BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TĂNG THÁI HÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY
CỔ PHẦN HÓA CÁC DNNN
Ở TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS.HỒ ĐỨC HÙNG
TP. HỒ CHÍ MINH
NĂM 2000
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
–
–
–
–
–
Trang
Mục đích nghiên cứu ...........................................................................................
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................
2
- Về chính sách chế độ đối với người lao động và DNNN....................
- Người mua. ................................................................................................
CHƯƠNG III :
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CỔ PHẦN HÓA TRONG
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TP. HỒ CHÍ MINH
1. Vấn đề đònh giá:.............................................................................................. 39
1.1.Về đất đai................................................................................................. 39
1.2. Về lợi thế kinh doanh ............................................................................ 40
1.3. Về cơ chế đònh giá 1 số DNNN. ............................................................. 41
2. Phát huy tác dụng của thò trường chứng khoán .......................................... 41
3. Xây dựng đề án CPH ................................................................................... 44
4. Ban hành luật CPH ....................................................................................... 45
5. Chính sách đối với người lao động tại Doanh nghiệp cổ phần hóa ........... 45
6. Công tác tuyên truyền vận động. ................................................................. 46
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ :...................................................................................... 46
1. Giải pháp khi không bán được cổ phần ...................................................... 46
2. Mô hình cổ phần hóa hai bước..................................................................... 47
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC. ...............................................................................................................
1. Quy trình cổ phần hóa DNNN ...........................................................................
2. Danh sách DNNN đã CPH trong cả nước đến 31/12/1999 ...............................
3. Tổng hợp tình hình CPH / DNNN cả nước trong năm 1999 ..............................
4. Kế hoạch CPH và được đa dạng hóa năm 2000. ...............................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO. .....................................................................................
kể từ giai đoạn thí điểm theo QĐ 202/CT ngày 08/06/1992 cho đến cuối năm
1999, kết quả vẫn chưa được như mong đợi.
Cổ phần hoá DNNN, là một chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng và Nhà
nước. Nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện thøng phát sinh nhiều vấn đề.
Là học viên cao học của trường Đại học Kinh tế chuyên ngành Quản trò
Kinh doanh, với kiến thức được nhà Trường trang bò và thực tiễn khảo sát được,
để góp phần giải quyết vấn đề trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài :
“Một số giải pháp thúc đẩy cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước
ở TP. Hồ Chí Minh”.
nhằm đóng góp một phần nhỏ ý kiến của mình chung quanh vấn đề này.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Qua luận văn này, chúng tôi muốn tập trung nghiên cứu các nguyên nhân
làm chậm trễ quá trình Cổ phần hóa DNNN tại TP. Hồ Chí Minh, đồng thời đề
xuất các giải pháp góp phần cung cấp cho các cơ quan Nhà nước cơ sở khoa học
và thực tiễn nhằm đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá tại TP. Hồ Chí Minh, tạo điều
kiện nâng cao hiệu quả của bộ phận các DNNN được cổ phần hoá trong nền kinh
tế thò trường.
ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
Nhằm giải quyết thỏa đáng mục đích trên, luận án đã tập trung nghiên cứu
thực trạng các Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đang chuẩn bò cổ phần hóa
(CPH) và các DNNN đã hoàn tất quá trình CPH nhằm đánh giá các mặt mạnh
cần phát huy cũng như các mặt yếu cần khắc phục để làm cơ sở đề xuất các giải
pháp.
Phạm vi nghiên cứu được xác đònh là các DNNN trên đòa bàn TP. Hồ Chí
Minh thuộc nhiều lónh vực hoạt động khác nhau, có quy mô hoạt động khác nhau.
Thời gian nghiên cứu được xác đònh từ giai đoạn thực hiện thí điểm CPH
năm 1992 theo QĐ 202/CT ngày 08/6/1992 đến cuối năm 1999.
1992.
4. GS.TS Trần Văn Chánh : “Một số vấn đề chủ yếu trong việc thực hiện cổ
phần hoá DNNN” – Tạp chí Phát triển kinh tế, số 50, tháng 12-1994.
6
5. Phan Văn Tiên – Tình hình thực hiện cổ phần hoá DNNN, những kiến nghò về
tiếp tục mở rộng thí điểm cổ phần hoá trong thời gian tới – Tạp chí Phát triển
kinh tế số Xuân 1996.
6. GS.TS Vũ Huy Từ : “Thí điểm cổ phần hoá – Thực trạng về giải pháp” – Hội
thảo Khoa học 1993.
7. TS.Nguyễn Đăng Liêm “Cổ Phần hóa các DNNN trong cơ chế thò trường”–
Nhà Xuất Bản Trẻ 1996.
8. Tập thể tác giả trường ĐHKT-TPHCM do GS.TS Trần Văn Chánh làm chủ đề
tài : “Một số biện pháp chủ yếu nhằm thực hiện CPH một bộ phận DNNN”
– 1999.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều vạch ra lợi ích của việc cổ phần
hoá DNNN trong giai đoạn hiện nay, nêu ra những nguyên nhân làm chậm trễ
quá trình cổ phần hoá đồng thời đề xuất được nhiều giải pháp có giá trò cao để
đẩy mạnh công tác cổ phần hoá trong cả nước nói chung.
Tiếp thu kết quả của các công trình nghiên cứu trước, luận án này tập
trung cho việc nhận xét và đánh giá tình hình CPH – DNNN trên đòa bàn TP.Hồ
Chí Minh.
Khác với các công trình trước, luận án này đóng góp các giải pháp cụ thể
như nhóm giải pháp về kích thích tác động của thò trường chứng khoán trong tiến
trình cổ phần hóa DNNN, giải pháp về việc tính giá trò đất, giải pháp khi không
bán được cổ phần, giải pháp về mô hình cổ phần hóa 2 bước.
Dưới đây là nội dung chính của luận án.
các thành phần kinh tế khác sẽ không đầu tư nhưng một số DNNN vẫn phải có
mặt để đảm bảo nhu cầu chung của nền kinh tế và các lợi ích công cộng.
- Nhà nước cũng phải đầu tư vào các lónh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn
mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư.
Nhận thức mới về vai trò của DNNN trong kinh tế thò trường là một cơ sở
lý luận quan trọng cho việc cải cách khu vực kinh tế Nhà nước, vì hiện nay các
DNNN tồn tại ở hầu hết các ngành và lónh vực trong nền kinh tế.
1.2. Vấn đề chủ sở hữu tại các DNNN:
Hiện nay đã phát sinh không ít vấn đề về tính chất “vô chủ” của các
DNNN. Thực ra ở đây muốn nói đến việc chưa thể xác đònh được người chủ cụ
thể của các DNNN. Thể hiện cụ thể là việc giải quyết vấn đề giao quyền tự chủ
cho các DNNN vẫn còn gặp nhiều mâu thuẩn. Một mặt, tuy đã được giao khá
nhiều quyền tự chủ trong điều hành quản lý của mình nhưng vẫn còn nhiều vấn
đề các doanh nghiệp cảm thấy còn bò bó buộc như : các quy đònh về khống chế
số vốn vay, quy đònh về thanh lý tài sản, các khống chế về qũy chi tiêu, chi phí,…
Mặt khác, việc giao quyền tự chủ lại xem ra vẫn chưa giải quyết thỏa đáng chế
độ về trách nhiệm của giám đốc, dẫn đến tình trạng rất nhiều DNNN làm ăn thua
lỗ gây thiệt hại cho Nhà nước nhưng không thể giải quyết được phần trách nhiệm
của các Giám đốc.
Vì vậy có nhiều ý kiến cho rằng chính tính chất sở hữu tại các DNNN gây
khó khăn trong việc tìm kiếm một cơ chế quản lý hiệu quả cho loại hình doanh
nghiệp này. Quan điểm này dựa trên thực tế là tính kém hiệu quả gắn liền với
hầu hết các DNNN trên thế giới chứ không riêng gì ở Việt Nam. Điều này được
phản ánh bởi thực trạng các DNNN trong nền kinh tế.
1.3. Thực trạng các DNNN trong nền kinh tế :
Hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chỉ thò, Nghò quyết và
quan tâm chỉ đạo đổi mới DNNN. Qua đó, đã có nhiều giải pháp được áp dụng
như : Đổi mới cơ chế quản lý, trao quyền quyết đònh và tự chủ cho DNNN ; xóa
73.262
101.361
TỔNG SỐ DNNN
Số lượng
%
5.467
1. DNNN có lãi
2.174
39,8
52.394
60.784
2. DNNN không có lãi
3.293
60,2
20.878
40.577
II- Tổng số DNNN do T.Ư quản
Tính đến tháng 7/1998 theo số liệu điều tra của 51 Cục Quản lý vốn và
Thành phố, tại 3528 DNNN có kết quả hoạt động năm 1997 như sau :
10
Kết quả khảo sát hoạt động DNNN năm 1997
Bảng I.2
SỐ TIỀN
(Tỷ đồng)
CHỈ TIÊU
- Tổng số vốn
31.293
- Lợi nhuận
2.800
Tỉ suất lợi nhuận / vốn
9%
- Lỗ lũy kế và nợ kéo dài
3.046
Tỉ lệ so với vốn NN tại DN
nơi, từng lúc, từng Doanh nghiệp. Có thể khẳng đònh rằng hiệu quả kinh doanh ở
các Doanh nghiệp đều chưa rõ ràng, số liệu chưa thật hoàn toàn phản ánh đúng
thực chất. Do vậy, hệ thống DNNN vẫn còn nhiều tồn tại yếu kém phải tiếp tục
giải quyết thì mới có thể đẩy mạnh nền kinh tế đất nước phát triển được.
NHỮNG TỒN TẠI , YẾU KÉM CƠ BẢN.
* Cơ cấu DNNN tuy đã được điều chỉnh lại nhưng vẫn còn nhiều bất hợp
lý do chưa đònh rõ cơ cấu ngành nghề ưu tiên phát triển hoặc cần tiếp tục giảm
bớt để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thực hiện vai trò chủ
đạo của khu vực kinh tế Nhà nước. DNNN vẫn tiếp tục dàn trải ở các ngành, các
đòa phương, vẫn nhiều DNNN qui mô quá nhỏ, chưa khắc phục được tình trạng
chồng chéo, trùng lắp và thiếu sự điều hoà, phối hợp để tận dụng năng lực, nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các ngành, giữa doanh nghiệp Trung ương
và doanh nghiệp đòa phương trên cùng đòa bàn lãnh thổ, chưa phân thành các
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và các doanh nghiệp hoạt động công ích.
* Tình trạng trang thiết bò lạc hậu, chắp vá từ nhiều nguồn, nhiều nước
khác nhau trong khu vực DNNN đang là trở ngại cho việc nâng cao trình độ công
nghệ, khả năng cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá đất nước.
* Tình trạng lao động dư thừa (phổ biến khoảng 30% số lao động hiện có),
biên chế cồng kềnh làm hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN. Tinh
thần lao động, tinh thần trách nhiệm có nơi, có lúc chưa đáp ứng yêu cầu lao
động khẩn trương trong kinh tế thò trường.
* Đặc biệt tình trạng thiếu vốn hoạt động và sử dụng vốn kém hiệu quả
còn phổ biến trong khu vực DNNN và là nguy cơ tiềm tàng cản trở sự tăng trưởng
và dẫn đến tình trạng thua lỗ của DNNN.
* Trong tình trạng thiếu vốn như vậy, DNNN phải đi vay để kinh doanh,
nhưng công nợ của DNNN đã vượt xa mức bình thường của hoạt động kinh doanh
và có nguy cơ mất khả năng thanh toán đối với nhiều DNNN. Nợ nước ngoài của
doanh nghiệp cao : 1 tỷ USD ngắn hạn, 2,5 tỷ USD trung hạn và dài hạn.
12
: 95.000 tỷ đồng (Thời báo Kinh tế 25/07/98).
* Việc thành lập các Tổng Công ty đã tạo ra những thuận lợi đối với công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng đồng thời cũng nảy sinh nhiều nhân tố hạn chế
cạnh tranh và độc quyền đang là thách thức đối với chính sách thu hút các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào quá trình công nghiệp hoá.
Từ những yếu kém trên, cần khẩn trương sắp xếp lại DNNN, tiếp tục cải
cách DNNN. Trong đó cổ phần hoá là một chiến lược cải cách quan trọng.
13
2. CỔ PHẦN HOÁ VÀ TƯ NHÂN HÓA :
Trong hàng loạt các biện pháp cải cách, ngay từ những năm 1980 trên thế
giới đã xuất hiện xu hướng tư nhân hoá. Nguyên nhân chính yếu của xu hướng
này chính là người ta bắt đầu nhận ra vấn đề mấu chốt ở đây chính là quyền sở
hữu tại các DNNN. Qua đó họ hy vọng rằng nhờ vào tư nhân hoá, quyền sở hữu
được chuyển bớt về tay khu vực tư nhân sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của
các doanh nghiệp này.
Một tồn tại trong nhận thức hiện nay ở nhiều người là đồng nhất giữa CPH
và tư nhân hoá.
Trước hết chúng ta xem xét cơ sở khách quan của tư nhân hóa được trình
bày tóm tắt theo bảng dưới đây :
Bảng I.3
Cơ sở
Cơ sở
lý luận
GIỐNG NHAU
-
Chuyển quyền sở hữu một phần hay toàn bộ tài sản Nhà
nước sang khu vực tư nhân.
Chỉ chuyển tài sản hoặc Chuyển thành Công ty Cổ phần
hình thức quản lý thuộc khu tất cả các dạng Doanh nghiệp
vực Nhà nước sang khu vực Nhà nước lẫn Doanh nghiệp
KHÁC NHAU
tư nhân.
ngoài quốc doanh như Công ty
Liên doanh, Công ty 100% vốn
nước ngoài, Công ty TNHH và
Doanh nghiệp tư nhân.
Do phạm vi tác động rộng lớn của Cổ phần hóa nên tại Việt Nam, hình thức này
thích hợp để đáp ứng nhu cầu huy động vốn rộng rãi đồng thời tạo các giải pháp
hữu hiệu cho việc cải cách Doanh nghiệp Việt Nam nói chung.
Tư nhân hoá tiếng Anh là “Privatization” là một khái niệm tương đối độc
lập với thuật ngữ quốc hữu hoá, tiếng Anh là “Nationalization”. Theo đó nếu
quốc hữu hoá là việc chuyển các doanh nghiệp tư nhân thành sở hữu Nhà nước
thì tư nhân hoá chính là việc chuyển các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước
thành sở hữu tư nhân.
Có 2 mức độ tư nhân hoá :
- Tư nhân hoá hoạt động : Một hoạt động do khu vực Nhà nước điều hành
những giải phảp không thể thiếu được là phải khuyến khích ngày càng có nhiều
Công ty cổ phần bằng cả 2 con đường : thành lập mới hoặc tiến hành CPH các
doanh nghiệp hiện hữu chưa là Công ty cổ phần để trở thành Công ty cổ phần.
3. MỤC TIÊU CỔ PHẦN HOÁ :
Xác đònh đúng mục tiêu và nhận thức đúng mục tiêu là công tác hết sức
quan trọng trong quá trình cổ phần hoá. Mục tiêu cổ phần hoá sẽ chi phối phương
thức, chính sách và kế hoạch cổ phần hoá. Tuỳ theo tình hình cụ thể mà mỗi
nước có mục tiêu khác nhau khi tiến hành cổ phần hoá, tư nhân hoá. Chẳng hạn :
16
Mục đích chính của việc tư nhân hoá ở Hungari : Hình thành nền kinh tế
thò trường trên cơ sở sở hữu tư nhân, xử lý quan hệ sở hữu.
* Tăng hiệu quả kinh doanh.
* Giảm sự thiếu vốn của nền kinh tế.
* Tiếp thu công nghệ và phương pháp quản lý mới, hiện đại.
* Khuyến khích thay đổi cơ cấu kinh tế.
* Ngăn chặn việc đánh mất thò trường, tìm thò trường mới.
* Mở rộng phạm vi hoạt động ở thò trường nội đòa và ngoại đòa.
* Phát triển thò trường vốn trong nước, thu hút các công ty đa quốc gia, vốn
trong nước và vốn quốc tế.
* Duy trì sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với quá trình tư
nhân hoá.
* Tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế.
* Hỗ trợ cho sự phát triển làm ăn trong nước.
* Duy trì khả năng hoạt động của cơ sở kinh tế.
* Duy trì và tạo công ăn việc làm.
* Sử dụng nguồn thu do tư nhân hoá để cải thiện sự ổn đònh tài chính phát
triển công nghệ, tái tổ chức, giảm thiệt hại môi trường và mở rộng xuất khẩu.
* Tạo điều kiện để những người góp vốn và CNVC trong doanh nghiệp có
cổ phần, nâng cao vai trỏ làm chủ thực sự, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
4. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỔ PHẦN HOÁ DNNN TẠI VIỆT NAM:
Thứ nhất, cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam gắn liền với đònh hướng
Xã Hội Chủ Nghóa.
Chúng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thò trường có đònh hướng xã hội
chủ nghóa thì liệu cổ phần hoá các DNNN có ảnh hưởng gì đến đònh hướng này ?
Mục tiêu của cổ phần hoá là nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh các
doanh nghiệp, đồng thời giúp cơ cấu lại các DNNN cho phù hợp vai trò mới của
nó là : Điều kiện giúp Nhà nước thực hiện điều tiết vó mô nền kinh tế và giải
quyết các vấn đề xã hội. Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghóa nên chắc
18
chắn các doanh nghiệp được giữ lại sẽ giúp Nhà nước xác lập đònh hướng xã hội
chủ nghóa trong nền kinh tế.
Có thể nói trong điều kiện hiện nay thì DNNN vẫn cần tiếp tục giữ một
vai trò chủ đạo, song vai trò chủ đạo này phải được thể hiện bằng tính hiệu quả
và ưu việt thực sự của DNNN chứ không phải với thực trạng nhiều yếu kém như
hiện nay.
Sau cổ phần hoá, sẽ tạo ra hàng loạt các Công ty cổ phần hoạt động bình
đẳng với các hình thức kinh doanh khác trong nền kinh tế với một ưu điểm lớn là
tính xã hội hoá cao. Theo một số nhà nghiên cứu lý luận Trung Quốc thì cổ phần
hoá góp phần xã hội hoá tư liệu sản xuất, đây là một đặc điểm của đònh hướng
xã hội chủ nghóa, họ có chủ đònh gọi cổ phần hoá là “dân doanh hoá” (tạm hiểu
là mọi người dân kinh doanh). Tất nhiên, để đảm bảo được tính xã hội hoá này,
cần có một hệ thống luật pháp đủ mạnh để chống lại các xu hướng xấu như : đầu
cơ, thâu tóm cổ phiếu,…
biện pháp kỹ thuật của tiến trình cổ phần hoá. Song ngược lại chúng ta cũng hy
vọng rằng tiến trình cổ phần hoá cũng sẽ góp phần nhất đònh thúc đẩy nhanh hơn
việc hình thành TTCK thông qua việc làm tăng số lượng chứng khoán trong nền
kinh tế qua đó làm tăng nhu cầu mua bán các chứng khoán.
Thứ ba, cổ phần hoá ở Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thò trường
chưa hình thành và phát triển hoàn chỉnh, điều kiện thông tin chưa được thông
suốt và đầy đủ.
Đây là một đặc điểm kém thuận lợi mà chúng ta cần quan tâm. Theo kinh
nghiệm các nước trên thế giới thì cổ phần hoá thường thành công hơn ở các nước
có nền kinh tế thò trường phát triển. Đặc điểm này đặc biệt ảnh hưởng đến
phương pháp đònh giá các doanh nghiệp. Nền kinh tế còn nhiều biến động làm
ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư vốn, thông tin tài chính nghèo nàn gây
khó khăn cho việc so sánh giữa các Công ty và việc đònh giá các doanh nghiệp.
Thứ tư, cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam trong điều kiện hệ thống luật
pháp chưa được hoàn chỉnh.
Cổ phần hoá là một biện pháp lớn tác động khá nhiều đến kinh tế xã hội,
do vậy việc thiết lập một khung pháp lý đầy đủ là rất cần thiết. Hiện nay văn
bản pháp lý cao nhất liên quan trực tiếp đến cổ phần hoá là Nghò đònh 44/CP,
chúng ta vẫn chưa có luật về cổ phần hoá. Theo kinh nghiệm các quốc gia khác
20
thì một trong các bước đầu tiên của tiến trình cổ phần hoá là xây dựng các văn
bản luật về cổ phần hoá.
Mặt khác, do ta chưa có một hệ thống luật hoàn chỉnh nên có thể gặp khó
khăn trong việc hạn chế các xu hướng xấu của cổ phần hoá như việc đầu cơ cổ
phiếu, tập trung vào tay một số cá nhân, khống chế về tài chính công ty cổ
phần,…Do vậy song song với tiến trình cổ phần hoá. hệ thống luật pháp cần được
chú trọng hoàn thiện để hổ trợ.
phối, cổ phần đặc biệt khi tiến hành cổ phần hoá:
- Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích trên 10 tỷ đồng.
- Khai thác quặng quý hiến.
- Khai thác khoáng sản qui mô lớn.
- Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh và hoá dược.
- Sản xuất kim loại màu và kim loại quý hiếm quy mô lớn.
- Sản xuất điện quy mô lớn, truyền tải và phân phối điện
- Sửa chữa phương tiện bay.
- Dòch vụ khai thác bưu chính, viễn thông.
- Vận tải đường sắt, hàng không, viễn dương.
- In, xuất bản, sản xuất rượu, bia, thuốc lá có quy mô lớn.
- Kinh doanh xăng dầu có quy mô lớn.
* Các loại doanh nghiệp Nhà nước hiện có còn lại đều có thể thực hiện cổ
phần hoá và áp dụng các hình thức chuyển đổi sở hữu khác trong đó Nhà nước
không giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt.
Như vậy qua phân loại DNNN như trên cho thấy việc cổ phần hoá DNNN
không còn là việc tự nguyện xin cổ phần hoá nữa, mà thay vào đó là “ chuyện
phải làm”, là nhiệm vụ phải thực hiện của các Bộ, Ngành, đòa phương.
3. Hình thức cổ phần hoá : (4 hình thức).
- Giữ nguyên giá trò thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát
hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp.
- Bán một phần giá trò thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
- Tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hoá.
22
- Bán toàn bộ giá trò hiện có của DNNN tại doanh nghiệp để chuyển thành
Công ty cổ phần.
Như vậy lần này Nghò đònh 44/CP đã bổ sung thêm hình thức thứ 4 ngoài 3
chấp thuận được” của người mua và người bán. Giá trò thực tế là sau khi đã trừ
các khoản nợ phải trả.
Qui trình đònh giá này đã làm giảm nhẹ hơn trước so với qui trình cũ phải
qua 3 bước :
+ Doanh nghiệp tự đánh giá rồi qua kiểm toán độc lập và sau nửa là Hội
đông đònh giá.
6. Sử dụng tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước:
Tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước theo Nghò đònh 44/CP lần này được
sử dụng để :
- Đào tạo, đào tạo lại để giải quyết việc làm mới cho người lao động.
- Trợ cấp cho số lao động dôi dư.
- Bổ sung vốn cho các DNNN cần ưu tiên củng cố và đầu tư cho các
DNNN đã cổ phần hoá theo phương án được duyệt.
Đây là một điểm ưu đãi cho doanh nghiệp, vì trước đây số tiền thu được từ
việc bán cổ phiếu này chỉ được sử dụng để đầu tư phát triển DNNN.
7. Ưu đãi cho doanh nghiệp cổ phần hoá:
DNNN sau khi cổ phần hoá được coi là đầu tư mới nên được hưởng các ưu
đãi theo luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi). Nếu không đủ điều kiện
trên, thì được giảm 56% thuế thu nhập trong 2 năm đầu. Điều đặc biệt là doanh
nghiệp được bình đẳng như DNNN trong việc vay vốn từ các ngân hàng, tổ chức
tín dụng của Nhà nước ; trong việc xuất nhập khẩu hàng hoá. Đây là một tháo gỡ
rất quan trọng mà trước đây nó là một trở ngại rất lớn cho đơn vò khi chuyển từ
DNNN thành Công ty cổ phần. Ngoài ra, chi phí hợp lý cho quá trình cổ phần hoá
được trừ vào tiền bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước ; Công ty cổ phần được miễn
lệ phí trước bạ trong việc chuyển nhượng tài sản từ DNNN sang sở hữu của Công
ty cổ phần…là bớt được các mối lo cho doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hoá.
24
25