TIỂU LUẬN:Lợi nhuận và biện pháp chủ yếu góp phần tăng lợi nhuận của Công ty TNHH ALPHANAM Hà Nội.Lời nói đầuTrong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi, từng bư - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Lợi nhuận và biện pháp chủ yếu
góp phần tăng lợi nhuận của Công
ty TNHH ALPHANAM Hà Nội Lời nói đầu

Trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường hiện nay đòi
hỏi các doanh nghiệp phải lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi, từng bước cải thiện
đời sống người lao động. Chính vì thế hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề
quan tâm hàng đầu của tất cả các doanh nghiệp, trong đó biểu hiện của hiệu quả
là số lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay nói cách cách khác có lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp đánh gía hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp một thời kỳ nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, có
nhiều đối tượng quan tâm tới kết quả kinh doanh – lợi nhuận của doanh nghiệp,
do đó, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận, xét trên các góc độ khác
nhau ta có các khái niệm khác nhau về lợi nhuận như sau :
Các nhà kinh tế học cổ điển trước Mark cho rằng ; “ Các phần trội lên nằm
trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận.
Theo Mark thì : “ Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên nằm trong toàn bộ giá
trị của hàng hoá, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trả công
của công nhân đã được vật hoá thì ta gọi nó là lợi nhuận.
Các nhà kinh tế học hiện đại mà đại diện là Samuenlson cho rằng:” Lợi
nhuậnlà khoản thu nhập dôi ra, bằng tổng số thu về trừ đi tổng số chi ra.”
Các khái niệm trên tuy được phát biểu khác nhau song chúng đều có một
điểm chung là họ đều cho rằng :Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh
lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó
từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại.
2. Vai trò của lợi nhuận.
2.1 Đối với nền sản xuất xã hội.
Lợi nhuận của Doanh nghiệp không chỉ có vai trò quan trọng đối với bản
thân Doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội, lợi nhuận Doanh
nghiệp thu được trong kỳ một phần sẽ đảm bảo nộp đúng, nộp đủvà nộp kịp thời
các khoản thuế cho ngân sách Nhà nước. Đây là nguồn vốn để tiến hành tái sản
xuất mở rộng, phát triển kinh tế, củng cố tiềm lực quốc phòng, duy trì bộ máy
hành chính, cải thiện đời sống vật chất,văn hoá, tinh thần cho nhân dân.
Với vai trò vô cùng quan trọng như vậy, việc phấn đấu tăng lợi nhuận là
điều cần thiết đối với các Doanh nghiệp nói riêng và đối với nền kinh tế của đất
nước nói chung.


Lợi nhuận còn là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả của toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh làm tăng doanh thu và hạ giá thành sản phẩm
thì lợi nhuận sẽ tăng lên. Ngược lại, nếu chi phí cao, giá thành sản phẩm tăng thì
lợi nhuận sẽ giảm bớt. Vì vậy,lợi nhuận là một chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh
giá chất lượng hoạt động kinh doanh.
Lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ cơ bản để mở rộng tái sản xuất xã hội, sự
tham gia đóng góp của các Doanh nghiệp vào ngân sách Nhà nước được phản
ánh ở số thuế thu nhập mà Doanh nghiệp đã nộp. Như vậy, lợi nhuận là nguồn để
mở rộng tái sản xuất của chính bản thân Doanh nghiệp và của xã hội.
 Lợi nhuận Doanh nghiệp bao gồm :
- Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: là số lợi nhuận thu được từ hoạt
động kinh doanh thường xuyên của Doanh nghiệp. Là khoản chênh lệch giữa
doanh thu của hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí hoạt động kinh doanh. Đây là
bộ phận lợi nhuận chủ yếu của Doanh nghiệp.
- Lợi nhuận từ hoạt động khác: là số lợi nhuận thu được từ các hoạt động
khác bao gồm lợi nhuận từ hoạt động tài chính hay lợi nhuận từ hoạt động bất
thường.
II. Phương pháp xác định lợi nhuận và các chỉ tiêu phân tích đánh giá
lợi nhuận.
1. Phương pháp xác định lợi nhuận.
1.1. Phương pháp trực tiếp.
1.1.1. Lợi nhuận hoạt động kinh doanh:
Đây là bộ phận lợi nhuận chủ yếu của Doanh nghiệp thu được từ hoạt
động sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ trong kỳ, được xác định bằng công
thức sau:
Lợi nhuận hoạt động Doanh thu - Trị giá vốn - chi phí - chi phí
quản
Kinh doanh thuần hàng bán bán hàng lý DN
Trong đó:

được tính như sau:
Lợi nhuận trước
thuế thu nhập
Doanh nghiệp
=

Lợi nhuận từ
hoạt động kinh
doanh
+
Lợi nhuận từ
hoạt động tài
chính
+
Lợi nhuận
bất thường

Từ đó, có thể xác định lợi nhuận sau thuế của Doanh nghiệp trong kỳ:

Lợi nhuận sau thuế của = Lợi nhuận trước - Thuế thu nhập
Doanh nghiệp trong kỳ thuế Doanh nghiệp

Cách xác định lợi nhuận như trên là đơn giản, dễ tính, do đó được áp
dụng rộng rãi trong các Doanh nghiệp. Đối với Doanh nghiệp sản xuất nhiều mặt
hàng thì khối lượng công việc tính toán sẽ lớn. Công ty ALPHANAM cũng đang
áp dụng cách này trong việc xác định lợi nhuận của công ty.


-Thuế gián thu
(nếu có)
Doanh thu thuần
Lợi nhuận
hoạt động
khác
Chi phí
hoạt động
khác

Gía vốn
hàng bán
Lợi nhuận gộp hoạt động
kinh doanh
Lợi nhuận
hoạt động
khác

-Chi phí bán
hàng
-Chi phí quản

Doanh nghiệp

Lợi
nhuận
hoạt động

hoá tiêu thụ được nhiều hay ít. Nhưng số lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ lại
phụ thuộc vào quy mô của Doanh nghiệp, việc ký kết hợp đồng tiêu thụ đối với
khách hàng, quan hệ cung cầu và chất lượng kết cấu sản phẩm tiêu thụ. Khi cung
nhỏ hơn cầu thì việc tiêu thụ sản phẩm sẽ nhanh hơn và ngược lại, với điều kiện
chất lượng hàng hoá phải đảm bảo. Chính vì tăng doanh thu là nhân tố cơ bản
tăng lợi nhuận cho Doanh nghiệp.
2.2 Chất lượng sản phẩm hàng hoá.

Việc sản xuất kinh doanh gắn liền với việc đảm bảo và nâng cao chất
lượng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ. Nó ảnh hưởng lớn tới giá cả, do đó có ảnh
hưởng trực tiếp tới doanh thu và lợi nhuận của Doanh nghiệp, ngoài ra nó còn là
một vũ khí cạnh tranh sắc bén giúp Doanh nghiệp dễ dàng thắng lợi trước các đối
thủ khác. Bởi ta thấy nếu chất lượng sản phẩm tốt sẽ tạo được uy tín với khách
hàng, thu hút khách hàng đến với Doanh nghiệp nhiều hơn từ đó làm tăng khối
lượng tiêu thụ, tăng lợi nhuận. Ngược lại, nếu chất lượng sản phẩm thấp thì ngay
cả lúc bán với giá rẻ cũng khó có thể thu hút được người tiêu dùng nhất là trong
điều kiện hiện nay nhu cầu tiêu dùng của mọi người ngày càng cao.
2.3.Giá vốn hàng bán ( giá thành sản xuất).
Trong cơ chế thị trường hiện nay, việc hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với Doanh nghiệp. Khi thị trường hàng hoá phong phú,
đa dạng và có cạnh tranh, để tiêu thụ được sản phẩm, các Doanh ngiệp buộc phải
nâng cao chất lượng sản phẩm và mặt khác phải tìm biện pháp giảm chi phí hạ
giá thành. Nếu giá thành sản phẩm thấp sẽ tạo ra lợi thế cho Doanh nghiệp trong
môi trường cạnh tranh, tiết kiệm các chi phí, do đó sẽ trực tiếp làm tăng lợi
nhuận cho Doanh nghiệp.
2.4. Giá bán đơn vị sảnphẩm.
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá và xoay quanh giá trị của
hàng hoá. Giá cả phải bù đắp chi phí đã tiêu hao và tạo nên lợi nhuận để thực
hiện tái sản xuất mở rộng. Nếu giá bán hàng hoá, dịch vụ hợp lý mà người tiêu


thực hiện một đồng doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp có thể thu được
bao nhiêu lợi nhuận ròng.

3.2 Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh.

Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận trứoc trong kỳ .100 %
Vốn kinh doanh Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong

Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng đưa
lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trả lãi tiền vay. Như vậy, nó cũng phản
ánh mức sinh lời của đồng vốn có tính đến ảnh hưởng cảu lãi vay nhưgn chưa
tính đến ảnh hưỏng của thuế thu nhập doanh nghiệp.
.
3.3 Tỷ suất lợi nhuận ròng của vốn kinh doanh.
Là mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và vốn kinh doanh sử dụng trong
kỳ được xác định bằng công thức sau:

Tỷ suất lợi nhuận
=
Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
.100%
ròng vốn kinh doanh Vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng tham
gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng hay là đưa lại bao nhiêu đồng lãi thực.


hoá, dịch vụ và giảm bớt được nhu cầu vốn lưu động. Mặt khác, hạ giá thành sẽ
trực tiếp làm tăng lợi nhuận doanh nghiệp. Để hạ giá thành sản phẩm, doanh
nghiệp cần:
a) - Tăng năng suất lao động:
Là tăng số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Để tăng năng
suất lao động cần:
- Cải tiến, đổi mới trang thiết bị cho phù hợp với điều kiện của doanh
nghiệp và đòi hỏi của thị trường về chất lượng sản phẩm.
- Nâng cao hiệu suất sử dụng máy móc, thiết bị, sử dụng hết công suất của
máy nhằm giảm chi phí khấu hao trên một đơn vị sản phẩm.
- Tổ chức, sắp xếp lao động hợp lí, đảm bảo đúng người đúng việc, có
biện pháp khen thưởng kịp thời nhằm khuyến khích công nhân nâng cao năng
suất lao động.
b) - Giảm chi phí trực tiếp:
Bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,chi
phí sản xuất chung. Đó là những khoản chi phí bỏ trực tiếp vào quá trình sản xuất
kinh doanh. Muốn giảm chi phí trực tiếp chúng ta phải:
- Sử dụng tiết kiệm, hợp lí nguyên vật liệu bằng cách xây dựng kế hoạch
hợp lí từ khâu thu mua vật liệu dự trữ trong doanh nghiệp đến việc cung ứng cho
đơn vị sản xuất, đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục.
Thường xuyên kiểm tra, rà soát định mức tiêu hao vật tư của đơn vị.
- Tiết kiệm chi phí nhân công như: Sử dụng có hiệu quả tiền lương, tiền
thưởng, khuyến khích khả năng sáng tạo của người lao động, tăng năng suất và
hiệu quả làm việc. Có kế hoạch đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân
viên, tổ chức sắp xếp lao động hợp lí nhằm phát huy mọi khả năng của người lao
động.
- áp dụng công nghệ mới, sử dụng vật liệu trong nước thay thế vật liệu

bị thì việc tăng sản lượng ngay từ nội lực của doanh nghiệp là một khẳ năng hoàn
toàn có thể thực hiện được. Đi đôi với tăng sản lượng sản phẩm các doanh nghiệp
còn phải chú ý nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá và dịnh vụ cung ứng.
Bởi vì chất lượng được nâng cao sẽ giữ chữ tín đối với người tiêu dùng và giữ
được giá bán làm cho doanh thu sẽ tăng. Những trường hợp làm hàng giả, kém
chất lượng đưa ra thị trường đã chứng minh doanh nghiệp không thể tồn tại được.
Ngoài ra các doanh nghiệp cần các biện pháp để mở rộng thị trường tiêu
thụ, có chính sách giá bán hợp lý, linh hoạt đồng thời đa dạng hoá các tiếp thị,
hình thức thanh toán tăng cường công tác giới thiệu sản phẩm như: Quảng cáo,
các dịch vụ sửa chữa bảo hành sản phẩm để thu hút khách hàng ngày càng nhiều
hơn.
3. Hoàn thiện bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động, quản lý của tổ
chức bộ máy.
Tổ chức tốt hoạt động quản lí sản xuất kinh doanh, khâu cung ứng sản
phẩm, hàng hoá, khai thác tối đa khả năng người lao động sẽ góp phần nâng cao
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần tổ chức bộ máy các
phòng ban chức năng và sắp xếp lao động hợp lí đảm bảo sự quản lí chặt chẽ,
nghiêm khắc của cấp trên đối với cấp dưới và sự kiểm soát giữa các bộ phận với
nhau, nhằm giảm chi phí quản lý trong giá thành sản xuất .
Chương II
PHÂN TíCH TìNH HìNH LợI NHUậN Và HIệU QUả SảN XUấT KINH

2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý CủA CÔNG TY 3. Đặc điểm tổ chức sản xuất của công ty
Trước đây khi sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, số lượng đơn đặt hàng
chưa nhiều, công ty chỉ tổ chức sản xuất với quy mô nhỏ, sản phẩm chỉ là vỏ tủ
hoặc tủ điện đơn chiếc. Ngày nay, với sự lớn mạnh của công ty sản phẩm ngày
càng đa dạng, phong phú về chủng loại. Ngoài các sản phẩm truyền thống phục
vụ cho ngành điện, công ty đã mở rộng danh sách các đối tác của mình như
Phòng
kế
toán


Giám đốc
ngành thuỷ lực. Chính vì vậy, cơ cấu tổ chức sản xuất ngày càng đa dạng, có
nhiều tổ, đội sản xuất.
Các đơn vị trực thuộc Công ty ALPHANAM bao gồm:
* Nhà máy thiết bị điện ALPHANAM: Chuyên sản xuất các loại tủ bảng
điện trên dây chuyền công nghệ hiện đại. Hệ thống quản lý của nhà máy theo tiêu
chuẩn quốc tế ISO 9001-2000 nhằm tạo ra những sản phẩm tủ bảng điện chất
lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường.
* Nhà máy cơ khí ALPHANAM: Chuyên chế tạo các loại máy móc
chuyên dùng trong các ngành công nghiệp chế tạo máy, đóng tàu, giao thông vận
tải đường sắt như các sản phẩm cơ khí, máy ép thuỷ lực các loại, máy kéo nén
thí nghiệm, dây chuyền sản xuất đồng bộ.
* Xí nghiệp chế tạo khuôn mẫu: Chuyên chế tạo các loại khuôn mẫu ứng
dụng trong các ngành sản xuất ô tô, xe máy, điện công nghệ, thiết bị văn phòng,
nội thất cao cấp.
* Xí nghiệp thi công cơ giới và lắp máy ALPHANAM: Chuyên lắp đặt
các thiết bị máy móc công nghiệp, dây chuyền sản xuất đồng bộ, tự động hoá cao
cho các công trình xây dựng, nhà máy xi măng, thép, cao su, hoá chất, cơ khí dân
dụng và công nghiệp.
* Trung tâm thiết bị và chuyển giao công nghệ
4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của công ty
Để đảm bảo tốt công tác tài chính kế toán nhằm bảo toàn và phát triển
nguồn vốn, thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh và cung cấp thông tin kịp thời
cho giám đốc công ty, giúp cho giám đốc xây dựng được chiến lược kinh doanh
nhanh chóng nhằm tối đa hoá lợi nhuận


4. kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm 1999-2000.
Bảng 1: Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của công ty.
Đơn vị tính: Triệu Đồng
Chỉ tiêu 1999 2000 2001
2001 so với (%)
1999 2000
Vốn kinh doanh 22.298 27.081 33819 51.7 24.9
Doanh thu thuần 23.377 30.409 43.125 84,5 41,4
Lợi nhuận trước thuế 121 149 247 104,13 65,7
Nộp ngân sách nhà nước 39 48 79 102,56 64,6
Số cán bộ công nhân viên 120 138 160
Thu nhập bình quân 0,7 0,85 1 42,8 17,6

Nhìn vào bảng trên ta thấy:
- Công ty ALPHANAM là công ty hoạt động liên tục mang lại lợi
nhuận. Năm 2001 là 247 triệu đồng tăng 65,7% so với năm 2000 và tăng
104,13% so với năm 1999.
- Công ty hoạt động không những mang lại lợi nhuận mà còn đảm bảo
thực hiện đầy đủ những chỉ tiêu chủ yêú như :
- Bảo đảm tăng trưởng vốn kinh doanh. Năm 2001 là 33 819 triệu đồng
tăng 24,9 % si với năm 2000 và tăng 51, 7% so với năm 1999.

động kinh doanh
117 97,5 330 221,5 851 344,5 627,3 157,9
Lợi nhuận từ hoạt
động tài chính
2 1,6 -181 -121,5 -52 21,1
-
2500,0
-
71,27
Lợi nhuận từ hoạt
động bất thường.
1 O,8 - - - 552 -223,5
-
55100,
0
-
Qua bảng phân tích trên ta thấy:
- Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh chính qua 3 năm đều tăng.
Năm 2001 là 851 triệu đồng tăng 627,3 % so với năm 1999 và tăng 157,5 %
so với năm 2000, và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lợi nhuận, năm 1999 là
97,5 % tăng lên 344,5 % năm 2001. Điều này chứng tỏ hoạt động sản xuất
kinh doanh chính của công ty có hiệu quả và là nguồn thu nhập chủ yếu của
công ty.
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động bất
thưòng lỗ làm cho tổng lợi nhuận của công ty giảm. lợi nhuận từ hoạt động tài
chính năm 2001 là - 52 triệu đồng giảm 2500, 0 % so với năm1999 và giảm
71,27 % so với năm 2000, vì công ty có đầu tư vào thị trường chứng khoán

Số tiền

%/
DTT
Số tiền

%/
DTT
1999 2000
Tổng doanh thu 2337
7
100 30958 100 43376 100 85,55 40,1
Các khoản giảm trừ - - 468 1,51 251 0,58 - -
Doanh thu thuần 2337
7
100 30490 98,49 43125 99,42 84,5 41,4
Giá vốn hàng bán . 2176
6
93,1 28579 93,7 40393 93,7 85,6 41,3
Lợi nhuận gộp 1611 6,9 1911 6,3 2732 6,3 69,58 43,0
Chi phí quản lý
doanh nghiệp
1492 6,4 1527 5,3 1736 4,0 16,4 13,7
Chi phí bán hàng 1 0,004

53 0,2 145 0,3 1440 173,6
Thuế thu nhập DN
39 0,17 48 0,16 79 0,18
102,5
6

thì giá vốn hàng bán tăng lên 93,7 - 93,1 = 0,6 đồng, và do chi phí quản lý
doanh nghiệp giảm xuống 5,3 – 6,4 = - 1,1 đồng làm cho lợi nhuận trước thuế
tăng lên là 1,1 – 0,5 = 0,6 đồng.
Sang năm 2001 thì giá vốn hàng bán ra và lãi gộp tương đương với
năm 2000 là 93,7 đồng nhưng chi phí quản lý doanh nghiệp lại giảm đi một
mức đáng kể nữa, chỉ còn 4,0 đồng, mặc dù doanh thu tăng lên, vì vậy làm
cho lợi nhuận tăng lên là 2 đồng.
Chi phí sản xuất tạo ra sản phẩm là biều hiện bằng tiền của toàn bộ hao
phí về lao động và lao động mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt
động sản xuất trong kỳ kinh doanh. Phấn đấu hạ giá thành sản xuất là phương
hướng cơ bản, lâu dài để tăng lợi nhuận và tạo ra được lợi thế cạnh tranh cho
doanh nghiệp trên thị trường.
Để hạ được giá thành sản xuất hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ (giá vốn hàng
bán) đòi hỏi doanh nghiệp phải áp dụng tổng hoà các biện pháp, đó là việc
quản lý chặt chẽ quá trình thu mua hàng hoá, sử dụng tiếc kiệm tiền vốn, sức
lao động, nguyên vật liệu, thiết bị …Song vẫn đảm bảo chất lượng hàng hó
bán ra.
Bảng 4 : Tình hình quản lý các yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của công ty
ALPHANAM Hà Nội.(2001- 2002)
Chỉ tiêu
2000 2001 Ch/lệch 2000/2001
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Chi phí nguyên vật liệu

18352 64,4 26835 66,4 8483 46,2
Chi phí nhân công


đầu tư mua sắm thêm máy móc, thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, làm cho khấu hao tính vào chi phí này cũng tăng lên. Việc chi phí khoản
mục này tăng lên cũng phản ánh hiệu quả sử dụng VCĐ của Công ty còn thấp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Năm 2001 là 870 triệu đồng giảm 11,7% so
với năm 2000. Tỷ trọng cũng giảm 3,4% năm 2000 xuống còn 2,1% năm 2001.
Chứng tỏ chi phí này đa không tăng mà còn giảm so với tốc độ tăng doanh thu.
- Các chi phí bằng tiền khác: Năm 2001 khoản chi phí này là 996 triệu
đồng giảm 10% so với năm 2000, tỷ trọng giảm từ 3,9% năm 2000 xuống còn
2,5% năm 2001. Điều này cho thất Công ty đã quản lý khoản mục chi phí này có
hiệu quả.
Việc giảm đáng kể một số khoản mục chi phí là kết quả đáng khích lệ, do
đó lợi nhuận đạt được ngày càng cao. Tuy vậy, với mục tiêu phải tiết kiệm chi
phí để tối đa hoá lợi nhuận, Công ty cần phải phấn đấu và nỗ lực nhiều hơn nữa
để góp phần giảm chi phí.
c- Chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2001 là 1.736 triệu đồng, mặc dù tỷ
trọng chi phí so với doanh thu giảm từ 6,4% năm 1999 xuống 4,0% năm 2001
nhưng vẫn tăng 16,4% so với năm 1999 và tăng 13,7% so với năm 2000 là do
Công ty quản lý chưa tốt các loại chi phí không cần thiết. Ví dụ: Tiền điện thoại
năm 2000 là 72 triệu đồng, năm 2001 là 90 triệu đồng, tăng 20% so với năm
2000. Tiền tiếp khách năm 2000 là 36 triệu đồng, năm 2001 là 50 triệu đồng tăng
28% so với năm 2000
Nhìn chung lợi nhuận của công ty tuy có chiều hướng gia tăng lợi
nhuận đạt được còn thấp mà nguyên nhân là do tỉ lệ các khoản chi phí giá vốn

Trích đoạn Một số biện pháp nhằm nâng cao lợinhuận của công ty ALPHANAM Hà nội.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status