yêu cầu của một số khách
hàng nhất định. Nếu hàng hoá càng thích ứng với khách hàng thì uy tín của doanh
nghiệp và độ tin cậy của sản phẩm đôí với khách hàng càng cao, dễ chiếm lĩnh thị
trường. Và ngược lại thì sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong viêc chiếm lĩnh
được thị trường. Ví dụ như các sản phẩm điện tử của Nhật uy tín, chất lượng do vậy
rất dễ xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường quốc tế.
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
17
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
II. Sự cần thiết phải đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá ở
Công ty VILEXIM
1. Vai trò của phát triển thị trường xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
Ngày nay, hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu không chỉ bó hẹp trong
phạm vi kinh doanh xuất khẩu của từng doanh nghiệp mà nó đã trở thành hoạt động
chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đối với Việt Nam, xét dưới góc độ nền kinh
tế thì hoạt động phát triển thị trường có vai trò sống còn cho sự phát triển nhanh chóng
lượng dịch vụ đến các hoạt động Marketing đều nhằm mục đích đáp ứng tốt nhất yêu
cầu của thị trường. Do vậy việc phát triển thị trường xuất khẩu có vai trò hết sức
quan trọng, nó được thể hiện qua các điểm:
Thứ nhất là tăng doanh số bán hàng
Dù kinh doanh trên bất cứ thị trường nào thì mục đích cuối cùng của các
doanh nghiệp đều là gia tăng được số lượng hàng hoá bán ra và thu được về nhiều lợi
nhuận nhất. Phát triển thị trường xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt được các
cơ hội kinh doanh, mở rộng lĩnh vực sản xuất kinh doanh hiện tại của mình. Do số
lượng khách hàng trên thị trường quốc tế là rất lớn nên doanh số bán hàng mà doanh
nghiệp có thể đạt tới là rất cao.
Mặt khác, các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu của mình là để
ổn định nguồn thu nhập, bổ sung doanh số bán hàng quốc tế vào doanh số bán
hàng trong nước.
Thứ hai là giảm bớt, chia sẻ rủi ro
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu sang nhiều thị trường khác nhau nhằm thực
hiện chiến lược đa dạng hoá thị trường, tránh các rủi ro có thể xảy ra nếu chỉ xuất
khẩu sang một số ít thị trường.
Thứ ba là tiếp thu được kinh nghiệm quốc tế
Thông qua phát triển thị trường xuất khẩu các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận
với nguồn vốn, khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến góp phần nâng
cao năng suất lao động cũng như khả năng vươn rộng hơn nữa của doanh nghiệp ra
thị trường quốc tế.
Thứ tư là tận dụng công suất sản xuất dư thừa
Các DN nhiều khi sản xuất sản phẩm nhiều hơn mức thị trường yêu cầu dẫn
đến dư thừa năng lực sản xuất. Do đó các doanh nghiệp sẽ tìm cách để tiêu thụ số sản
phẩm vượt mức ấy bằng cách mở rộng, phát triển thị trường xuất khẩu của mình.
Việc mở rộng ấy còn giúp doanh nghiệp gia tăng thị phần, thu về lợi nhuận lớn hơn
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
19
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
VILEXIM không những đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang thêm một vài nước
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
20
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
Châu Âu như Anh, Đức, Italy mà giá trị xuất khẩu tại các thị trường hiện tại của công
ty cũng tăng mạnh khiến tổng giá trị xuất khẩu của công ty đạt 24.404.270 USD tăng
19% so với 2006, doanh thu thuần bán hàng và cung cấp hàng hoá dịch vụ đạt
1.432.525 triệu đồng tăng 44,69%. Doanh thu tăng đã tạo điều kiện cho công ty đảm
bảo đủ nguồn vốn để mở rộng quy mô kinh doanh, thuận lợi trong việc tìm nguồn
hàng cũng như đơn hàng. Quy mô kinh doanh mở rộng tất yếu giúp công ty giảm
thiểu đến mức tối đa các loại chi phí như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp trên mỗi đơn vị sản phẩm từ đó tối đa hoá lợi nhuận. Trong năm này, lợi
nhuận công ty đạt 11,5 tỷ đồng tăng 59,83% so với 2006.
- Phát triển thị trường xuất khẩu giúp VILEXIM giảm thiểu rủi ro khi một số
thị trường của công ty có những biến động lớn về kinh tế, chính trị. Chẳng hạn khi tỷ
giá hối đoái tăng, hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt hơn so với hàng hóa nội địa, do vậy
các thị trường sẽ nhập khẩu ít hơn làm giảm kim ngạch xuất khẩu của công ty hoặc
công ty mất đi một vài thị trường. Thị trường của công ty có phát triển thì mới có thể
đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu đặt ra và đứng vững trước những khó khăn đó. Năm
2008 là một năm đầy khó khăn và thách thức không chỉ với công ty mà còn đối với
hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Mặc dù trong năm này, công ty có mất
đi vài thị trường như Trung Quốc, Đài Loan, Pakistan, Bangladesh, Arap saudi do
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng nhờ có chiến lược phát triển thị
trường xuất khẩu của mình, công ty vẫn giữ được các đơn hàng lớn, xuất khẩu sang
một vài thị trường mới và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch do bộ Công
thương đặt ra.
- Phát triển thị trường xuất khẩu giúp công ty mở rộng mối quan hệ thương
mại, học hỏi kinh nghiệm từ các bạn hàng, từ đó hoàn thiện quy trình nghiệp vụ xuất
khẩu, đảm bảo hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao với chi phí thấp nhất. Cho đến
nay, công ty đã có quan hệ thương mại với hơn 40 quốc gia trong khu vực và trên thế
- Tên viết tắt: VILEXIM
- Trụ sở chính: 170 đường Giải phóng- Phương Liệt- Thanh Xuân- Hà Nội
- Điện thoại: 84.4.38691496 – 386942164
- Fax: 84.4.38694168
- Email: –
- Website: Vilexim.com.vn
- Giám đốc: Nguyễn Trường Sơn
- Số lượng nhân viên: 135
- Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
- Lĩnh vực kinh doanh: Xuất nhập khẩu hàng hoá, xuất khẩu lao động, đầu tư
liên doanh liên kết trong và ngoài nước.
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư (VILEXIM) là một doanh
nghiệp trực thuộc Bộ Công thương với 51% số cổ phần. Công ty có lịch sử hình thành và
phát triển hơn 40 năm và luôn song hành cùng với những thăng trầm của nền kinh tế đất
nước. Tiền thân của Công ty là Tổng công ty xuất nhập khẩu Biên giới (Frontarimex)
được thành lập 2/1967. Trong 9 năm đầu hoạt động (từ 1967-1976) Công ty được giao
nhiệm vụ tiếp nhận các loại hàng hoá viện trợ từ các nước Xã hội chủ nghĩa, vận chuyển
quá cảnh một số hàng hoá đó cho hai nước Lào và Campuchia.
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
23
Chuyên đề thực tập GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
Tháng 7/1976 sau khi hòa bình lập lại công ty đổi thành Tổng công ty xuất
nhập khẩu Việt Nam sang là Công ty xuất nhập khẩu với Lào và Campuchia. Công ty
tiếp tục thực hiện nhận hàng viện trợ đồng thời xuất khẩu hàng hóa trực tiếp với Lào
và Campuchia. Công ty cũng thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu theo chỉ tiêu kế
hoạch do Nhà nước và Bộ Công thương đặt ra.
Sau khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trường thì Công ty xuất nhập khẩu với Lào và Campuchia tách ra thành
Công ty xuất nhập khẩu với Lào và Công ty xuất nhập khẩu với Campuchia
(VIKAMEX), có tư cách pháp nhân trực thuộc Bộ Thương mại theo Quyết định số
kinh tế đất nước vào thị trường thế giới.
Công ty nhận ủy thác xuất nhập khẩu và làm các loại dịch vụ thuộc lĩnh vực
phạm vi kinh doanh của công ty theo yêu cầu của khách hàng, kinh doanh chuyển
khẩu thuộc phạm vi kinh doanh của công ty.
Sản xuất và gia công các mặt hàng để phục vụ cho xuất khẩu.
Liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành
phần kinh tế khác nhau ở trong nước và nước ngoài.
Thực hiện xuất khẩu lao động nhằm tăng thu nhập cho người lao động đồng thời
làm tăng nguồn thu ngoại tệ đối với nhà nước, tổ chức đào tạo lao động để xuất khẩu.
Góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ của đất nước
1.2.2. Nhiệm vụ của công ty
Công ty có nhiệm vụ đẩy mạnh và phát triển quan hệ thương mại, hợp tác đầu
tư và các hoạt động khác có liên quan đến kinh tế đối ngoại với các tổ chức kinh tế
Việt Nam và nước ngoài thông qua hoạt động xuất nhập khẩu. Đặc biệt là với Lào,
Công ty hoạt động theo pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam và những quy định
riêng trong toàn công ty.
Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của Công ty theo quy
chế hiện hành để thực hiện mục đích và nội dung hoạt động của công ty.
Tuân thủ các chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước và quản lý kinh tế tài
chính, quản lý xuất nhập khẩu và trong giao dịch đối ngoại thực hiện nghiêm chỉnh
các cam kết hợp đồng kinh tế mà công ty đã ký. Trực tiếp xuất nhập khẩu hàng hóa
giữa nước ta với Lào và một số nước nhập khẩu những sản phẩm do Công ty sản xuất
ra hoặc do Công ty liên doanh sản xuất; nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho việc
sản xuất kinh doanh của Công ty.
SV: Đỗ Thị Ngần Lớp: Kế hoạch 48A
25