TIỂU LUẬN:
Vận dụng phương pháp dãy số
thời gian phân tích biến động tỷ
trọng của khu vực dịch vụ trong
GDP giai đoạn (1995 – 2002) và
dự báo cho năm 2004 Mở Đầu
Khu vực dịch vụ được coi là một trong ba bộ phận cơ bản của nền kinh
tế quốc dân – khu vực III (lĩnh vực kinh tế thứ 3). Tuy không trực tiếp sản xuất
ra sản phẩm vật chất cụ thể nhưng là ngành tạo ra nguồn vốn lớn cho nền kinh tế
quốc dân, làm giàu cho tổ quốc, đẩy mạnh và điều tiết sản xuất, phục vụ nhu cầu
đa dạng của sản xuất và đời sống. Khu vục dịch vụ chiếm một tỷ trọng lớn trong
GDP và mục tiêu đến năm 2010 của nước ta là tỷ trọng khu vực dịch vụ trong
GDP là 42 – 43%.
Các hiện tượng kinh tế xã hội luôn luôn biến đổi theo thời gian. Để nêu
lên đặc điểm bản chất và quy luật phát triển của các hiện tượng kinh tế xã hội có
rất nhiều các phương pháp khoa học. Song qua quá trình học tập môn học lí
Bảng 1:
Năm 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Tốc độ tăng
trưởng của
ngành dịch
vụ(%)
9,88 8,8 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54
1.2. Các thành phần của dãy số thời gian:
Mỗi dãy số thời gian được cấu tạo bởi hai thành phần là thời gian và chỉ
tiêu về hiện tượng được nghiên cứu. Thời gian có thể là ngày, tuần, tháng, quý,
năm Độ dài giữa hai thời gian liền nhau được gọi là khoảng cách thời gian. Chỉ
tiêu về hiện tượng được nghiên cứu có thể là số tuyệt đối, số tương đối, số bình
quân. Trị số của chỉ tiêu gọi là mức độ của dãy số.
1.3.Phân loại dãy số thời gian
Dựa vào các đặc điểm tồn tại về quy mô của hiện tượng qua thời gian có
thể phân làm hai loại
1.3.1. Dãy số thời kỳ : Trong đó các mức độ của dãy số là những số tuyệt
đối. Thời kỳ phản ánh quy mô của hiện tượng trong một độ dài hay khoảng thời
gian xác định.
1.3.2. Dãy số thời điểm: Đó là dãy số mà trong đó các mức độ của dãy số
là những số tuyệt đối thời điểm phản ánh quy mô khối lượng của hiện tượng tại
thời điểm nhất định.
1.4. Các yêu cầu khi xây dựng dãy số thời gian
Để phân tích sự biến động của dãy số thời gian yêu cầu cơ bản khi xây
dựng dãy số thời gian là phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau
giữa các mức độ trong dãy số. Muốn vậy, thì nội dung và phương pháp tính toán
1
21Đối với dãy số thời điểm có khoảng cách thời gian bằng nhau. Ta giả thiết
là các lượng biến của chỉ tiêu dãy số thời gian là biến động tương đối đều đặn
trong khoảng thời gian dãy số. Từ đó ta có công thức tính mức độ trung bình
theo thời gian từ một dãy số thời điểm có khoảng cách thời gian bằng nhau là :
1
2
2
12
1
n
y
yy
y
y
n
n
2.2.1 Lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối từng kỳ ( hay liên hoàn) là hiệu số
giữa mức độ của hai kỳ liền nhau tức là thời gian (i) so với thời gian trước (i-1).
i =
y
i
-y
i -1
(i = 2…,n)
Trong đó :
i
là lượng tăng ( hoặc giảm ) tuyệt đối liên hoàn.
2.2.2. Lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối định gốc: phản ánh sự thay đổi quy
mô hiện tượng trong thời gian dài là hiệu số giữa mức độ kỳ nghiên cứu y
i
và
mức độ của một kỳ nào đó được chọn làm gốc thường là mức độ đầu tiên trong
dãy số y
t
.
i
= y
i
- y
1
(i = 2,3…,n)
Dễ dàng nhận thấy rằng
2
n
n
nnn
2.3. Tốc độ phát triển:
Tốc độ phát triển là số tương đối ( thường được biểu hiện bằng lần hoặc
%) pản ánh tốc độ và xu hướng biến động của hiện tượng qua thời gian theo mục
đích nghiên cứu, ta có các tốc độ phát triển sau đây:
2.3.1.Tốc độ phát triển liên hoàn
Phản ánh tốc độ giữa hai thời gian liền nhau
1
i
i
i
y
y
t (i = 2,3,…n)
Trong đó : t
i
: tốc độ phát triển liên hoàn của thời gian (i) so với thời gian
(i-1) ŷ
y
i
: Mức độ của hiện tượng nghiên cứu ở thời gian (i)
3
t
n
= T
n
=
1
y
y
n
Hay
i
t
i
t
2
T
n
Thứ 2: Thương các tốc độ phát triển định gốc liên nhau bằng tốc độ phát
triển liên hoàn giữa hai thời gian đó.
1i
i
T
(hoặc giảm) bao nhiêu lần (hoặc giảm bao nhiêu %) tương ứng với các tốc độ
phát triển, ta có các tác động tăng (hoặc giảm) sau đây:
2.4.1 Tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn
là tỷ số giữa lượng tăng (hoặc giảm) liên hoàn với mức độ kỳ gốc liên
hoàn a
i
(i= 2,3, ,n) là tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn thì:
a
i
=
11 i
ii
i
i
y
yy
y
1
1
i
ii
y
yy
= T
i
–1
Hoặc A
i
(%) = T
i
(%) –100
2.4.3 Tốc độ tăng (hoặc giảm) trung bình
Là chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng (hoặc giảm) đại biểu trong suốt thời gian
nghiên cứu. Nếu ký hiệu là
1 ta hoặc
100(%)(%) ta
2.5 Giá trị tuyệt đối của 1% tăng (hoặc giảm) của tốc độ tăng (hoặc giảm)
liên hoàn thì tương ứng với một giá trị tuyệt đối là bao nhiêu. Nếu ký hiệu g
i
(i =
2, 3, ,n) là giá trị tuyệt đối của 1% tăng (hoặc giảm) thì:
(%)
i
i
i
a
g
(i = 2,3,…n)
hay
3. Một số phương pháp biểu hiện xu hướng biến động cơ bản của hiện
tượng
Sự biến động của hiện tượng qua thời gian chịu tác động của nhiều yếu tố
có hai loại yếu tố cơ bản là:
Những nhân tố cơ bản (bản chất) tác động vào hiện tượng, quyết định xu
hướng phát triển cơ bản hiện tượng (biểu hiện) tính quy luật của hiện tượng.
Những nhân tố ngẫu nhiên tác động vào hiện tượng ở những thời gian
khác nhau theo chiều hướng khác nhau và mức độ không giống nhau, gây ra
những sai lệch khỏi xu hướng cơ bản. Nhiệm vụ của nghiên cứu thống kê là tìm
ra được xu hướng biến động cơ bản của hiện tượng. Vì vậy, cần sử dụng những
phương pháp thích hợp để phần nào loại bỏ tác động của những nhân tố ngẫu
nhiên để nêu lên xu hướng và tính quy luật về sự biến động của hiện tượng.
3.1 Phương pháp mở rộng khoảng cách thời gian
Phương pháp này được sử dụng khi một dãy số thời kỳ có khoảng cách
thời gian tương đối ngắn và có nhiều mức độ mà qua đó chưa phản ánh được xu
hướng biến động của hiện tượng. Do khoảng cách thời gian được mở rộng nên
trong mỗi mức độ của dãy số mới thì sự tác động của các nhân tố ngẫu nhiên
(với chiều hướng khác nhau) phần nào đã được bù trừ (triệt tiêu) và do đó ta thấy
được xu hướng biến động cơ bản của hiện tượng được nghiên cứu. Ta có thể mở
rộng khoảng cách thời gian từ tuần sang tháng, quý sang năm, từ tháng sang quý,
năm.
3.2 Phương pháp số trung bình trượt (di động)
Số trung bình trượt (còn gọi là số trung bình di động) là số trung bình
cộng của mỗi nhóm các mức độ của mức độ của dãy số được tính bằng cách lần
lượt loại dần các mức độ đầu, đồng thời thêm các mức độ tiếp theo, sao cho tổng
số lượng các mức tham gia tính số trung bình không thay đổi.
Giả sử ta có dãy ban đầu y
nnn
n
yyy
y
Từ đó ta có một dãy số mới gồm các số trung bình trượt là
132
, ,,
n
yyy
Trung bình trượt tính từ bao nhiêu mức độ: tuỳ thuộc vào tính chất của
hiện tượng qua thời gian và nó còn tuỳ thuộc vào số mức độ nhiều hay ít.
Nếu sự biến động của hiện tượng tương đối đều đặn và số lượng mức độ
của dãy số không nhiều thì có thể tính trung bình trượt cho nhóm ba hoặc bốn
mức độ.
Nếu sự biến động của hiện tượng lớn và dãy số có nhiều mức độ thì có
thể tính trung bình trượt từ năm đến bảy mức độ. Trung bình trượt được tính từ
càng nhiều mứcđộ thì càng có tác dụng san bằng ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu
nhiên. Nhưng mặt khác lại làm giảm số lượng các mức độ của dãy số trung bình
trượt.
3.3 Phương pháp hồi quy theo thời gian
Trên cơ sở dãy số thời gian, người ta tìm một hàm số (gọi là phương trình
i
– y
i–1
Nếu các sai phân bậc một xấp xỉ bằng nhau thì hàm xu thế có dạng:
t
y
ˆ
= b
0
+ b
1
t
Sai phân bậc hai :
i
(2)
=
i
(1)
-
i-1
(1)
Nếu các sai phân bậc hai xấp xỉ bằng nhau thì hàm xu thế có dạng:
t
y
ˆ
= b
0
t
3
Dựa vào tốc độ phát triển liên hoàn
1
i
i
i
y
y
t
Nếu các t
i
xấp xỉ bằng nhau thì hàm xu thế có dạng
t
y
ˆ
= b
0
* b
1
t
Tham số b
0
, b
0
, b
t
được xác định bởi hệ
phương trình sau:
2
10
10
.
tbtbyt
tbnby
Nếu hàm xu thế có dạng y = b
0
+ b
1
t +b
2
t
2
3
2
2
10
2
210
.
.
tbtbtbyt
tbtbtbty
tbtbnby
Dựa vào sai số chuản của mô hình của hàm xu thế
pn
yy
SE
tt
2
)
ˆ
(
Trong các mô hình của hàm xu thế. Mô hình nào có SE min thì mô hình
đó tốt nhất
Trong đó : n số lượng mức độ dãy số
Trong đó : I
i
là chí số thời vụ của thời gian t
i
y : số trung bình các mức độ của các thời gian cùng tên i
0
y : số trung bình chung của tất cả các mức độ trong dãy số
12
36
12
12
3
1
12
1
0
i
i
j i
ij
y
y
y
) nói lên xu hướng phát triển chủ yếu của hiện tượng, một sự
tiến triển kéo dài theo thời gian.
Biến động thời vụ (s
t
) là sự biến động có tính chất lặp đi lặp lại trong
những thời gian nhất định của năm.
Biến động ngẫu nhiên (z
t
) là các sai lệch ngẫu nhiên khỏi xu thế.
Ba thành phần trên được kết hợp theo hai dạng sau:
Dạng cộng: y
t
= f (t) +s (t) +z (t)
Dạng nhân: y
t
= f (t) * s (t) * z (t)
Dạng cộng phù hợp với biến động thời vụ có biên độ ít thay đổi theo thời
gian .Dạng nhân phù hợp với biến động thời vụ có biên độ thay đổi lớn theo thời
gian.
4.1.Phân tích các thành phần theo dạng cộng
Giả sử xu thế là hàm tuyến tính f(t) = b
0
+ b
1
t
Biến động thời vụ s
t
,S
i
được thực hiện bằng bảng dưới đây ( gọi Bảng
Buys-Ballot)
Bảng 2:
Quý j
Năm
i
1 2 3 4
Tổng
n
j
jii
yT
1
i . T
i
1 y
i j
2
.
n
m
n
T
y
.
T
m
n
mnnm
b .
2
1
)1(.
12
2
1
2
t
y (có thể tính trung bình trượt một hoặc hai lần ). Người ta, hy vọng rằng việc tính
các số trung bình trượt sẽ nói lên xu thế biến động của hiện tượng f(t) ta có:
t .Zt =
)(t
t
f
y
Gọi là trung bình xén : là trung bình tính đựơc bằng cách loại bỏ giá trị
lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của tỷ số. y
t
/ f
t
Từ trung bình xén tình hệ số điều
chỉnh ( ký hiệu là H)
H=
Tổng trung bình mong đợi
Tổng trung bình xén (tổng thể)
Tổng trung bình mong đợi là tổng trung bình trong điều kiện không có
biến động thời vụ.
Như vậy, đối với tài liệu quý thì tổng trung bình mong đợi là 4( hoặc
400%) , tài liệu tháng là 12( hoặc 1200% ).
Tổng trung bình xén là tổng trung bình xén của quý hoặc tháng.
Chỉ số thời vụ điều chỉnh j =Trung bình xén j * H
Xác định: Zt = y
t
/f
t
. t
vật chất cụ thể, mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ Dịch vụ là
một loại sản phẩm kinh tế, không phải là vật phẩm mà là công việc của con
người dưới hình thái lao động thể lực, kiến thức, kỹ năng chuyên nghiệp, khả
năng tổ chức và thương mại. Các ngành dịch vụ cấu thành mọt tô hợp liên
ngành rộng rãi, đảm bảo cho sự hoạt động của bình thường, liên tục, đều đặn của
quá trình tái sản xuất và đời sống xã hội. Vì vậy, phát triển và phân bổ hợp tổ
hợp ác ngành dịch vụ đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với quá trình
phát triển kinh tế – xã hội.
Tổng thu nhập của một quốc gia cũng như doanh thu của một doanh
nghiệp không thể không tính đến sự đóng góp của lĩnh vực dịch vụ. ở các nước
phát triển, tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP thường rất cao, chiếm từ 60 –
70% GDP. Cụ thể là ở Mĩ 70% GDP là từ dịch vụ. ở nhữnh nước đang phát triển
có trình độ trung bình chiêm hơn 40%, ở những nước đang phát triển có trình độ
thấp hơn chiếm gần 30%. Đối với nước ta, mục tiêu đề ra là đến năm 2010 tỷ
trọng khu vực dịch vụ trong GDP là 42 – 43%.
Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ 3 trong nền
kinh tế quốc dân. theo cách hiểu này, các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành
công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ.
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ kinh doanh, bao gồm
hỗ trợ trước, trong và sau khi bán, là phần mềm của sản phẩm được cung ứng
cho khách hàng.
Hiên nay, nhiều tổ chức kinh tế, các cá nhân đàu tư không ít tiền của,
công sức vào các hoạt động dịch vụ, bởi nó đem lại hiệu quả kinh tế cao và đang
là xu thế của thời đại.
2.Thực trạng về khu vực dịch vụ của nước ta hiện nay.
2.1. Khái quát chung
Ngành dịch vụ bao gồm nhiều loại hình khác nhau và rất phức tạp. ở nước
cao do tỷ suất lợi nhuận của đầu tư trong nông nghiệp thấp, đồng Việt Nam lên
giá mạnh, FDI chảy vào nhiều, các nhà đầu tư đã đổ dồn vào ngành dịch vụ và
các ngành công nghiệp được nhà nước bảo hộ. Quá trình tăng vốn đầu tư kéo
theo quá trình thu hút lao động xã hội ngày càng tăng vào nhóm ngành dịch vụ.
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ giảm
mạnh, từ 9,38% năm 1995 xuống 5,08% năm 1998 và 2,25% năm 1999. Mặc dù
chiếm trên 40% GDP năm 1999 của Việt Nam nhưng khu vực dịch vụ có mức
tăng trưởng thấp hơn hẳn so với khu vực nông nghiệp và công nghiệp. Sự suy
giảm mức tăng trưởng của khu vực dịch vụ chủ yếu do nhu cầu sản xuất và tiêu
dùng trong nước giảm và một phần do tác động của khủng hoảng tài chính – tiền
tệ khu vực.
Tuy nhiên, số lao động của ngành lại tăng nhanh hơn vào thời gian này:
lao động trong ngành dịch vụ tăng từ 17,8% trong tổng số lao động đang làm
việc trong các ngành kinh tế năm 1996 lên 18,7% năm 1998, với mức tăng tuyệt
đối từ gần 6 triệu người năm 1996 lên gần 6,6 triệu người năm 1998. theo dõi
mức tăng việc làm theo các loại hình công việc chính từ 1993 – 1998 chúng ta
cũng thấy lao động phio nông nghiệp hộ gia đình tăng nhanh nhất 5,4%, trong đó
khu vực nông thôn tăng nhanh hơn với 6,7% và khu vực thành thị là 3,9%. Việc
làm phi nông nghiệp hộ gia đình bao gồm các doanh nghiệp hay ngành nghề do
các hộ tự tổ chức và quản lý, điều hành, đây chính là hoạt động kinh tế ở khu
vực tư nhân và phi kết cấu. hình thức làm công ăn lương(chiếm khoảng 20%
tổngb số lao động ) chỉ tăng 3,5% / năm. Lao động làm công ăn lương ở khu vực
thành thị (hay còn gọi là khu vực chính thức) tăng 3,7%/năm và chỉ chiếm chưa
đến 10% tổng số lao động xã hội, số lao động làm công ăn lương ở khu vực tư
nhân chiếm tỷ lệ cao hơn so với khu vực nhà nước. Nếu xét theo cơ cấu ngành
thì việc làm trong ngành dịch vụ tăng nhanh hơn cả 7%/năm. Như vậy, sự gia
tăng lao động trong ngành dịch vụ chủ yếu là do gia tăng làm việc ở khu vực
kinh tế tư nhân(thuộc khu vực chính thức) và gia tăng việc làm ở khu vực phi kết
cấu (tham gia vào thị trường lao động phi kết cấu bao gồm các chủ cơ sở sản
vào rất nhiều các hình thức dịch vụ đa dạng, phong phú, linh hoạt. Theo ngân
hàng thế giới giai đoạn từ 1990 – 1998, việc làm trong ngành công nghiệp hầu
như không tăng, cũng trong thời gian đó dân số tăng 16%, tổng số việc làm trong
nông nghiệp tăng ít, nhưng khu vực kinh tế không chính thức, với năng suất
thấp, lại tạo ra nhiều chỗ làm mới, riêng việc làm trong ngành dịch vụ tăng từ 4
triệu lên gần 8 triệu. Hơn một nửa số lao động dôi ra được thu hút vào khu vực
dịch vụ nông thôn và 1/3 số còn lại được thu hút bởi khu vực dịch vụ thành phố.
Như vậy, khu vực dịch vụ đã thu hút gần 70% toàn bộ sự tăng trưởng về việc
làm trong giai đoạn 1990 – 2000, tuy rằng lực lượng lao động này còn mang tính
chất là dịch vụ cấp thấp và chủ yếu nằm trong khu vực phi kết cấu.
2.3. Hoạt động xuất khẩu các loại dịch vụ ở nước ta
Lẽ ra Việt Nam đã có một nền kinh tế dịch vụ phát triển tương đối đồng
bộ, hùng hậu và thu nhiều ngoại tệ qua xuất khẩu những “ sản phẩm vô hình ”,
nếu không phải dành nhiều thời gian để đàu tư cho cái ăn, cái mặc và phát triển
cơ sở hạ tầng sau chiến tranh. Bởi vì nước ta có qui mô dân số không nhỏ, nguồn
lực lao động giầu chất xám và vị trí địa lí – kinh tế – chính trị khá thuận lợi, nếu
không nói là được thiên nhiên có phần ưu đãi. Sau hơn 15 năm thực hiện đường
lối đổi mới và chính sách mở cửa, nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà
nước đã hình thành và đang lớn mạnh, an ninh lương thực được đảm bảo, cơ sở
hạ tầng kinh tế – xã hội được cải thiện đáng kể. Vì vậy , đã đến lúc phải tập
trung nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển các ngành dịch vụ để không bao xa
nữa , xuất khẩu những sản phẩm vô hình cũng có vị thế không kém so với xuất
khẩu gạo , cà phê , thủy sản
Đối với nước ta hiện nay hoạt động du lịch là một ngành dịch vụ đang lên
ngôi . Năm 2002 ngành du lịch Việt Nam đón tiếp khoảng 2,6 triệu lượt khách
quốc tế , tăng khoảng 12 % đạt doanh thu ngoại tệ trên 1,1 tỉ USD , tăng trên 7%
so với năm trước. Trong năm 2003 nước ta đã có nhiều hoạt động gắn với du
nhiên, nước ta mới tự đảm nhiệm chuyên chở khoảng 13% tổng khối lượng hàng
hóa xuất nhập khẩu của mình. tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển ở tuyến
nước ngoài năm 2001 của tổng công ty hàng hải Việt Nam đạt khoảng 9,12 triệu
tấn, trong đó trở hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam chỉ chiếm gần 2,5 triệu tấn.
Tình hình năm 2002 có khá hơn, ước đạt trên 12 triệu tấn, nhưng tỷ lệ chở hàng
xuất nhập khẩu của Việt Nam hầu như chưa có chuyển biến tích cực.
Hoạt động dịch vụ ngân hàng ngày càng phong phú đa dạng. theo các
chuyên gia, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ngân hàng năm 2002 đạt trên 600 triệu
USD, chủ yếu thu từ hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam liên
quan đến thanh toán quốc tế, nhưng cũng chỉ xấp xỉ với kim ngạch nhập khẩu
các loại dịch vụ này (mấy năm trước Việt Nam còn nhập siêu). các hoạt động
cung cấp dịch vụ ngân hàng như môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư, bảo lãnh
phát hành thực hiện các giao dịch hoán đổi. Hợp đồng lựa chọn cho các cá nhân,
tổ chức công cư trú tại Việt Nam còn rất hạn chế.
Nếu coi xuất khẩu lao động cũng là một loại hình xuất khẩu dịch vụ thì
đây là một mảng có vị trí đặc biệt. Hiện nay có trên 300000 chuyên gia, công
nhân đang làm việc lao động ở nước ngoài, mỗi năm gửi về nước khoảng 1,5 tỷ
USD, riêng số tiền theo hợp đồng nhà nước thu được khoảng 300 triệu USD. Rõ
ràng xuất khẩu lao động là vấn đề rất cần thiết và có ý nghĩa lớn. Được biết, năm
2002 đã tổ chức cho khoảng 40 – 45 nghìn người đi lao động ở nước ngoài.
Ngoài ra, dịch vụ bảo hiểm cũng đang phát triển mạnh ở nước ta với
nhiều loại hình bảo hiểm phong phú, đa dạng. Tại hầu hết các nước phát triển,
bảo hiểm là ngành kinh tế quan trọng, có nguồn thu ngoại tệ rất lớn, đóng góp
không nhỏ trong GDP của quốc gia. Tuy nhiên, ở nước ta , hoạt động dịch vụ
bảo hiểm mới bắt đầu sôi nổi trong thời gian gần đây.
Trên đây là những dịch vụ xuất khẩu chính yếu trong. Trong xuất khẩu
dịch vụ, người ta còn tính cả xuất khẩu phần mềm vi tính. Đây cũng là lĩnh vực
năng cạnh tranh của các dịch vụ Việt Nam còn rất hạn chế cả về chất lượng dịch
vụ lẫn đội ngũ cán bộ công nhân viên trong ngành.Ngoài ra cũng còn phải tính
đến nhữnh biến động khó lường của khủng hoảng tài chính, năng lượng, thiên
tai, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo.
Dịch vụ Việt nam đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, điểm xuất phát
thấp so với lĩnh vực dịch vụ của các nước trong khu vực và trên thế giới. Trình
độ, kinh nghiệm quản lí và kinh doanh của đội ngũ cán bộ cũng như nghiệp vụ
của người lao động trong ngành còn nhiều bất cập. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất
kỹ thuật của ngành còn yếu kém, thiếu đồng bộ.
Vốn đầu tư cho các ngành dịch vụ còn rất thiếu trong khi đó lại chưa
đồng bộ, kém hiệu quả đang là một thách thức không nhỏ đối với sự phát triển
các ngành dịch vụ ở nước ta.
Trình độ phát triển kinh tế xã hội của nước ta cũng như mức sống của dân
cư còn thấp, ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu cho phát triển các ngành dịch vụ.
Trong nhiều năm qua, nhà nước ta đã có nhiều chính sách và nỗ để phát
triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện nay còn yếu kém,
chưa đáp ứng đủ yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế, hạn chế khả năng tiếp
cận các dịch vụ.
21
Ta có tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP trung bình là:
8
5,387,381,407,415,422,44
y
(%)84,40
8
7,326
y
Vậy tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP trung bình mỗi năm trong giai
đoạn(1995 - 2002) là 40,84(%)
1.2. Lượng tăng (giảm) tuyệt đối:
* Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn (
i
)
2
= y
2
- y
1
= 42,5 - 44,1 = - 1,6 (%)