Tiểu luận Thạc sĩ Phân tích chiến lược tài chính của Tập đoàn Hoa Sen (Hoa Sen Group) trong giai đoạn 2005 – 2013 và rút ra bài học kinh nghiệm - Pdf 32

CHƯƠNG 1
PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, sau khi chính thức gia nhập WTO(World Trade
Organization) đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam hội nhập nền kinh tế
thế giới trên cơ sở kinh doanh theo cơ chế thị trường cùng với việc mở cửa quan hệ
hợp tác kinh tế, kinh doanh với nước ngoài, bên cạnh những cơ hội phát triển thị
trường mới vươn ra thế giới, vấn đề cạnh tranh để chiếm giữ thị phần giữa các công ty,
doanh nghiệp không chỉ trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn
nước ngoài là không thể tránh khỏi. Một doanh nghiệp để tồn tại và phát triển, đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế thị trường, muốn hoạt động có hiệu quả thì ngoài đặc điểm của
ngành và uy tín của doanh nghiệp đòi hỏi phải có chiến lược mang tính dài hạn.
Vì thế, doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển bền vững đều cũng phải đối
mặt với ba quyết định tài chính quan trọng là quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và
quyết định phân phối. Để đảm bảo cho quá trình hoạt động và phát triển của mình, các
doanh nghiệp cần có chiến lược tài chính phù hợp. Do vậy, để có một chiến lược tài
chính phù hợp, đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro xảy ra các doanh nghiệp phải
tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh và tài chính của mình. Đây là quá trình
nghiên cứu, đánh giá toàn bộ thực trạng tài chính của doanh nghiệp, phát hiện các
nguyên nhận tác động tới các đối tượng phân tích và đề xuất các giải pháp và hoạch
định các kế hoạch mang tầm chiến lược dài hạn một cách hiệu quả, giúp doanh nghiệp
ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Với tầm nhìn chiến lược, một trong những doanh nghiệp Việt Nam là Tập đoàn
Hoa Sen đã trở thành nhà xuất khẩu tôn hàng đầu Đông Nam Á. với kiêm ngạch xuất
khẩu đạt 252 triệu USD(năm 2013). Liên tục góp mặt trong danh sách 500 Doanh
Nghiệp lớn nhất Việt Nam. Đặc biệt, ngày 08/01/2014, Hoasen Group vinh dự đón
nhận vị trí hạng nhất cho Giải thưởng “Công ty được quản lý tốt nhất Châu Á 2014”

1




tâm của nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau như: Hội đồng quản trị, Ban
giám đốc, các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các nhà cung cấp, các chủ nợ, các cổ đông
hiện tại và tương lai, các khách hàng, các nhà bảo hiểm, người lao động, các cơ quan
quản lý Nhà nước, ....
1.2.2. Phương pháp phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phương pháp so sánh: So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến
động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích.
• Nội dung so sánh
So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước
nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính của doanh
nghiệp.
So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức
phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt hoạt động tài chính của doanh
nghiệp.
So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của
doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
• Kỹ thuật so sánh
So sánh bằng số tuyệt đối
Là kết quả của phép trừ giữa trị số của chỉ tiêu kỳ phân tích so với trị số của chỉ tiêu kỳ
gốc. Kết quả so sánh biểu hiện khối lượng, quy mô biến động của các chỉ tiêu kinh tế.
Số tuyệt đối: Y = Y1 – Y0
Y1: Trị số của chỉ tiêu phân tích
Y0: Trị số của chỉ tiêu gốc
So sánh bằng số tương đối

3

B – Phân tích rủi ro tài chính
Khả năng thanh toán là nội dung cơ bản của hoạt động tài chính, nó cho biết
năng lực tài chính trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Do vậy, việc phân tích khả
năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ cho phép các nhà quản lý đánh giá được sức
mạnh tài chính hiện tại, tương lai cũng như dự đoán được tiềm lực thanh toán và sự an
toàn của tài chính doanh nghiệp.

4


Khả năng thanh khoản
Khả năng thanh toán hiện hành

=

Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán hiện thời cao tức là khả năng thanh toán nợ đến hạn tốt, kết

luận này không chắc chắn vì nó không tính đến kết cấu của tài sản lưu động. Rõ ràng
nếu doanh nghiệp có nhiều tiền mặt và khoản phải thu sẽ được đánh giá là có khả năng
cao hơn các doanh nghiệp có nhiều hàng tồn kho.
Khả năng thanh toán nhanh

=

Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Ngay cả khi khả năng thanh toán nhanh rất cao song nếu tỷ trọng khoản phải thu


Chỉ số này cho biết một đồng vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào hàng tồn kho trong năm
qua góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Vòng quay hàng tồn kho

=

Doanh thu
Hàng tồn kho bình quân

360
Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho cho ta số chu kỳ sản xuất kinh doanh được thực hiện

Số ngày tồn kho

=

trong một năm. Vòng quay hàng tồn kho cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu
doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trên cơ sở sử dụng tốt các tài sản khác. Vòng quay
hàng tồn kho thấp là do quản lý vật tư, tổ chức sản xuất, cũng như tổ chức bán hàng
chưa tốt.
Kỳ thu nợ bán chịu
Khoản phải thu bình quân × 360
Doanh thu
Kỳ thu nợ dài phản ánh chính sách bán chịu táo bạo. Có thể là dấu hiệu tốt nếu

Kỳ thu nợ bán chịu

=


Tổng tài sản bình
Doanh
quân
Lợi

thu

×

thuần
nhuận

Lợi

Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình
quân

nhuận

Doanh

thu

Tổng

TS

ROE = sau thuế
= sau thuế

quay

Tổng

TS

× bình quân
Vốn
CSH

bình quân
bình quân
ROE phụ thuộc vào ba nhân tố là lợi nhuận biên, vòng quay tổng tài sản và tủ số tổng
tài sản bình quân/vốn chủ sở hữu bình quân. Các nhân tố này có thể ảnh hưởng trái
chiều đối với ROE. Phân tích Dupont là xác định ảnh hưởng của ba nhân tố này đến
ROE của doanh nghiệp để tìm hiểu nguyên nhân gây tăng giảm chỉ số này.

1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh và báo cáo tài chính thường niên tại
Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen, từ đó phân tích hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn
Hoa Sen thông qua các chỉ tiêu tài chính để rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm đưa ra
giải pháp phù hợp và hoạch chính kế hoạch tài chính dài, góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động Công ty.

7


1.4. Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu: sử dụng nguồn số liệu từ các báo cáo tài chính
thường niên của Tập đoàn Hoa Sen, internet và tham khảo các sách chuyên ngành…

32% so với cùng kỳ nhờ vào tiêu thụ nội địa.
A) Tôn mạ:
Sản phẩm tôn mạ đang dần thay thế tấm lợp amiang-xi măng từng được sử dụng
rộng rãi trong ngành xây dựng để lợp nhà dân dụng, cô ng nghiệp, do những lo ngại về
sức khỏe trong việc sử dụng amiăng-xi măng. Tôn mạ thuộc dòng sản phẩm thép dẹt,
được sản xuất từ nguyên liệu đầu vào là thép cuộn cán nguội. Tôn mạ đa dạng về màu
sắc, kích thước, và độ dày và có nhiều ứng dụng, được sử dụng làm tấm lợp, xây dựng,
sản xuất một số sản phẩm gia dụng lâu bền. Chênh lệch cung cầu của phân khúc này
đang thể hiện rỏ ràng hơn cùng với sự tham gia của các công ty mới hay việc mở rộng
công suất của các công ty đang hoạt động. Sản phẩm tôn mạ được sản xuất tại Việt
Nam thuộc phân khúc trung cấp, được sử dụng chủ yếu trong lợp nhà và hàng gia
dụng, nội thất, phụ tùng sửa chữa xe gắn máy. Các sản phẩm dẹt khác như thép tấm
cán nóng dùng trong đóng tàu và thép tấm lá cho ôtô vẫn cần phải nhập khẩu. Hoạt
động xuất khẩu đang là động lực tăng trưởng chính đối với phân khúc này. Các quốc
gia như Myanmar, Indonesia và Malaysia có nhu cầu sử dụng sản phẩm thuộc phân
khúc trung cấp trong xây dựng dân dụng và sản xuất công nghiệp, đây là phân khúc mà
những sản phẩm Việt Nam có thể đáp ứng với giá cạnh tranh. Các công ty sản xuất tôn
mạ của Việt Nam phần nào được hưởng lợi từ chi phí lao động thấp, do đó, sản phẩm
có lợi thế cạnh tranh nhất định về giá cả.
Hình 2.1. Biểu đồ sản lượng sản xuất và tiêu thụ tôn mạ chung của toàn ngành

9


Hình 2.1, cho thấy sản lượng tiêu thụ đạt tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm là
18,9% riêng trong 8/2014, tổng sản lượng bán hàng của các thành viên Hiệp hội thép
Việt Nam đạt 1,18 triệu tấn, tăng 29,1% so với cùng kỳ, trong đó sản lượng xuất khẩu
chiếm 44% đã tăng mạnh 51,9% so với cùng kỳ và đạt 520 nghìn tấn và sản lượng tiêu
thụ trong nước chỉ tăng 15,6% so với cùng kỳ đạt 663 nghìn tấn. Nhóm khách hàng
chính tiêu thụ sản phẩm tôn mạ là nhà thầu địa phương đa số ở khu vực ngoại thành

khẩu đạt 103 nghìn tấn, giảm 20% so với cùng kỳ, tuy nhiên, sản lượng tiêu thụ trong
nước lại tăng mạnh đến 49% , đạt 577 nghìn tấn, chiếm 85% sản lượng tiêu thụ. Tốc độ
tăng trưởng sản lượng xuất khẩu giảm, một phần là do các vụ kiện chống bán phá giá
tại các thị trường xuất khẩu Hoa Kỳ và Canada. Tuy nhiên, điều này sẽ không gây trở
ngại lớn đối với các công ty sản xuất ống thép do sản lượng xuất khẩu chỉ chiếm phần
nhỏ trong tổng sản lượng tiêu thụ(3,2%). Ngoài ra, thị trường xuất khẩu mục tiêu của

11


các công ty sản xuất ống thép chủ yếu là trong khu vực Đông Nam Á nhờ Việt Nam
nằm tại vị trí địa lý khá lý tưởng trong khu vực.

2.2. Tổng quan về Tập đoàn Hoa Sen
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen(Hoasen Group-HSG) tiền thân là Công ty
Cổ phần Hoa Sen, được thành lập vào ngày 08 tháng 08 năm 2001 với vốn điều lệ ban
đầu là 30 tỷ đồng, hoạt động chủ yếu trên các lĩnh vực: nhập khẩu, sản xuất, phân phối
các sản phẩm tấm lợp kim loại, xà gồ thép, tấm trần nhựa và các loại vật liệu xây dựng
khác.
Ngày 16 tháng 03 năm 2007, Công ty Cổ phần Hoa Sen công bố tăng vốn điều
lệ lần thứ 7 từ 250 tỷ đồng lên 400 tỷ đồng, và đổi tên giao dịch thành Hoa Sen
Corporation (viết tắt là Hoa Sen Corp). Ngày 9 tháng 11 năm 2006, Công ty cổ phần
Tôn Hoa Sen được thành lập, là công ty con đầu tiên của Tập đoàn Hoa Sen. Ngày 26
tháng 03 năm 2007, Công ty Cổ phần Hoa Sen thành lập 02 Công ty con: Công ty cổ
phần Vật liệu xây dựng Hoa Sen tại khu công nghiệp Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
với số vốn điều lệ đăng ký ban đầu là 150 tỷ đồng và Công ty Cổ phần Cơ khí & Xây
dựng Hoa Sen tại khu công nghiệp Sóng Thần II, Dĩ An, Bình Dương với số vốn điều
lệ đăng ký ban đầu là 10 tỷ đồng.
Tháng 12 năm 2007, Công ty Cổ phần Hoa Sen đổi tên thành Công ty Cổ phần


Hình 2.3. Sản lượng tiêu thụ tôn mạ và ống thép của HSG

13


A) Tôn mạ (Công suất thiết kế hiện tại: 1,2 triệu tấn/năm)
Sản lượng tiêu thụ tôn mạ đạt tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm là 36,7%
trong giai đoạn từ 2008 đến 2013. Phân khúc này bao gồm tôn mạ kẽm, tôn lạnh, tôn
kẽm màu, tôn lạnh màu, tôn đen màu và thép tấm mạ kẽm. Từ 2009 đến 2013, phân
khúc này đóng góp từ 78% đến 85% vào doanh thu thuần của Tập đoàn, tuy nhiên, chỉ
đóng góp khoảng 74% trong 9 tháng đầu 2014. Hình 2.4. cho thấy HSG giữ vị trí đứng
đầu trong thị trường tôn mạ, với thị phần vượt xa các các công ty sản xuất tôn mạ khác:
Nam Kim, Sun Steel, Tôn Phương Nam. Tuy nhiên, thị phần của HSG có xu hướng
giảm nhẹ trong hai năm qua do cạnh tranh trong ngành ngày càng trở nên gay gắt.
Hình 2.4. Thị phần Tôn mạ của HSG

B) Ống thép (công suất thiết kế hiện tại: 279.000 tấn/năm).

14


Sản phẩm ống thép được tung ra thị trường vào năm 2009 và đóng góp từ 7%
đến 13% vào doanh thu thuần từ 2009 đến 2013. Trong 9 tháng đầu 2014, phân khúc
này đóng góp 18,6% vào doanh thu thuần. Theo ban lãnh đạo, điều này là do việc mở
rộng công suất dây chuyền ống thép ngay trong quý đầu tiên của năm tài chính, và
cũng giải thích cho tỷ lệ đóng góp của phân khúc tôn mạ vào doanh thu thuần giảm
trong 9 tháng đầu 2014 do các dây chuyền tôn mạ đi vào hoạt động sau các dây chuyền
ống thép. Phân khúc này bao gồm ống thép đen và ống thép mạ kẽm, là sản phẩm có
nhu cầu cao và được thị trường đánh giá tốt. Từ 2009 đến 2013, sản lượng tiêu thụ ống

Kỳ, Nhật Bản. Ngoài ra, HSG là doanh nghiệp đầu tiên ứng dụng công nghệ mạ NOF
để sản xuất tôn mạ tại Việt Nam. Công nghệ này giúp tạo ra những sản phẩm có độ bền
và chất lượng vượt trội với chi phí thấp.
Tập đoàn có hai nhà máy sản xuất liên hợp: một tại tỉnh Bình Dương và một tại Bà Rịa
– Vũng Tàu. Nhà máy tại Bình Dương đã đi vào hoạt động từ năm 2004 và có công
suất mạ 150.000 tấn/năm và công suất mạ màu 90.000 tấn/năm. Nhà máy liên hợp tại
Bà Rịa – Vũng Tàu với quy mô lớn được khởi công trong năm 2010 với tên gọi Nhà
máy Tôn Hoa Sen Phú Mỹ. Nhà máy có vốn đầu tư là 3.071 tỷ đồng, diện tích 16,7 ha
gồm 87.542 m2 nhà xưởng và 690 m2 vănphòng, một trạm biến áp 110KV và hệ thống
xử lý nước thải. Giai đoạn 1 của Nhà máy Tôn Hoa Sen Phú Mỹ bao gồm các dây
chuyền: 400.000 tấn/năm thép cán nguội; 450.000 tấn/năm thép dày mạ kẽm; 220.000
tấn/năm tôn mạ; và 180.000 tấn/năm tôn mạ màu. Sau khi hoàn thành giai đoạn 1, tổng

16


công suất thành phẩm đạt 820.000 tấn/năm. Công suất bán thành phẩm thép cán nguội
đã được tận dụng tối đa với công suất là 580.000 tấn/năm. Trong năm 2013, HSG khởi
công giai đoạn 2 với tổng giá trị đầu tư là 1.344 tỷ đồng với nguồn vốn được sắp xếp từ
các khoản vay dài hạn và lợi nhuận giữ lại. Dự án đã hoàn thành vào tháng 8 năm
2014. Theo đó, công suất sản xuất thép cán nguội của HSG đã tăng đáng kể với
980.000 tấn/năm, công suất mạ là 1.220.000 tấn/năm, công suất mạ màu là 420.000
tấn/năm. Như vậy, quá trình đầu tư theo chiều sâu của Tập đoàn để hoàn thành chuỗi
giá trị về cơ bản đã hoàn thành.
2.3.2. Hệ thống phân phối
Hình 2.6, cho thấy chiến lược của Tập đoàn là đưa sản phẩm đến tận tay người
tiêu dùng thông qua các chi nhánh phân phối, bán lẻ bao phủ cả nước. Với việc quản lý
tập trung và thống nhất theo các chính sách chung, HSG có thể kiểm soát chặt chẽ chất
lượng sản phẩm đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng. Đây là yếu tố tạo nên sự khác
biệt với hầu hết các doanh nghiệp thép khác không có mạng lưới phân phối riêng mà


Hình 2.7 và hình 2.8, cho thấy từ 2009 đến 2013, doanh thu và sản lượng xuất khẩu đã
tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm lần lượt là 161% và 158%. Tỷ
trọng doanh thu xuất khẩu trên tổng doanh thu đã tăng từ 3,4% vào 2009 lên 41,1%
trong 9 tháng đầu 2014.

18


Hình 2.8. Doanh thu xuất khẩu

HSG đang tìm cách đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và giảm sự phụ thuộc vào
một số thị trường. Hiện tại, HSG xuất khẩu phần lớn sản lượng sang các nước ASEAN
phục vụ xây dựng dân dụng, hàng gia dụng lâu bền. Tập đoàn dự kiến sẽ hưởng lợi từ
các mức thuế suất ưu đãi trong chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho
khu vực Mậu dịch tự do ASEAN. Tuy nhiên, những ảnh hưởng tích cực này sẽ phần
nào hạn chế do sản phẩm của HSG sẽ phải cạnh tranh với các sản phẩm từ các nước
ASEAN khác. Định hướng sắp tới của Tập đoàn là mở rộng xuất khẩu ra thị trường thế
giới, đặc biệt là hướng đến các thị trường lớn như Mỹ, Úc, Châu Âu. Đây cũng là các
thị trường đòi hỏi khắt khe về chất lượng sản phẩm, ngoài ra, chi phí vận chuyển cao
và thời gian vận chuyển dài là những yếu tố Tập đoàn cần cân nhắc. Việc duy trì sản
lượng bán hàng ở mức cao luôn là mục tiêu trọng tâm của HSG và hoạt động xuất khẩu
sẽ là yếu tố chính giúp đạt được mục tiêu này.
Tuy hoạt động xuất khẩu có biên độ lợi nhuận thấp do chi phí vận chuyển cao
nhưng giúp Tập đoàn giảm được sự phụ thuộc vào thị trường trong nước vốn mang
tính mùa vụ. Ngoài ra, Tập đoàn có khoản doanh thu bằng ngoại tệ, giúp giảm rủi ro tỷ
giá. HSG có thể cạnh tranh trực tiếp với các công ty lớn trong khu vực do sản phẩm
của HSG đạt tiêu chuẩn quốc tế, giá cả cạnh tranh hơn nữa, vị trí địa lý của Việt Nam
thuận lợi


2.4.2. Phân tích cơ cấu vốn chủ sở hữu và tổng tài sản
A) Vốn chủ sở hữu
Hình 2.12. cho thấy từ 2005 đến 2013 vốn chủ sở hữu tăng rất nhanh do phát
hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ, bên cạnh đó trong giai đoạn 2009-2013 vốn chủ sở hữu
của HSG tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng lũy kế hàng năm(CAGR) là 23,9%, một
phần lớn đến từ lợi nhuận chưa phân phối. Tính đến niên khóa tài chính 2013 lũy kế lợi
nhuận chưa phân phối của HSG đạt 821,49 tỷ đồng chiếm 37% tổng vốn chủ sở hữu
Hình 2.12. Cơ cấu vốn chủ sở hữu

B) Tổng tài sản
Hình 2.14, cho thấy từ 2005 đến 2013 tổng tài sản của HSG đạt tốc độ tăng
trưởng lũy kế(CAGR) là 51,01%, riêng giai đoạn 2009 đến 2013 tổng tài sản tăng
trưởng với tốc độ CAGR là 30,8%. Đáng chú ý, trong 2012 tài sản ngắn hạn giảm 15%
so với niên độ trước do HSG chủ động giảm hàng tồn kho để trả bớt nợ vay ngắn hạn.
Hình 2.14. Tổng tài sản của Tập đoàn Hoa Sen

22


Trong cơ cấu tài sản của HSG, tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng ổn định, khoảng
50% trong tổng tài sản. Tuy nhiên, trong 2013, tài sản ngắn hạn chiếm 59% do hàng
tồn kho tăng mạnh 96% so với niên độ trước. Hàng tồn kho phải duy trì ở mức cao
nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu. Trong các năm qua, HSG đầu
tư nhiều vào dự án Nhà máy Tôn Hoa Sen Phú Mỹ và hoàn thành giai đoạn 1 vào năm
2011, giai đoạn 2 vào năm 2014. HSG cho biết quá trình đầu tư theo chiều sâu (hoàn
thiện chuỗi giá trị sản xuất) cơ bản đã hoàn thành vào cuối 2014. Trong thời gian tới,
HSG sẽ tập trung chủ yếu cho việc đầu tư mở rộng hệ thống phân phối, đồng thời
nghiên cứu triển khai dự án nhà máy ở nước ngoài. Từ 2015 dự kiến tài sản dài hạn sẽ
giảm do HSG giảm đầu tư tài sản cố định sau khi giai đoạn 2 đã hoàn thành, đồng thời
tỷ trọng tài sản ngắn hạn tăng lên do hàng tồn kho và các khoản phải thu tăng để phục

định, giúp rủi ro thanh khoản của HSG vẫn trong tầm kiểm soát.
Bảng 2.16. Các chỉ số thanh khoản

24


Bảng 2.16, cho thấy tuy doanh thu tăng trưởng mạnh nhưng HSG vẫn giữ tỷ lệ
tiền mặt ở mức khá thấp để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chỉ số tiền mặt dao
động quanh mức từ 0,2 lần đến 0,4 lần. Chỉ số thanh toán hiện hành và thanh toán
nhanh đã giảm nhẹ do nợ vay ngắn hạn tăng để tài trợ cho vốn lưu động, chủ yếu là tài
trợ cho hàng tồn kho. Tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu và các chỉ số thanh toán khác
trở nên kém khả quan trong niên độ tài chính 2011 do nợ vay tăng cao để tài trợ nguồn
vốn cho dự án Nhà máy Tôn Hoa Sen Phú Mỹ trong bối cảnh lãi suất tăng mạnh. Các
chỉ số này cải thiện vào 2012 khi Tập đoàn đẩy mạnh xuất khẩu để tạo nguồn thu ngoại
tệ, đóng góp một phần cho nguồn vốn sản xuất kinh doanh. Trong 2013, HSG triển
khai giai đoạn 2 của dự án Nhà máy Tôn Hoa Sen Phú Mỹ với nguồn vốn được huy
động từ các khoản vay dài hạn, chúng tôi dự kiến chi phí lãi vay sẽ tăng trong hai năm
tới.
Hình 2.17. Phân tích Dupont

Hình 2.17 và Hình 2.18, cho thấy biên lợi nhuận ròng giảm sâu từ 2009 (6,69%)
đến 2011(1,96%) làm cho chỉ số ROE 2011 giảm còn 8,98% và ROA 2011 giảm còn
2,7%. Nguyên nhân do chiến lược của HSG muốn tăng mạnh vốn chủ sở hữu và tài sản
để tài trợ cho dự án Nhà máy Hoa Sen Phú Mỹ (giai đoạn1) trong khi lợi nhuận ròng
không tăng trưởng tương ứng do khủng hoảng tài chính 2008 ảnh hưởng đến nền kinh
tế Việt Nam đặc biệt là ngành bất động sản và xây dựng. Chỉ số ROE và ROA giảm

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status