Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự phát truyển của kinh tế-xã hội, nhu cầu trao đổi
thông tin của con người ngày càng cao. Bởi vậy ngành điện tử viễn thông có
một vai trò đặc biệt quan trọng nhất là trong thời buổi bùng nổ thông tin như
hiện nay. Các hệ thống viễn thông trở thành phương tiện rất hữu ích cho việc
trao đổi thông tin.
Thông tin càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, nó đặt nên một vấn đề
là truyền đạt thông tin như thế nào để thông tin đi được nhanh nhất và chính
xác nhất. Hệ thống tổng đài ra đời đã đáp ứng một phần nào nhu câu thông tin
của xã hội.
Hệ thống tổng đài là thiết bị làm việc kết nối phục vụ các loại dịch vụ thông
tin khác nhau. Tổng đài cung cấp một đường truyền dẫn tạm thời để truyền
thông tin đồng thời theo hai hướng giữa các loại đường dây truyền dẫn. Nó
được các thiết bị chuyển mạch của tổng đài thực hiện thông qua trao đổi báo
hiệu với mạng bên ngoài.
Từ khi con người đưa tổng đài điện thoại đầu tiên vào xử dụng cho tới nay,
kỹ thuật tổng đài có ngững bước tiến vô cùng to lớn. Đầu tiên là ngững tổng đài
nhân công mà các chức năng chung đều do nhân công thực hiện. Sau đó là
những tổng đài điện cơ bán tự động, nó được xây dựng trên cơ sở nguyên lý
chuyển mạch từng nấc, chuyển mạch ngang dọc. Tiếp theo đó là những tổng đài
điều khiển theo chương trình ghi sẵn cho tín hiệu số đã được xử dụng rộng rãi
trên phạm vi toàn thế giới với số lượng và chủng loại ngày càng đa dạng, phong
phú hơn.
Nội dung chủ yếu của đồ án này em đã viết
“Kỹ thuật chuyển mạch và tổng đài điện tử SPC”
1
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
Mặc dù đã rất cố gắng hoàn thành đồ án này nhưng do thời gian có hạn
5.2. Các loại bảng báo hiệu..............................................................................................................................53
5.3. Số liệu thuê bao.........................................................................................................................................54
5.4. Phân tích phiên dịch và tạo tuyến.............................................................................................................55
5.5. Thiết lập gọi..............................................................................................................................................56
5.6. Tính cước..................................................................................................................................................58
VI. BÁO HIỆU.................................................................................................................................................59
6.1. khái quát trung về báo hiệu.......................................................................................................................59
6.2. Báo hiệu kênh riêng (CAS).......................................................................................................................63
6.3. Báo hiệu kênh chung.................................................................................................................................66
VII. THÔNG TIN NGƯỜI - MÁY TRONG TỔNG ĐÀI SPC........................................................................71
7.1. Thiết bị ngoại vi người-máy......................................................................................................................71
7.2. Ngôn ngữ giao tiếp ngươi-máy.................................................................................................................71
7.3. Thông tin vào-ra và các thao tác...............................................................................................................72
VIII. ĐIỀU HÀNH, KHAI THÁC VÀ BẢO DƯỠNG TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SỐ SPC................................73
8.1. Điều hành..................................................................................................................................................73
8.2. Điều hành khai thác tổng đài SPC............................................................................................................73
8.3. Giám sát đo thử ..............................................................................................................74
8.4. Bảo dưỡng tổng đài điện tử SPC...............................................................................................................74
8.5. Xử lý sự cố................................................................................................................................................75
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG....................................................................................................76
I. TỔNG QUAN VỀ TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SỐ
3
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
1.1. Giới thiệu về tổng đài điện tử số
Với sự phát truyển của xã hội định hướng thông tin, các dịch vụ thông tin
điện thoại, thông tin số liệu thông tin di động,... ngày càng trở nên phong phú, đa
dạng. Sự phát truyển của công nghệ thông tin bao gồm cả truyền dẫn cáp quang,
kỹ thuật số, kỹ thuật thông tin vệ tinh,... được phát truyển một cách nhanh chóng,
các mạng thông tin ngày một nâng cấp về tính năng và tốc độ phát truyển. Kỹ
công tác điều hành khai thác rất bị hạn chế. Đối với các tổng đài điện tử số công
việc thay đổi các dịch vụ cho thuê bao được thực hiện dễ dàng nhờ chức năng thao
tác lệnh, một số dịch vụ mới còn có thể thực hiện được ngay tại chính máy thuê
bao (chuyển cuộc gọi, báo thức,...). Như vậy tổng đài điện tử số có khả năng linh
hoạt cao trong quá trình điều hành khai thác.
1.2.5. Công tác bảo dưỡng
Công tác bảo dưỡng trong tổng đài cơ điện phải thực hiện bằng nhân công
cho nên mất nhiều thời gian, không có các trang thiết bị tự động phân tích các sự
cố cho hệ thống. Trong các tổng đài điện tử số công việc đo thử trạng thái làm việc
của các thiết bị bên trong cũng như các tham số của đường dây thuê bao, trung kế
được tiến hành tự động và thường kỳ. Sự cố trong hệ thốnh được phát hiện tự
động. Các kết quả đo thử, cảnh báo và được đưa ra các thiết bị hiển thị, máy in
ngay tức thời cho nên rất thuận lợi cho công tác vận hành và bảo dưỡng.
1.2.6. Các dịch vụ cho thuê bao
Các tổng đài điện tử số có thể cung cấp cho thuê bao rất nhiều dịch vụ nâng
cao một cách dễ dàng như:
Chọn số bằng mã đa tần (Tone)
Thuê bao ưu tiên
Đặt cấp dịch vụ đặt ra cho thuê bao
Chuyển cuộc gọi (Recall)
Đàm thoại hội nghị
Ngăn quấy rầy
Gọi xen
Tái lập gọi
Bắt giữ
5
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
Báo thức tự động
Đường dây nóng, ấm
tử số còn làm được các công việc: công việc phiên dịch hồ sơ thuê bao, lưu trữ số
địa chỉ, cung cấp nhiều dịch vụ cho thuê bao, công việc đo thử đường dây thuê bao
được thực hiện tự động, kết quả đo thử được đưa ra trên các thiết bị giao tiếp
người-máy.
Sự phát truyển của thiết bị điện tử đã có những ưu việt đáng kể và nó đã
được áp dụng vào việc tạo ra các tổng đài điện tử số. Khi công nghệ vi mạch và
mạch điều khiển phát truyển việc thiết kế tổng đài điện tử làm việc theo nguyên lý
“Điều khiển theo chương trình ghi sẵn” SPC (Stored Program Controled) đã trở
nên thực tế và trở thành nguyên lý chủ đạo cho kỹ thuật tổng đài điện tử. Từ đó nó
đã mở ra một chuyển vọng mới cho một loạt các dịch vụ nâng cao cho thuê bao
cũng như cho công tác điều hành và bảo dưỡng của tổng đài.
7
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
II. TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SỐ SPC
Trong phương thức chuyển mạch cơ điện các chức năng của một tổng đài
nhờ sự thao tác hay phục hồi của các rơle hay các tiếp điểm chuyển mạch kiểu
từng nấc hoặc ngang dọc đưới sự khống chế của hệ thống điều khiển. Các số liệu
tổng đài như các loại nghiệp vụ cho thuê bao, phiên dịch và tạo tuyến, các loại tín
hiệu đặc trưng được tạo ra bằng các mạch tổ hợp logic kiểu rơle đã được đấu nối
cố định. Khi cần thay đổi các số liệu để đưa ra các dịch vụ mới cho thuê bao thì ta
cần thay đổi các cấu trúc phần cứng đã được cố định của tổng đài. Những sự thay
đổi này thường phức tạp, do vậy tính linh hoạt của tổng đài hầu như không có.
Tổng đài điện tử số SPC là tổng đài làm việc theo nguyên lý điều khiển theo
chương trình ghi sẵn (Stored Program Controled-SPC) người ta dùng các bộ sử lý
giống như các máy vi tính để điều khiển hoạt động của tổng đài. Tất cả các chức
năng điều khiển được đặc trưng bởi các lệnh đã ghi sẵn trong các bộ nhớ.
Ngoài ra các số liệu trực thuộc tổng đài như số liệu về thuê bao, các bảng
phiên dịch địa chỉ, các thông tin về tạo tuyến, thống kê... cũng được ghi sặn trong
các bộ nhớ số liệu. Qua mỗi bước xử lý gọi sẽ nhận được một sự lựa chọn tương
chuông cho thuê bao bị gọi và nhân viên sẽ cắm jắc nối giữa thuê bao bị gọi và
thuê bao bị gọi. Khi đã kết thúc cuộc gọi thì nhân viên phải rút jắc ra để khôi phục
lại trạng thái ban đầu cho hai thuê bao. Như vậy đặc điểm trung của tổng đài nhân
công là tất cả các thao tác từ thiết lập cuộc gọi đến khi giải phóng cuộc gọi đều
phải thực hiện một cách thủ công.
Ưu điểm: Đơn giản, dễ xử dụng
Nhược điểm: Tốc độ làm việc chậm, hiệu quả thấp, không đảm bảo bí mật
thông tin, cấu tạo cồng kềnh.
b. Chuyển mạch tự động
Vào những năm 1892 các nhà chế tạo tổng đài đã cho ra đời tổng đài cơ điện
và từng bước hòan thiện chúng. Tổng đài tự động từng nấc đầu tiên điều khiển trực
tiếp đã được ra đời để khắc phục các nhược điểm và hạn chế của tổng đài nhân
công. Cùng với sự phát truyển của kỹ thuật điện tử, kỹ thuật tin học các loại tổng
đài tự động hoàn toàn đã được ra đời.
9
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
Ưu điểm: nó đã khắc phục được một số nhược điểm của tổng đài nhân công.
Nhược điểm: Cấu tạo phức tạp, giá thành cao, đòi hỏi người vận hành phải có
trình độ kỹ thuật cao.
2.1.2. Phân loại theo cấu tạo:
Chuyển mạch cơ điện: Trong tổng đài cơ điện công việc nhận và phân tích
các tín hiệu báo hiệu ở các mạch điện thuê bao và trung kế, điều khiển tạo tuyến
nối, phiên dịch và chọn số... đã được thực hiện bởi các mạch điện logic được cấu
tạo bằng các rơle cơ điện, quá trình chuyển mạch sử dụng các bộ nối dây ngang
dọc.
Ưu điểm: Cấu tạo đơn giản, dễ xử dụng...
nhược điểm: Cồng kềnh vì có nhiều bộ phận cơ khí, ít linh hoạt, tốc độ
chuyển mạch chậm...
Chuyển mạch điện tử: Tổng đài điện tử đầu tiên ra đời năm 1965 và tiếp tục
tạp, đòi hỏi chuyên môn đối với người vận hành và khai thác...
2.1.4. Phân loại theo nhiệm vụ của trường chuyển mạch
Chuyển mạch nội hạt: Là chuyển mạch tạo tuyến nối cho các cặp thuê bao
trong cùng một tổng đài.
Chuyển mạch gọi ra: Là chuyển mạch để tạo tuyến nối cho các đường dây
thuê bao của tổng đài với các đường trung kế dẫn tới các tổng đài khác.
Chuyển mạch gọi vào: Là chuyển mạch để tạo tuyến nối cho các đường
trung kế từ các tổng đài khác tới các đường dây thuê bao của tổng đài.
Chuyển mạch chuyển tiếp: Là chuyển mạch để tạo các tuyến nối cho các
đường trung kế từ một tổng đài tới các đường trung kế ra của một tổng đài khác.
Các nhiệm vụ trên của mỗi tổng đài được thiết bị chuyển mạch của tổng đài
thực hiện thông qua quá trình trao đổi báo hiệu với mạng ngoài.
Tổng đài nội hạt là một tổng đài thực hiện được 3 loại chuyển mạch a,b,c nêu
trên.
Tổng đài chuyển tiếp là tổng đài chỉ thực hiện chức năng chuyển mạch thứ tư.
Tổnh đài quốc tế dùng để tạo tuyến nối cho các thuê bao trong nước ra mạng
quốc tế. Ngoài ra các tổng đài trên còn có các tổng đài cơ quan (thường được gọi
là PABX). Tổng đài PABX dùng để liên lạc điện thoại trong nội bộ vơ quan và đấu
nối các thuê bao của nó ra mạng công cộng.
11
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
2.2. Nhiệm vụ chung của một tổng đài
2.2.1. Nhiệm vụ báo hiệu
Là nhiệm vụ trao đổi báo hiệu với mạng ngoài bao gồm mạng các đường
dây thuê bao và trung kế đấu nối tới các máy thuê bao hay tổng đài khác.
2.2.2. Nhiệm vụ xử lý các thông tin báo hiệu và điều khiển các thao tác
chuyển mạch
Thiết bị điều khiển chuyển mạch nhận các thông tin báo hiệu từ các đường
dây thuê bao và trung kế, xử lý các thông tin này và đưa ra và đưa ra các thông tin
Thêm vào đó, phương thức điều khiển phân tán cũng dễ dàng tạo ra hệ
thống theo kiểu cấu trúc module, cấu trúc này tạo điều kiện dễ dàng phát truyển
dung lượng hệ thống.
2.4. Nguyên lý cấu tạo tổng đài SPC
2.4.1.Cấu tạo
Tuy có khác nhau nhiều giữa các tổng đài điện tử hiện nay đang xử dụng
trên mạng, nhưng tất cả các hệ thống đều giống nhau về cơ cấu phân bố các khối
chức năng:
Thiết bị kết cuối: bao gồm các mạch điện thuê bao, mạch điện trung kế,
thiết bị tập trung và xử lý tín hiệu...
Thiết bị chuyển mạch: bao gồm các tầng chuyển mạch thời gian, không
gian hoặc kết hợp.
Thiết bị ngoại vi và kênh riêng kết hợp thành thiết bị ngoại vi kết hợp.
Thông thường thiết bị báo hệu kênh chung để xử lý báo hiệu liên đài theo mạng
báo hiệu kênh chung. Còn thiết bị báo hiệu kênh riêng để xử lý thông tin báo hiệu
kênh riêng.
Thiết bị ngoại vi chuyển mạch: các thiết bị phân phối báo hiệu, thiết bị đo
thử, thiết bị điều khiển đấu nối hợp thành thiết bị ngoại vi chuyển mạch.
Thiết bị điều khiển chung tâm: bộ xử lý trung tâm cùng với các bộ nhớ của
nó.
Thiết bị trao đổi người - máy: là các loại máy tính, máy in... đề trao đổi
thông tin vào, ra và ghi lại các bản tin cần thiết phục vụ công tác điều hành và bảo
dưỡng tổng đài.
13
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
2.4.2. Nhiệm vụ của các khối chức năng
1. Thiết bị kết cuối: Thiết bị kết cuối gồm các mạch điện kết cuối thuê bao,
kết cuối trung kế tương tự và trung kế số
Khối mạch kết cuối thuê bao gồm:
Thiết bị kết
cuối
BUS CHUNG
Thiết bị trao đổi
người-máy
Bộ xử lý trung tâm
Các bộ nhớ
Trung kế số
Sơ đồ khối tổng đài SPC
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
O: Chống quá áp cho thiết bị (Overvoltage protection)
R: Cấp tín hiệu chuông (Ringing)
S: Giám sát trạng thái đóng/ngắt vòng thuê bao, là cơ sở nhận biết sự khởi
đầu cuộc gọi, nhận số quay, giám sát kết cuối cuộc gọi và giám sát trả lời
(Supervision)
C: Mã hoá và giải mã (Codec)
H: Mạch hỗn hợp để biến đổi các đường dây thuê bao 2 dây thành các
đường 4 dây (hybird)
T: Đo kiểm các đường thuê bao (Testing)
Trong khối mạch kết cuối thuê bao còn được trang bị các mạch điện nghiệp
vụ như mạch phối hợp báo hiệu, mạch điện thu phát xung địa chỉ ở dạng mã thập
phân và đa tần. Các loại mã địa chỉ này được tập trung xử lý ở một số bộ thu phát
mã dùng trung cho một nhóm thuê bao.
Khối mạch kết cuối trung kế tương tự chứa các mạch điện dùng cho các
cuọc gọi ra, gọi vào và gọi chuyển tiếp. Chúng làm các nhiệm vụ cấp nguồn, giám
sát cuộc gọi, phối hợp báo hiệu và biến đổi A/D ở các tổng đài số.
Khối mạch kết cuối thuê bao số có nhiệm vụ cơ bản là thực hiện các chức năng
GAZPACHO, bao gồm:
tuyến được nối các tín hiệu được trao đổi giữa hai thuê bao.
Với phương thức chuyển mạch thời gian, dựa vào phương thức ghép kênh theo
thời gian trên cơ sở lý thuyết lấy mẫu. Mỗi khe thời gian được gắn với một đầu
vào và một đầu ra của trường chuyển mạch. Từ đó tạo tuyến nối cho hai thuê bao.
Hệ thống chuyển mạch số: Phương thức chuyển mạch này còn gọi là phương
thức chuyển mạch PCM (Pulse Code Modulation), đây là một loại phương thức
chuyển mạch thời gian. Ở hệ thống chuyển mạch loại này một tuyến vật lý được
xử dụng chung cho một số cuộc gọi trên cơ sở phân chia theo thời gian sử dụng nó.
Mỗi cuộc gọi được xử dụng tuyến này trong một khoảng thời gian xác định và theo
chu kỳ với một tốc độ lặp thích hợp. Tiếng nói trong mỗi lần chuyển đi được gọi là
một mẫu và được mã hóa theo phương thức PCM. Một tuyến nối vật lý có thể
được ghép một số mẫu tiếng nói của nhiều cuộc gọi để tạo đường dẫn cho đồng
thời nhiều tuyến truyền tiếng nói.
3. Bộ điều khiển trung tâm: Bộ điều khiển trung tâm gồm một bộ vi xử lý
có khả năng xử lý lớn cùng các bộ nhở trực thuộc. Bộ xử lý này được thiết kế tối
ưu để xử lý cuộc gọi và các công việc liên quan trong một tổng đài. Nó phải hoàn
thành các nhiệm vụ kịp thời hay còn gọi là xử lý thời gian thực các công việc như:
Nhận xung mã chọn số gồm các con số địa chỉ.
Chuyển các tín hiệu địa chỉ đi ở các trường hợp chuyển tiếp gọi.
Trao đổi các loại báo hiệu cho thuê bao hay tổng đài khác.
Phiên dịch và tạo tuyến qua trường chuyển mạch.
16
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
Bộ xử lý chuyển mạch bao gồm một đơn vị xử lý trung tâm, các bộ nhớ chương
trình, số liệu và phiên dịch cùng các thiết bị vào – ra làm nhiệm vụ phối hợp để
đưa thông tin vào và lấy thông tin ra.
Đơn vị xử lý trung tâm là một bộ xử lý hay vi xử lý tốc độ cao và có công
suất xử lý tuỳ thuộc vị trí xử lý chuyển mạch của nó. Nó làm nhiệm vụ điều khiển
thao tác của thiết bị chuyển mạch.
dạng tổ hợp logic ở đầu ra bộ xử lý sang dạng tín hiệu điện phù hợp để điều khiển
các thiết bị chuyển mạch.
Thiết bị ngoại vi chuyển mạch bao gồm:
Thiết bị đo thử trạng thái đường dây (Scanner): Nhiệm vụ của thiết bị này là phát
hiện và thông báo cho bộ xử lý trung tâm tất cả các biến cố báo hiệu và các tín
hiệu trên đường dây thuê bao và trung kế đấu nối tới tổng đài.
Thiết bị phân phối báo hiệu (Distributor): Là tầng đệm giữa bộ xử lý trung tâm có
công suất tín hiệu điều khiển nhỏ nhưng tốc độ cao và các tín hiệu đường dây có
công suất lớn nhưng tốc độ thấp. Đây cũng là một thiết bị ngoại vi có cả đơn vị
phần cứng và phần mềm. Nó có nhiệm vụ điều khiển các thao tác hay phục hồi các
rơle cung cấp các dạng tín hiệu ở đường dây hay mạch nghiệp vụ dưới sự điều
khiển của bộ xử lý trung tâm.
Thiết bị điều khiển đấu nối (Marker): Làm nhiệm vụ chuyển giao các lệnh thiết lập
và giải phóng các tuyến vật lý qua trường chuyển mạch từ bộ xử lý trung tâm, các
tuyến vật lý này chỉ được thiết lập hay giải phóng khi đã được chuẩn bị sẵn trong
bộ nhớ của bộ xử lý trung tâm. Trong tổng đài số bộ xử lý trung tâm đóng vai trò
là bộ xử lý chuyển mạch hoặc bộ xử lý điều khiển liên lạc. Thông tin tạo tuyến
trong các bộ nhớ được lưu cho đến khi tuyến nối được giải phóng, cuộc gọi đã
xong.
5. Thiết bị ngoại vi báo hiệu: Trong mạng điện thoại hiện nay tồn tại nhiều
loại tổng đài khác nhau với các thế hệ chuyển mạch khác nhau, mỗi loại có hệ
thống báo hiệu riêng, vì vậy mỗi tổng đài điện tử nào có trong mạng phải phối hợp
được với các loại tổng đài khác trong mạng, trong đó vần đề phối hợp báo hiệu là
quan trọng nhất.
Tín hiệu báo hiệu giữa các tổng đài tự động có thể được dùng dưới dạng mã nhị
phân hay mã đa tần thì tín hiệu điều khiển phục vụ một cuộc gọi được truyền đi
theo kênh chung để truyền tín hiệu tiếng nói giữa các tổng đài. Cả hai loại tín hiệu
này được truyền theo kênh gắn liền với kênh truyền tiếng nói cho cuộc gọi đó.
Loại hệ thống báo hiệu này được gọi là báo hiệu kênh riêng và các thiết bị báo
hiệu kênh riêng làm nhiệm vụ xử lý và phối hợp các loại báo hiệu kiểu này từ các
Hệ thống chuyển mạch số là một hệ thống chuyển mạch trong đó tín hiệu
truyền dẫn qua trường chuyển mạch ở dạng số. Tín hiệu này có thể mang thông tin
tiếng nói hay số liệu. Nhiều tín hiệu số của các kênh tiếng nói được ghép theo thời
gian vào một đường truyền dẫn chung khi truyền dẫn qua hệ thống chuyển mạch.
Để đấu nối hai thuê bao với nhau cần phải trao đổi khe thời gian của hai mẫu tiếng
nói. Các mẫu này có thể trên cùng một tuyến dẫn hoặc ở các tuyến dẫn khác nhau
và đã được mã hoá theo phương thức điều xung mã PCM. Có hai phương pháp
thực hiện chuyển mạch các loại tổ hợp mã này theo hai hướng đó là chuyển mạch
thời gian và chuyển mạch không gian.
Để thực hiện chuyển mạch cho các cuộc gọi đòi hỏi phải sắp xếp các tín
hiệu số từ một khe thời gian của một bộ ghép hoặc một tuyến dẫn PCM sang cùng
một khe thời gian hoặc sang một khe thời gian khác của một bộ ghép hay tuyến
PCM khác.
3.2.Nguyên lý chuyển mạch không gian
Trong phương thức chuyển mạch không gian, khe thời gian tương ứng của
các tuyến PCM vào và ra khác nhau được trao đổi cho nhau. Một mẫu tín hiệu
PCM ở khe thời gian định trước của tuyến PCM vào được chuyển tới khe thời gian
cùng thứ tự của một tuyến PCM khác. Như vậy không có sự chậm trễ truyền dẫn
20
BỘ
CHUYỂN
MẠCH
SỐ
Tuyến dẫn vào PCM 0
Tuyến dẫn vào PCM 2
Tuyến dẫn vào PCM 1
Tuyến dẫn vào PCM n
Tuyến dẫn ra PCM 0
Tuyến dẫn ra PCM 1
Để điều khiển các thao tác chuyển mạch của các tiếp điểm cần có bộ nhớ
điều khiển. Bộ nhớ gồm các bộ nhớ hoặc các hàng nhớ tuỳ theo phương thức điều
khiển đầu vào hay đầu ra. Trong trường hợp bộ chuyển mạch làm việc theo nguyên
lý điều khiển đầu ra thì mỗi cột nối tới các đầu vào điều khiển của các tiếp điểm có
bộ nhớ điều khiển. Số lượng các ô nhớ điều khiển của mỗi cột điều khiển bằng số
khe thời gian của mỗi tuyến PCM đầu vào.
3.2.2. Nguyên lý chuyển mạch
Hoạt động của một tiếp điểm chuển mạch sẽ đấu nối một kênh nào đó
của một tuyến PCM vào tới cùng kênh có địa chỉ đó của một tuyến PCM ra trong
mộ khoảng thời gian. Khe thời gian này suất hiện mỗi khung một lần. Trong
21
0
1
n
0
1
n
Ma trận tiếp điểm
chuyển mạch
0 1 n
0
f
Sơ đồ khối chuyển mạch
không gian
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
khoảng thời gian của các khe thời gian khác, cùng một tiếp điểm có thể được dùng
để đấu nối cho các kênh khác. Ma trận tiếp điểm loại này làm việc như một ma
trận chuyển mạch không gian tiếp thông hoàn toàn giữa các tuyến PCM vào và các
tuyến PCM ra trong mỗi khe thời gian.
3.3.1. Chuyển mạch thời gian điều khiển đầu vào
Cấu tạo
- Theo phương pháp điều khiển đầu vào thì khi quá trình ghi tổ hợp mã trong
các khe thời gian của khung PCMi vào bộ nhớ dữ liệu được thực hiện có điều
khiển. Còn quá trình đọc ra các tổ hợp mã trong các ngăn nhớ của bộ nhớ dữ liệu
ra các khe thời gian của khung PCMo được thực hiện một cách tuần tự.
23
00
01
04
31
Bus địa chỉ
Tuyến PCM ra
TS 0 TS 4 TS 3 TS 6
Bộ nhớ tiếng nói
00
01
06
31
Bộ
điều
khiển
chuyển
mạch
Bộ
đếm
khe
thời
gian
PCMo.
24
Hoàng Ngọc Khuê
CĐ-ĐT 5 K46
3.3.2. Chuyển mạch thời gian điều khiển đầu ra
Cấu tạo
25
00
01
06
31
Bus địa chỉ
Tuyến PCM ra
TS 0 TS 4 TS 3 TS 6
Bộ nhớ tiếng nói
00
01
06
31
Bộ
điều
khiển
chuyển
mạch
Bộ
đếm
khe
thời
gian