skkn sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học môn giáo dục công dân bậc THCS - Pdf 32

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO YÊN KHÁNH
TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN

***********

KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY VÀ HỌC
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN BẬC THCS

Tác giả sáng kiến: Phạm Thị The
Chức vụ công tác: Giáo viên
Trình độ chuyên môn: Cử nhân
Địa chỉ: Trường THCS Lê Quý Đôn - TT Yên Ninh
Yên Khánh - Ninh Bình
Email:
Điện thoại: 0303841416.

Yên Khánh, 5/2015


Môc lôc
STT
1
A. MỞ ĐẦU

2

NỘI DUNG

TRANG
1

II. Cơ sở khoa học của bản đồ tư duy
III. Nguyên tắc hoạt động của bản đồ tư duy .
IV. Cách lập bản đồ tư duy.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG, BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

6
6
7
8
9
10

I. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

10

II. Giải pháp vận dụng bản đồ tư duy trong môn GDCD .

12

1.Bản chất của phương pháp dạy bản đồ tư duy.

12

2.Vận dụng bản đồ tư duy trong quá trình dạy học GDCD .

15

3. Học sinh học tập độc lập, sử dụng bản đồ tư duy để hỗ trợ

I. Bài học kinh nghiệm

30

1. Đối với giáo viên

30

2. Đối với học sinh

31

II. Hiệu quả do sáng kiến kinh nghiệm đem lại

31

III. Điều kiện và khả năng ứng dụng

32

IV. Những kiến nghị, đề xuât

32

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:


Chúng ta đang sống trong thời đại văn minh trí tuệ, toàn cầu hoá. Một câu
hỏi lớn đặt ra cho ngành giáo dục là làm sao đào tạo được nguồn nhân lực cho đất

pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm đã và đang
được triển khai rộng rãi trong các nhà trường THCS. Đặc biệt là việc ứng dụng
bản đồ tư duy cùng với các phương pháp dạy học tích cực khác như học nhóm,
công nghệ thông tin... đã đem lại rất nhiều lợi ích và thu được những kết quả đáng
kể. Tuy nhiên việc môn Giáo dục công dân cũng gặp nhiều khó khăn. Dung lượng
kiến thức mỗi tiết rất dài và có phần khô khan. Vì vậy mà trong quá trình giảng
dạy, bản thân luôn trăn trở làm thế nào để có thể ứng dụng tốt phương pháp dạy
học môn Giáo dục công dân bằng bản đồ tư duy để giờ dạy có hiệu quả, phát huy
tính tích cực chủ động, sáng tạo đồng thời gợi niềm say mê, hứng thú của học sinh
. Đó chính là lí do tôi chọn đề tài: “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy và học môn
Giáo dục công dân bậc THCS”.
2.Lịch sử đề tài :
Bản đồ tư duy (BĐTD) là một công cụ tổ chức tư duy được tác giả Tony
Buzan (Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến rộng khắp thế giới. Nhiều nước
trên thế giới đã ứng dụng BĐTD trong giảng dạy, học tập, làm việc, kinh doanh...
từ 15 - 20 năm nay. Ở nước ta, BĐTD mới chỉ được biết đến trong vài năm trở lại
đây, đặc biệt khi ngành giáo dục làm quen với BĐTD qua triển khai áp dụng linh
hoạt cùng với các phương pháp dạy học tích cực khác trên diện rộng của Bộ Giáo
dục và Đào tạo.
Dự án Phát triển giáo dục THCS II đã chủ trì nhóm nghiên cứu một cách kĩ lưỡng
và tham mưu với Bộ GD - ĐT đưa thành chuyên đề ứng dụng BĐTD hỗ trợ đổi
mới phương pháp dạy học tới các cán bộ quản lý và giáo viên, học sinh
THCS. Trong 3 năm gần đây, các cán bộ nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Giáo
dục Việt Nam, Dự án Phát triển giáo dục THCS II kết hợp với Vụ Giáo dục Trung
học và Cục Nhà giáo của Bộ GD - ĐT và Sở GD - ĐT các tỉnh đến các vùng miền
của đất nước để nghiên cứu và nhân rộng dần phương pháp mới này với hy vọng
sẽ giúp HS thoát khỏi lối “học vẹt”, đóng góp phần mình vào công việc chung của
ngành giáo dục. Trên 30 bài báo khoa học cùng với 4 cuốn sách: “Dạy tốt - học tốt



Đối với với giáo viên, trong quá trình dạy Giáo dục công dân, sử dụng
BĐTD để củng cố kiến thức cho học sinh sau mỗi phần của bài học, sau mỗi bài
học hay sau mỗi chương học một cách rõ ràng, khoa học vì sử dụng phần mềm
BĐTD như một hình ảnh trực quan cho học sinh dễ theo dõi những kiến thức cơ
bản, trọng tâm. Chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận
dụng

kiến

thức,

tăng

cường

thực

hành

.

3. 2. Đối với học sinh:
Việc sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học, sẽ giúp học sinh học được
phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:
4.1 Nhiệm vụ:
4.1.1. Tìm hiểu những vấn đề chung về bản đồ tư duy .
4.2.2. Tìm hiểu một số vấn đề về thực tiễn dạy học Giáo dục công dân ở
bậc Trung học cơ sở .
4.3.3. Tìm hiểu một số vấn đề phương pháp ứng dụng bản đồ tư duy trong

5. Điểm mới cần lưu ý trong kinh nghiệm này là bản thân đã khai thác ứng
dụng phần mềm iMindmap trong việc dạy học môn Giáo dục công dân.

*

*

*


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : CÁC CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Trước khi đưa ra những vận dụng cụ thể phương pháp vận dụng bản đồ tư duy
trong việc đổi mới dạy học Giáo dục công dân THCS, tôi muốn trình bày những
kiến thức học tập được từ những chuyên đề về phương pháp sử dụng bản đồ tư
duy .
I. Khái niệm về bản đồ tư duy:
Theo Tony Buzan, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra bản đồ tư duy thì:
“Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở
rộng và đào sâu các ý tưởng. Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung
tâm. Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng
trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm. Với phương thức tiến
dần từ trung tâm ra xung quanh, bản đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải
hoạt động tương tự. Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển.

Theo thầy Hoàng Đức Huy - giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên quận
4 - thành phố Hồ Chí Minh viết : “ Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây có
nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh. Cái cây ở giữa bản đồ là một ý tưởng
chính hay là hình ảnh trung tâm. Nối với nó là các nhánh lớn thể hiện các vấn đề
liên quan đến ý tưởng chính. Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều nhánh nhỏ,

Với đặc điểm trên, bản đồ tư duy kết hợp hoạt động của hai bán cầu não trái
và não phải. Điều này giải thích vì sao chúng ta có thể phát huy toàn bộ mọi khả
năng tư duy của mình khi sử dụng bản đồ tư duy. Như vậy bản đồ tư duy là một
công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại, một kĩ năng sử dụng bộ não rất mới mẻ. Đó là một
kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu
sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của bộ não, giúp con người khai
thác tiềm năng vô tận của bộ não.
III. Nguyên tắc hoạt động của bản đồ tư duy:
Nguyên tắc hoạt động của bản đồ tư duy đúng theo nguyên tắc liên tưởng “ý
này gợi ý kia” của bộ não. Ở vị trí trung tâm của bản đồ là một hình ảnh hay một
từ khóa thể hiện một ý tưởng hay một khái niệm chủ đạo. Ý trung tâm đó được nối
với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính. Từ các nhánh chính đó
lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn. Cứ thế sự phân
nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau.
Chính sự liên kết này tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả về ý trung tâm một cách
đầy đủ, rõ ràng.
Sơ đồ minh họa:


IV. Cách lập Bản đồ tư duy:

Theo Tony Buzan, để lập một Bản đồ tư duy gồm có các bước sau:
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang) :
Bắt đầu ý tưởng trung tâm ở giữa một tờ giấy trắng, phần giấy trắng xung
quanh dùng để diễn tả các ý chính theo các nhánh nhỏ.Người vẽ sẽ bắt đầu từ
trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Diễn đạt ý tưởng trung tâm bằng một từ khoá,
hình ảnh hay bản vẽ. Có thể dùng từ khóa, kí hiệu , câu danh ngôn, câu nói nào đó
gợi ấn tượng sâu sắc về chủ đề. Theo Tony Buzan, một hình ảnh có thể diễn đạt ý
tưởng tương đương với 1000 từ vựng. Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ




vận dụng và đã thường xuyên được cải tiến cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của
nhà trường Trung học cơ sở ở Việt Nam. Việc làm đó góp phần nâng cao chất
lượng dạy Lịch sử ở các trường Trung học cơ sở .
Mặc dù vậy, phải thừa nhận rằng trong thực tế phương dạy học nói chung ,
phương dạy Giáo dục công dân nói riêng ở nhà trường Trung học cơ sở ở Việt
Nam về cơ bản vẫn thuộc quỹ đạo của các phương dạy học có từ hàng trăm năm
nay. Đặc trưng chủ yếu của cách dạy học này là coi giáo viên là trung tâm của quá
trình dạy học, trong đó: Giáo viên lên lớp truyền thụ kiến thức chủ yếu bằng
phương pháp thuyết trình, giảng giải, còn học sinh thụ động tiếp thu theo cách:
thầy giảng – trò nghe, ghi nhớ, làm bài theo mẫu . Cách dạy đó chủ yếu là dạy học
theo kiểu đồng loạt, bình quân. Giaó viên và học sinh đều phụ thuộc vào các tài
liệu sẵn có. Học sinh phải chấp nhận những giá trị đã có ( thường do giáo viên áp
đặt). Cách dạy này dẫn đến nhiều hạn chế:
* Với học sinh:
Thực tế học sinh học m«n Giáo dục công dân, các em thường học tập thụ động,
không tự mình phát hiện nên kiến thức tiếp thu không được vững. Hầu như các em
chưa có thói quen tìm hiểu, vận dụng, sáng tạo mà chỉ quen nghe, quen ghi chép
những gì mà giáo viên nói. Do bị áp đặt kiến thức, c¸c em không nắm được bản
chất của kiến thức, lâu nhớ, mau quên, không có khả năng vận dụng kiến thức một
cách linh hoạt, sáng tạo. Phần lớn học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp
không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ
của mình . Việc học thường ít hứng thú, nội dung các hoạt động học tập đơn điệu,
khiến c¸c em dễ chán, mất tập trung trong giờ học. Năng lực cá nhân của học sinh
ít có điều kiện bộc lộ và phát triển đầy đủ. Hơn nữa chương trình môn Giáo dục
công dân quá rộng, kiến thức nhiều mà giáo viên chưa rút gọn những gì cần truyền
đạt, những gì chỉ giới thiệu qua và những vấn đề nào cần hướng dẫn cho học sinh.
Học sinh không được chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập và sáng tạo vì luôn
lệ thuộc vào người khác, do vậy, khó thích ứng với yêu cầu học tập cao hơn ở các

tham gia tích cực vào quá trình dạy học.
II. GIẢI PHÁP VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG MÔN GDCD :
1.Bản chất phương pháp dạy học bằng BĐTD:


BĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp người học chuyển
tải thông tin vào bộ não rồi được thông tin ra ngoài bộ não một cách dễ dàng, đồng
thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng, đào sâu và kết nối các
ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng. Có thể so sánh 2 cách
tư duy và 2 cách biểu hiện sau:
Cách biểu hiện

Tư duy truyền thống Tư duy bằng bản đồ

Đường nét

Thẳng

Nhiều loại

Màu sắc

Không



Ngôn ngữ
Hình ảnh
Không gian định hướng


kết chặt chẽ về những gì được học.
1.2. BĐTD sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc:
BĐTD thật sự giúp chúng ta tận dụng các chức năng của não trái lẫn não
phải khi học. Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức mạnh của cả bộ
não. Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm ẩn
trong chúng ta, đưa chúng ta lên một đẳng cấp mới, đẳng cấp của một tài năng
thực thụ hay thậm chí của một thiên tài.


2. Vận dụng BĐTD trong quá trình dạy học Giáo dục công dân:
2.1. Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:
2.1.1. Dùng BĐTD để kiểm tra bài cũ:
- Dạng 1: Có thể lập bản đồ tư duy dạng điền vào ô trống, điền khuyết, lắp
ráp hoặc cho HS sắp xếp thứ tự các ý… để kiểm tra kiến thức cũ của HS .điền và
- Dạng 2: GV có thể biến hóa điền vào ô trống thành các nhánh hoa, các
bông hoa, bong bóng, các hộp bí mật…với đầy sắc màu để kiểm tra nhưng cũng
chính là giúp các em khắc họa các hình ảnh này vào tâm trí, ghi nhớ kiến thức cũ


lâu hơn.DDạng

1: - Có thể lậ

g,
2.1.2. Dùng BĐTD để dạy bài mới:
Sử dụng bản đồ tư duy là một gợi ý cho cách trình bày. Giáo viên thay vì
gạch chân đầu dòng các ý cần trình bày lên bảng thì sử dụng BĐTD để thể hiện
một phần hoặc toàn bộ nội dung bài học một cách rất trực quan.
Môn GDCD hầu như bài nào cũng có phần khái niệm, phần biểu hiện, ý
nghĩa, rèn luyện của HS. GV có thể sử dụng BĐTD để dạy một phần, hai phần


2.1.3. Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến
thức sau mỗi chương, phần…:
Sau khi cho HS đọc truyện đọc trong sách giáo khoa hoặc xem một đoạn phim,
tư liệu, tranh ảnh ( tùy theo nội dung mỗi bài); GV có thể dẫn dắt HS khám phá
nội dung bằng một BĐTD giúp các em dễ khám phá ra vấn đề hơn, khai thác nội
dung một cách nhanh chóng và dễ hiểu hơn.


Ví dụ: GDCD 9, BÀI “ Vi phạm pháp luật và tách nhiệm pháp lí của công
dân”. Vẽ trên IMindMap


Đặc biệt, sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ
thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD.
Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc
làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh
chóng, dễ dàng.
Ví dụ khi dạy bài “Lễ độ” trong môn Giáo dục công dân lớp 6, giáo viên tổ
chức cho học sinh lập BĐTD theo nhóm hoặc cá nhân, gợi ý cho các em tìm các
biểu hiện lễ độ, các biểu hiện thiếu lễ độ, tìm trong thực tế, sách báo về các gương
lễ độ, kế hoạch rèn luyện của bản thân,... để các em lập BĐTD với từ khóa “ Lễ
độ” ở trung tâm. Tiếp theo cho các nhóm học sinh trình bày, thuyết minh về
BĐTD của mình, cả lớp thảo luận, góp ý kiến, giáo viên kết luận dẫn đến kiến
thức mới. ccủa bản thân,…để các em lập BĐTD với từ khóa “ lễ độ” ởnóa “ lễ đ

BĐTD với từ khóa “ Lễ độ” do học sinh lớp 6 vẽ.
- BĐTD liên kết toàn bài, học kỳ : với BĐTD, giáo viên có thể yêu cầu HS nhắc
lại toàn bộ nội dung chính trong bài, giúp các em khắc họa kiến thức đã học một
cách vừa logic, vừa dễ nhớ nhất. Ví dụ: tiết ôn tập HKI, lớp 6 sau đây.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status