Hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá trong nước (EXCHANGE RATE PASS THROUGH) - Pdf 32

z

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Đề tài:

“HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
VÀO CÁC CHỈ SỐ GIÁ TRONG NƯỚC
(EXCHANGE RATE PASS-THROUGH)”

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang

Năm học: 2011-2012


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang,
người đã tận tình hướng dẫn và trực tiếp giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Ngoài ra tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trường đại học kinh tế TPHCM,
gia đình và bạn bè đã giúp tôi có được những điều kiện thuận lợi nhất để hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn!

TP.HCM, ngày 08 tháng 04 năm 2012
Sinh viên

Trang ii


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................1
TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU......................................2
1.1. Nội dung nghiên cứu:................................................................................2
1.2. Bố cục trình bày:.......................................................................................3

NỘI DUNG CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY............................5
1.3. Lý thuyết nền tảng về truyền dẫn tỷ giá (ERPT):..................................5
1.3.1. Khái niệm truyền dẫn tỷ giá (ERPT):........................................................................5
1.3.2. Nguyên nhân của truyền dẫn tỷ giá ERPT:................................................................5
1.3.3. Các yếu tố khiến mức độ truyền dẫn khác nhau ở các nước:....................................9
CHƯƠNG 2: Chiến lược định giá của công ty:..............................................................9
CHƯƠNG 3: Tính ổn định của tỷ giá hối đoái:............................................................10
CHƯƠNG 4: Tính ổn định của tổng cầu:......................................................................11
CHƯƠNG 5: Độ co giãn cung – cầu và các yếu tố kinh tế vĩ mô:................................11
CHƯƠNG 6: Đồng tiền niêm yết:.................................................................................12
CHƯƠNG 7: Mức độ lạm phát:....................................................................................12

7.1. Kết quả nghiên cứu ở một số quốc gia:.................................................15
7.1.1. Các nghiên cứu điển hình ở các nước phát triển:....................................................15
7.1.2. Các nghiên cứu điển hình ở các nước đang phát triển:............................................21
CHƯƠNG 8: Một số bài nghiên cứu điển hình ở các nước đang phát triển:...............21
CHƯƠNG 9: Một số nghiên cứu ở các nước châu Á tập trung vào vấn đề định giá của
nhà xuất khẩu – pricing to market:................................................................................24
CHƯƠNG 10: Các nghiên cứu ở Việt Nam về truyền dẫn tỷ giá:................................26

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
– NGUỒN DỮ LIỆU.........................................................................32
10.1. Các mô hình nghiên cứu:......................................................................32
10.2. Lý thuyết nền tảng mô hình VAR:......................................................33

15.3.2. Kết quả phân tích thực nghiệm sử dụng mô hình VECM:....................................63

KẾT LUẬN........................................................................................73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:........................................75

Trang v


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ERPT: Exchange Rate Pass-through (Truyền dẫn tỷ giá)
CPI: Consumer Price Index (Chỉ số giá tiêu dùng)
ERPT: Exchange Rate Pass-Through (Truyền dẫn tỷ giá hối đoái)
GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
HICP: Harmonized Index of Consumer Price (Chỉ số giá tiêu dùng đã được hiệu
chỉnh)
IMF: International Monetary Fund (Quỹ tiền tệ quốc tế)
IMP: Import Price Index (Chỉ số giá nhập khẩu)
PPI: Production Price Index (Chỉ số giá sản xuất)
SVAR: Structural Vector Autoregressive Model (Mô hình tự hồi quy vec-tơ dạng cấu
trúc)
VECM: Vector Error Correction Model (Mô hình sửa lỗi vec-tơ)
VAR: Vector Autoregressive Model (Mô hình tự hồi quy vec-tơ)
WPI: Wholesale Price Index (Chỉ số giá bán buôn)
WTO: World Trade Organization (Tổ chức Thương mại thế giới)
GSO: General Statistics Office Viet Nam (Tổng Cục thống kê)
TSLS: Two Stages Least Square (Hồi quy hai giai đoạn)
IRF: Impulse Response Function (Hàm phản ứng đẩy)

Trang vi

Trang 15

Hình 2.4: Phản ứng của giá tiêu dùng CPI khi tỷ giá tăng 1%

Trang 16

Hình 2.5: Truyền dẫn tỷ giá tại Chile

Trang 23

Hình 2.6: Ảnh hưởng của các chỉ số giá trong nước trước 1% cú sốc tỷ giá

Trang 24

Hình 2.7: Biến động tỷ giá, IMP và PPI tại Việt Nam

Trang 28

Hình 2.7: Biến động tỷ giá, CPI tại Việt Nam

Trang 29

Hình 3.1: Sơ đồ mô hình VAR

Trang 33

Hình 3.2: Giá dầu thế giới và lãi suất cho vay tại Việt Nam

Trang 38


Trang 50,51
Trang viii


Hình 4.8: Kiểm định đồng tích hợp

Trang 62

Hình 4.9: Kết quả sơ lược ước lượng VECM

Trang 63

Hình 4.10: Mô hình VECM

Trang 64

Hình 4.11: Kiểm định tính dừng VECM

Trang 65

Hình 4.12: Hàm phản ứng đẩy VECM

Trang 66

Hình 4.13: Phân rã phương sai CPI

Trang 66

Hình 4.14: Phân rã phương sai IMP


định lượng chuỗi số liệu từ 01/2001 đến 06/2011 để tìm hiểu tác động của biến động tỷ
giá lên các chỉ số giá tại Việt Nam. Bài nghiên cứu của chúng tôi sử dụng mô hình
VAR cùng các kiểm định để ước lượng ERPT và đo lường ảnh hưởng của các cú sốc
đến các chỉ số giá trong giai đoạn từ 01/2001 đến 06/2011.

Trang 1


TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.1. Nội dung nghiên cứu:
Trong nhiều vấn đề tranh luận về kinh tế toàn cầu, tỷ giá hối đoái luôn được
xem là trung tâm chính vì vai trò quan trọng của nó trong sự bền vững của nền kinh tế.
Nhắc lại những cuộc khủng hoảng tài chính gần đây ở các nước đang phát triển như
Mexico 1994, Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc năm 1997, Nga và Brazil năm 1998,
Argentina năm 2000 và Thổ Nhĩ Kỳ năm 2000 ít nhiều điều liên quan đến một cuộc
khủng hoảng trong tỷ giá hối đoái. Giữa nhiều yếu tố, tỷ giá hối đoái là một trong
những yếu tố quan trọng và có liên hệ mật thiết với nền kinh tế từng quốc gia. Chính
vì bản chất mối liên hệ này, tỷ giá hối đoái là nguyên nhân một vài khủng hoảng tài
chính khu vực hoặc toàn cầu. Mức độ nhanh chóng của toàn cầu hóa và hội nhập giữa
các nước khiến tỷ giá ngày càng quan trọng hơn. Tuy nhiên, tỷ giá không chỉ có tác
động bên ngoài mà còn tác động vào bên trong của nền kinh tế. Một trong những tác
động quan trọng của tỷ giá đến nền kinh tế đó là tác động đến lạm phát. Tác động của
tỷ giá hối đoái đến lạm phát được khái niệm rộng ra là truyền dẫn tỷ giá (Exchange
Rate Pass-Through) đến lạm phát.
ERPT được định nghĩa là phần trăm thay đổi giá nhập khẩu đồng nội tệ từ 1%
thay đổi trong tỷ giá giữa quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu (Goldberg và Knetter
1997). Tầm quan trọng của ERPT đã được phân tích bởi nhiều nhà kinh tế học khác
nhau. Trong đó 2 vai trò quan trọng của ERPT đó là dự báo lạm phát và những thi
hành trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.
Về cơ bản, vai trò quan trọng nhất của ERPT là tầm ảnh hưởng của nó trong

đoái qua các kênh truyền dẫn từ giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng với việc
sử dụng mô hình VAR để ước lượng mức độ và thời gian truyền dẫn tỷ giá ERPT tại
Việt Nam.

1.2. Bố cục trình bày:
Bài nghiên cứu của chúng tôi gồm có 5 phần. Phần tiếp theo, chúng tôi sẽ khái
quát học thuyết về ERPT và kết quả một số nghiên cứu thực nghiệm có liên quan tại
các nước trên thế giới. Phần 3 của bài, nhóm nghiên cứu sẽ đi sâu hơn về phương
Trang 3


pháp, mô hình và cách lựa chọn số liệu nghiên cứu. Phần 4, tác giả sẽ đi đến các kết
quả và các nhận định về thực tế ERPT tại Việt Nam. Cuối cùng sẽ là phần kết luận với
một số khuyến nghị cho chính sách tiền tệ tại Việt Nam cũng như các hạn chế bài
nghiên cứu đi kèm lời khuyên cho các hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trang 4


NỘI DUNG CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
1.3. Lý thuyết nền tảng về truyền dẫn tỷ giá (ERPT):
1.3.1. Khái niệm truyền dẫn tỷ giá (ERPT):
Theo Goldberg và Knetter (1997), ERPT được xác định như là “Phần trăm
thay đổi giá nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ khi tỷ giá giữa các nước xuất khẩu và
nhập khẩu thay đổi 1%” (trang 1248).Tuy nhiên, những thay đổi trong giá nhập khẩu ở
một số chừng mực cũng truyền dẫn đến giá sản xuất và giá tiêu dùng. Do đó, trong bài
nghiên cứu này ERPT được nhìn nhận rộng hơn như là sự thay đổi trong giá tiêu dùng
dưới tác động của sự thay đổi trong tỷ giá danh nghĩa.
1.3.2. Nguyên nhân của truyền dẫn tỷ giá ERPT:
Trong học thuyết của Goldberg và Knetter (1997), hai ông đã chỉ ra rằng có

tiềnmất
mấtgiá
giá
(Tỷ
(Tỷgiá
giátăng)
tăng)

Đầu
Đầuvào
vàonhập
nhập
khẩu
khẩuđắt
đắthơn
hơn

Chi
Chiphí
phísản
sản
xuất
tăng
xuất tăng

Tác
Tácđộng
động

Tác

hóathay
thaythế
thế

Nhu
Nhucầu
cầuxuất
xuất
khẩu
khẩutăng
tăng

Nhu
Nhucầu
cầulao
lao
động
độngtăng
tăng
Hàng
Hànghóa
hóathay
thay
thế
thếvào
vàohàng
hàng
xuất
khẩu
xuất khẩutrởtrở

vinày gọi là chiến lược Giá - Thị trường. Điều này có nghĩa là công ty xuất khẩu chấp
nhận sự thua lỗ tạm thời trong doanh thu để tránh sự thua lỗ trong dài hạn về thị phần.
1.3.3. Các yếu tố khiến mức độ truyền dẫn khác nhau ở các nước:
Nhiều kiểm định thực nghiệm cho thấy rằng ERPT có sự khác biệt tùythuộc
vào từng nước, từng thời điểm cụ thể, cũng như giữa giá cả ở các khâu khác nhau của
dây chuyền sản xuất (giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng) và giá cả của các
ngành trong phạm vi một quốc gia.
CHƯƠNG 2:

Chiến lược định giá của công ty:

Trên phạm vi ngành, như những phân tích ở trên chúng ta có thể thấy rõ
ERPT phụ thuộc vào chiến lược định giá của công ty, đến lượt nó, chiến lược định giá
lại phụ thuộc vào cơ cấu ngành. Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào nghiên cứu
chiến lược định giá và sự thay đổi trong mức lợi nhuận của công ty (hiệu số giữa giá
bán và giá thành sảnphẩm) nhằm đối phó với sự thay đổi của tỷ giá.
Cơ sở lí luận của đa số các nghiên cứu này là công trình nghiên cứu của
Donbursch (1987), trong đó, những khác biệt về ERPT được lí giải thông qua các mô
hình lí thuyết tổ chức công nghiệp, mà cụ thể là, mức độ tập trung hóa của thị trường,
mức độ thâm nhập của hàng hóa nhập khẩu và tính thay thế giữa hàng hóa nhập khẩu
và hàng hóa sản xuất trong nước.
Donbursch cho rằng đối với các ngành có tính cạnh tranh càng cao (lợi nhuận
biên nhỏ) và tỉ trọng hàng nhập khẩu trong tổng doanh thu bán hàng càng lớn thì
Trang 9


ERPT càng lớn.Ngược lại, nếu thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, phản ứng của
các công ty đối với biến động của tỷ giá có thể khác nhau.Cụ thể như theo Philips
(1998), nếu một công ty có quyền lực thị trường, và họ đặt kì vọng tối đa hóa lợi
nhuận của mình, ERPT sẽ phụ thuộc nhiều vào các nhân tố khác.Mặt khác, nếu công



ổn định hơn). Do đó đây cũng có thể được xem là một nhân tố tác động đến mức độ
truyền dẫn tỷ giá hối đoái.
CHƯƠNG 4:

Tính ổn định của tổng cầu:

Một biến kinh tế vĩ mô khác có ảnh hưởng đến độ lớn của ERPT - đó là tính
ổn định của tổng cầu (Mann, 1986). Những thay đổi của tổng cầu cùng với dao động
của tỷ giá có ảnh hưởng đến tỉ suất lợi nhuận của nhà nhập khẩu trên thị trường cạnh
tranh không hoàn hảo, đồng thời làm giảm ERPT. Vì vậy, ERPT phải thấp hơn ở các
quốc gia có tổng cầu biến động nhiều hơn.
CHƯƠNG 5:

Độ co giãn cung – cầu và các yếu tố kinh tế vĩ mô:

Trên phạm vi quốc gia, ERPT phụ thuộc vào ba nhân tố chính: độ co giãn
tương đối của cầu và cung, môi trường kinh tế vi mô và các điều kiện kinh tế vĩ mô
(Phillips, 1988).
Thứ nhất, trong điều kiện không phát sinh các cú sốc khác, độ co giãn của cầu
và cung theo giá là các nhân tố quyết định độ lớn của ERPT. Đối với hàng hóa xuất
khẩu, mức độ của ERPT sẽ càng lớn nếu độ co giãn của cầu càng lớn và độ co giãn
của cung càng thấp. Đối với hàng hóa nhập khẩu thì ngược lại, ERPT sẽ càng lớn nếu
độ co giãn của cầu càng nhỏ và độ co giãn của cung càng lớn (Spitaller, 1980). Do đó,
ERPT phải là toàn phần (bằng 1) trong một nền kinh tế nhỏ, bởi vì cầu đối với xuất
khẩu là co giãn tuyệt đối và cung nhập khẩu là co giãn tuyệt đối do quốc gia đó không
có khả năng tác động đến thị trường thế giới.
Thứ hai, nếu như xem xét các mô hình kinh tế vi mô của lí thuyết tổ chức
công nghiệp thì có thể kết luận rằng tỉ trọng nhập khẩu càng lớn thì hiệu ứng truyền

hóa phi ngoại thương (non-tradables), và khi đó hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái sẽ
là toàn phần (Tsesliuk, 2002).

CHƯƠNG 7:

Mức độ lạm phát:

Một nhân tố khác giải thích những khác biệt về ERPT giữa các quốc gia có
thể là những khác biệt trong mức lạm phát. Taylor (2000) khẳng định môi trường lạm
phát ở trong nước càng thấp và ổn định thì ERPT cũng càng nhỏ. Giả thiết của Taylor
về mối quan hệ giữa lạm phát và ERPT đã được kiểm định trong bài viết “Exchange
Rate Pass-Through To Domestic Prices: Does The Inflationary Environment Matter?”
của Ehsan U. Choudhri và Dalia S. Hakura vào năm 2001.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ERPT giảm dần khi tình hình kinh tế
vĩ mô ổn định hơn, cạnh tranh tăng lên và hành vi của các công ty hướng đến việc tối
đa hóa thị phần của mình. Theo kết luận của Dubravko & Marc (2002), ERPT đã
Trang 12


giảm từ giữa những năm 90 ở các nước đang phát triển, có thể là do các điều kiện
kinh tế vĩ mô ổn định hơn và kết quả của các cuộc cải cách cơ cấu được thực hiện
trong thời gian gần đây.
Ngoài ra, trong các bài nghiên cứu khác, các tác giả đều đưa ra những nhận
định riêng của mình về các nhân tố tác động lên hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái
của các nước. Điển hình trong số đó có một bài nghiên cứu được thực hiện nhờ sự kết
hợp giữa khoa Kinh tế học trường đại học Claremont và khoa chính sách công trường
đại học George Mason. Đây là bài nghiên cứu đầu tiên không làm riêng biệt cho một
quốc gia nào mà mang tính tổng hợp toàn bộ các bài nghiên cứu trong lịch sử về hiệu
ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở các nước châu Á. Thông qua các kết quả thu được ở
nhiều quốc gia trong nhiều thời kỳ khác nhau, nhóm tác giả đã kết luận có năm nhân

và Klemperer (1989).
Thứ ba, là chiều hướng thay đổi của tỷ giá. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng
khi tỷ giá thay đổi theo hướng đồng tiền của nước nhập khẩu bị giảm giá, nhà xuất
khẩu sẽ có khuynh hướng giảm giá bán của mình để đảm bảo vẫn giữ được thị phần ở
các nước nhập khẩu. Chính điều này làm cho giá cả trong nước ở quốc gia nhập khẩu
không có biến động lớn, hay nói cách khác hiệu ứng truyền dẫn là thấp. Trái lại nếu tỷ
giá thay đổi theo chiều hướng giá đồng tiền của nước xuất khẩu giảm giá, khi đó hàng
hóa xuất đi sẽ giảm giá tương đối so với nước nhập khẩu và nhà xuất khẩu có lý do để
duy trì một mức giá bán cao, dẫn tới một hiệu ứng truyền dẫn cao. Điều này được thể
hiện rất rõ trong nghiên cứu của Pollard và Coughlin (2003) cũng như nghiên cứu của
Madhavi (2002).
Thứ tư, là mức độ thay đổi trong tỷ giá. Khi mức độ thay đổi trong tỷ giá
thấp, các doanh nghiệp sẽ có khuynh hướng hấp thụ những biến đổi này, chấp nhận
một khoản lỗ để giữ giá cả trong nước ổn định. Đặc biệt là khi họ đã công bố mức giá
bán trước đó. Điều này dẫn đến một hiệu ứng truyền dẫn thấp hơn. Nghiên cứu thực
nghiệm tại Mỹ thực hiện bởi Pollard và Coughlin (2003) đã khẳng dịnh điều này.
Thứ năm, mức độ truyền dẫn vào giá nhập khẩu còn bị ảnh hưởng bởi nhiều
yếu tố vĩ mô khác. Theo nghiên cứu của Taylor (2000), mức độ truyền dẫn phụ thuộc
rất nhiều vào chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Chính sách tiền tệ càng ổn
định kèm theo mức độ lạm phát thấp sẽ làm giảm đáng kể hiệu ứng truyền dẫn vào giá
cả trong nước. Nghiên cứu này đã nhận được sự đồng tình của đồng đảo các nhà
nghiên cứu sau này như Gagnon và Ihrig (2004), Choudri và Hakura (2001), Frankel
(2005)…Cũng với hướng đi trên, Campa và Goldberg (2005) đã kiểm tra mức độ
Trang 14


quan trọng của những thay đổi trong các yếu tố vĩ mô và những ảnh hưởng của chúng
đến mức độ truyền dẫn vào giá nhập khẩu của 25 quốc gia thuộc OECD trong thời kỳ
từ 1975 đến 1999 và rút ra cùng một kết luận.



Nguồn: McCarthy (2000)
Các tác động ban đầu của sự gia tăng tỷ giá hối đoái lên giá nhập khẩu là
không như mong đợi và điều này được duy trì ít nhất một năm ở tất cả các nước (hình
2.1).Đến cuối năm 2, phản ứng được ước tính không chính xác ở nhiều nước, có những
trường hợp là tác động tích cực. Đối với Hoa Kì, sự truyền dẫn tương tự như những
ước tính trước đây cũng như những nhận thức chung về truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Sự
truyền dẫn là đặc biệt lớn ở Bỉ và Hà Lan với sự thay đổi của giá nhập khẩu vượt quá
1% trong khi sự truyền dẫn thấp đáng ngạc nhiên ở Thụy Điển và Thụy Sĩ.
Hình 2.3: Phản ứng của giá sản xuất PPI khi tỷ giá tăng 1% (ERPT đến giá sản
xuất)

Trang 16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status