PHÒNG GD&ĐT huyÖn B¾c Hµ
TRƯỜNG TIỂU HỌC NA HỐI 2
ĐỀ TÀI
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN
CHO HỌC SINH KHỐI 5 - TRƯỜNG TIỂU HỌC NA HỐI 2 - BẮC HÀ - LÀO CAI
THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP “ GỢI ĐỘNG CƠ, TẠO HỨNG THÚ”
Họ và tên tác giả: Đặng Thị Thuận
Chức vụ
: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường TH Na Hối 2 - Bắc Hà - Lào Cai
Bắc Hà, ngày 20 tháng 5 năm 2014
MỤC LỤC
1
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI................................................................................Trang 3
1. Bối cảnh............................................................................................... Trang 3
2. Mục đích...............................................................................................Trang 4
3.Quá trình nghiên cứu.............................................................................Trang 4
II. GIỚI THIỆU........................................................................................Trang 5
1. Hiện trạng..............................................................................................Trang 5
2. Giải pháp thay thế.................................................................................Trang 6
3.Vấn đề nghiên cứu................................................................................ Trang 7
4. Giả thuyết nghiên cứu...........................................................................Trang 7
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................................................Trang 7
1. Khách thể nghiên cứu...........................................................................Trang 7
Bảng 1: Giới tính và thành phần dân tộc của học sinh khối 5........... Trang 7
2. Thiết kế nghiên cứu.............................................................................Trang 7
Đề tài: Nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp 5 - trường Tiểu học
Na Hối II thông qua phương pháp “ Gợi động cơ, tạo hứng thú”.
Họ và tên: Đặng Thị Thuận.
Chức vụ: Phó hiệu trưởng.
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Na Hối II.
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. Bối cảnh
Từ xa xưa, ông cha ta rất coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng nhân tài cho
đất nước đã được đúc rút thành kinh nghiệm quí báu “Những người tài giỏi là
cốt tử của một chỉnh thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước phát triển mạnh
mẽ, phồn vinh”. Những người tài giỏi, có học thức là một sức mạnh quan trọng
đặc biệt đối với đất nước. Vậy làm thế nào để đào tạo được một thế hệ có đủ
đức, đủ tài để hoà nhập với điểu kiện khoa học kĩ thuật phát triển mạnh mẽ trên
thế giới thì bản thân người giáo viên, phụ huynh, học sinh phải xác định được
cho mình một “động cơ” đúng đắn. Các em học sinh biết tự tìm tòi, vận dụng
những hiểu biết, trang bị cho mình hệ thống những tri thức để bước vào cuộc
sống một cách vững chắc hơn. Các nhà khoa học khẳng định “Bậc Tiểu học là
nền tảng, muốn xây dựng được thành luỹ, lâu đài kiến thức bao giờ cũng phải có
nền tảng”.
3
Với vai trò là nền tảng, ngay từ bậc học đầu tiên - bậc học Tiểu học, các
giáo viên và các nhà quản lí phải hướng cho học sinh có “động cơ” học tập đúng
đắn. Các em xác định được “ Việc học tập là để lĩnh hội tri thức mới cho chính
mình”. Mà môn toán là một môn học chiếm vị trí quan trọng, nó như một chiếc
chìa khoá để mở đường cho tất cả các môn học khác. Chúng ta đã thấy, tất cả
mọi khoa học đều bắt đầu từ môn toán. Để học tốt môn Toán cũng như các môn
học khác thì học sinh phải xác định cho mình một “động cơ” học tập đúng đắn.
Tiểu học Na Hối II, với lớp 5A là lớp thực nghiệm, lớp 5B là lớp đối chứng. Lớp
thực nghiệm được thực hiện bằng giải pháp thay thế từ tiết 16 đến tiết 62 (Toán
5). Khi dạy các bài trong môn toán 5 ở các tiết 16; 18; 20; 30; 37; 52; 62…theo
phân phối chương trình. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến
kết quả học tập của học sinh. Lớp thực nghiệm đã đạt kết quả cao hơn của lớp
đối chứng, điểm kiểm tra đầu ra của lớp thực nghiệm cao hơn của lớp đối chứng
với:
+ Điểm kiểm tra đầu ra trung bình của lớp thực nghiệm là: 8,53.
+ Điểm kiểm tra đầu ra trung bình của lớp đối chứng là: 7,53.
+Chênh lệch giá trị trung bình chuấn SMD = 1,0
+ Kết quả kiểm chứng T- test cho thấy p = 0,00034 < 0,05 có nghĩa là có
sự khác biệt giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Qua đó
ta thấy việc ứng dụng “Phương pháp dạy học “ Gợi động cơ, tạo hứng thú”
nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 5- trường Tiểu học Na
Hối II” là vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mũi nhọn cũng
như chất lượng đại trà của nhà trường.
II. GIỚI THIỆU
1. Hiện trạng
Chất lượng giáo dục Tiểu học nói chung, chất lượng môn toán lớp 5 của
trường Tiểu học Na Hối II nói riêng giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống
giáo dục phổ thông. Đó là một nhiệm vụ vô cùng lớn lao đòi hỏi phải có sự nô
lực rất lớn của các nhà quản lí, đội ngũ giáo viên, toàn thể các em học sinh, phụ
huynh và của cả cộng đồng. Chính vì vậy, là một cán bộ quản lí chuyên môn
trong nhà trường, tôi đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng “động cơ” học tập cho
học sinh bằng cách khơi dậy mạnh mẽ ở các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu
chiếm lĩnh kiến thức. Vì nhu cầu là khởi nguồn của tính tự giác, tính tích cực
học tập thì kết quả học tập sẽ dần được nâng cao. Qua việc nghiên cứu trên, môi
5
Đề tài thứ 1: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu
học ở trường Tiểu học Sông Đốc của cô giáo Nguyễn Kiều Anh.
6
Đề tài thứ 2: Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo bồi dưỡng học sinh giỏi ở
trường Tiểu học Trung Nguyên. Cô giáo Nguyễn Thị Chinh
Nhiều báo cáo kinh nghiệm và đề tài khoa học của các thầy cô giáo trong
trường cao đẳng sư phạm cũng đề cập đến việc nâng cao chất lượng môn toán
một cách sâu sắc. Các đề tài, tài liệu chủ yếu đề cập đến các vấn đề bồi dưỡng
học sinh giỏi môn toán, công tác quản lí chỉ đạo, bồi dưỡng học sinh giỏi môn
toán nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ở trường phổ thông nhưng chưa
có tài liệu, đề tài nào để cập tới vấn đề “Gợi động cơ, tạo hứng thú” cho học sinh
trong học tập để nâng cao chất lượng môn toán. Trước thực trạng của đơn vị
đang công tác, tôi luôn mong muốn có một nghiên cứu cụ thể hơn, sâu sắc hơn
về tâm lí, lứa tuổi của học sinh tiểu học. Bắt nguồn từ những cơ sở thông tin đó,
chúng tôi đã xây dựng cho học sinh lòng tin yêu vào nhà trường, các thầy cô
giáo và việc chiếm lĩnh kiến thức toán học nói riêng, việc nâng cao ý thức tự
giác, tự phát trong học tập nói chung. Các em tự xây dựng cho mình một động
cơ học tập, tự khám phá ra kiến thức khoa học ở chân trời mới. Từ đó, truyền
cho các em lòng tin vào khoa học, say mê tìm hiểu khoa học cùng ứng dụng nó
vào đời sống.
3. Vấn đề nghiên cứu: Việc sử dụng phương pháp “Gợi động cơ, tạo
hứng thú” có nâng cao chất lượng học môn toán cho học sinh lớp 5 không?
4. Giả thuyết nghiên cứu: Việc sử dụng phương pháp “Gợi động cơ, tạo
hứng thú” trong học tập sẽ nâng cao kết quả học tập môn toán trong chương
trình lớp 5 - trường Tiểu học Na Hối II.
III. PHƯƠNG PHÁP
1. Khách thể nghiên cứu
Tôi lựa chọn khối 5 - trường Tiểu học Na Hối II để nghiên cứu ứng dụng.
7
8
6
9
Kinh
2
1
Mông
9
3
P. lá
0
8
Nùng
1
0
Dao
3
3
Qua việc điều tra, quan sát, tôi thấy học sinh lớp được chọn ra nghiên cứu
hầu hết có ý thức, năng lực học tập môn toán, các em ở 2 lớp đều tích cực, chủ
động tham gia nhiệt tình các hoạt động học tập.
Về thành tích học tập của năm học 2012 - 2013 và 2013 - 2014 tương
đương nhau về điểm số của tất cả các môn học.
Thực nghiệm( 5A)
01
pháp “Gợi động cơ, tạo hứng
03
thú”.
Dạy học không sử dụng phương
Đối chứng( 5B)
02
pháp “Gợi động cơ, tạo hứng
04
thú”.
Ở thiết kế này, chúng tôi đã sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập.
3. Quy trình nghiên cứu
* Chuẩn bị của giáo viên
Cô Nguyễn Thị Hồng dạy lớp đối chứng: Bài dạy thiết kế theo hướng
không sử dụng phương pháp “Gợi động cơ, tạo hứng thú”. Quy trình dạy học
được thiết kế theo phương pháp CCM( Lấy học sinh làm trung tâm) như các lớp
bình thường khác.
Cô Trần Thị Huyên thiết kế bài học có sử dụng phương pháp “Gợi động
cơ, tạo hứng thú” lồng ghép sử dụng phương pháp dạy học theo góc; đồng thời
kết hợp phương pháp CCM( Lấy học sinh làm trung tâm), phương pháp hoạt
Toán/Lớp 5
Toán/Lớp 5
Toán/Lớp 5
30
37
52
62
Luyên tập chung
So sánh hai số thập phân
Trừ hai số thập phân
Luyện tập chung
4. Đo lường và thu thập dữ liệu
Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng bài kiểm tra trước tác động là bài
kiểm tra môn toán đầu năm học 2013 - 2014. Còn bài kiểm tra sau tác động, tôi
yêu cầu 2 giáo viên lớp 5 cùng tôi tham gia thiết kế.
Bài kiểm tra này gồm 8 câu hỏi. Trong đó có 6 câu trắc nghiệm và 2 câu
tự luận. Các câu hỏi trắc nghiệm được thiết kế theo nhiều dạng học sinh có
nhiều lựa chọn, đúng - sai và 2 câu tự luận nhằm đánh giá kĩ năng phân tích, giải
quyết vấn đề trong khoảng thời gian 60 phút (theo phụ lục 2).
Ngoài ra, để giáo viên nghiên cứu và phát hiện kĩ năng sống của các em,
tôi còn xây dựng bảng kiểm soát thang đo thái độ để thu thập dữ liệu về hành
vi,thái độ của học sinh với môn học( Sử dụng Phiếu xác định động cơ học tập
của học sinh) để thu thập gồm 9 câu hỏi trả lời trắc nghiệm( Phụ lục 3).
* Tiến hành kiểm tra, đánh giá, phân tích
Sau khi thực hiện dạy xong các bài học trên, chúng tôi tiến hành kiểm tra
1 tiết, dùng bảng kiểm, quan sát thang đo thái độ để lấy thông tin từ giáo viên và
học sinh. Sau đó, tôi cùng 2 cô giáo trong nhóm nghiên cứu chấm bài theo đáp
học Na Hối II - Bắc Hà - Lào Cai đã được kiểm chứng.
11
Biểu đồ so sánh điểmtrung bình trước tác động và sau tác động của
nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm.
BẢNG 6: BẢNG THANG ĐO THÁI ĐỘ HÀNH VI VỚI MÔN HỌC
( Sử dụng phụ lục 3)
Thang đo thái độ của học sinh
Lớp thực nghiệm
Lớp đối chứng
(5A- 15 HS)
Trước
Sau
( 5B- 15 HS)
Trước
Sau
tác
tác
tác
3
0
3
1
Thích thú.
6
10
6
7
Bình thường
7
5
8
8
Chán nản.
5
6
6
2.Thái độ của các
em đối với môn
toán như thế nào
3.Đối với các giờ Chời đợi và thích thú
học
toán,
thường có
12
trạng
Kiên trì giải bài cho kì
4.Khi học toán
gặp bài khó, em
thường
4
8
9
7
9
3
6
3
4
Thỉnh thoảng
8
7
8
9
Thường xuyên
3
7
4
6
Sự thích thú
9
10
9
9
Thường xuyên
6
10
6
7
Không thường xuyên
7
5
học nâng cao
ngoài những bài
cô giáo giảng
7.Với em môn
toán là
8.Khi học ở nhà
em thường xuyên
mở sách toán ra
học không
13
9.Mức độ và cách
học toán ở nhà
của em như thế
nào
Học lí thuyết sau đó
làm bài tập
Làm bài tập trước rồi
đọc lí thuyết
Chỉ học lí thuyết
Chỉ giải bài tập
6
10
lựa chọn câu trả lời “đồng ý” để xác định sự tiến bộ về ý thức học tập của học
sinh sau tác động đã có sự khác biệt.
3. Bàn luận
Kết quả bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm có điểm trung
bình là 8,73, kết quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là 7,53. Độ
lệch chuẩn về điểm số giữa 2 nhóm là 1,2. Qua đó thấy được điểm trung bình
của 2 lớp đối chứng và thực nghiệm đã khác biệt, lớp được tác động có điểm
trung bình cao hơn. Do đó, tôi kết luận tác động đã có kết quả và giả thiết đặt ra
là đúng.
Qua bảng thái độ, hành vi với môn học cho thấy, kết quả tác động được
thể hiện ở số lượng của câu trả lời của học sinh. Trước tác động số lượng học
sinh có hành vi tham gia học tập đúng đắn thấp hơn số lượng học sinh có hành
vi tham gia học tập đúng đắn sau tác động. Sau khi thực nghiệm phương pháp
dạy học “Gợi động cơ, tạo hứng thú” tới đối tượng học sinh lớp 5A - trường
Tiểu học Na Hối 2, tôi nhận thấy, học sinh đã say mê tìm tòi kiến thức hơn, kĩ
năng trình bày giải của các em tốt hơn. Các hành vi học tập của các em được cải
14
thiện, các em chú tâm hơn trong giờ học, việc tiếp thu bài được thực hiện
nghiêm túc, xây dựng niềm đam mê với môn toán cho các em. Nghĩa là giáo
viên đã hướng được học sinh vào các hoạt động học tập có “động cơ” bên trong
chứ không phải là “động cơ” bên ngoài. Các kết quả trong nghiên cứu cho thấy
việc sử dụng phương pháp dạy học“Gợi động cơ, tạo hứng thú” là hoạt động
hữu ích, đảm bảo cho học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ trong các giờ học
* Hạn chế: Nghiên cứu này đòi hỏi người giáo viên cần phải vận dụng một cách
linh hoạt phương pháp giảng dạy, nắm bắt được đặc điểm tâm lí học sinh, tạo
được động cơ, hứng thú cho các em trong quá trình học tập. Vì vậy, khi vận
dụng dạy giải các bài toán có lời văn thì giáo viên cần phải tạo góc học tập sáng
tạo, tạo được sân chơi cho học sinh để các em có góc học tập riêng sau khi kết
quan tâm, chia sẻ và đóng góp những ý kiến để bổ sung cho đề tài được tốt hơn.
Đặc biệt đối với giáo viên Tiểu học có thể ứng dụng đề tài vào việc vào giảng
dạy trong những năm học tiếp theo không chỉ trong môn toán mà còn ở các môn
khác nhằm “ Gợi động cơ, tạo hứng thú” học tập và nâng cao chất lượng giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh.
Bắc Hà, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Đặng Thị Thuận
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tập huấn nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học dành cho giảng
viên sư phạm 14 tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Dự án Việt Bỉ- Bộ GD &
ĐT.
Sách giáo khoa Toán 5, Tác giả Đô Đình hoan( chủ biên, NXB giáo dục
2006).
Sách Giáo viên toán 5, nhà xuất bản giáo dục.
Tạp chí khoa học giáo dục, viện chiến lược và chương trình giáo dục.
Tài liệu CCM, Phương pháp dạy học theo góc của chương trình Oxfam.
Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học, Dự án phát triển giáo viên
Tiểu học NXB giáo dục 2006.
Mạng Internet: let; thuvientailieu.bachkim.com;
thuvienbaigiangdientu.bachkim.com; giaovien.net.
16
Một số sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng
dụng của cô giáo Nguyễn Thị Chinh trường Tiểu học Trung Nguyên. Một số
biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học ở trường Tiểu học
Sông Đốc của cô giáo Nguyễn Kiều Anh…
VII. PHỤ LỤC
- Học sinh tham gia chơi trò chơi.
- Nêu các bước giải bài toán dạng “ Tìm
hai số khi biết hiệu và tỷ số của hai sô” .
- 1 em.
GV chia sẻ + cho điểm.
- Giới thiệu kiến thức mới.
2. Phát triển bài ( 30’)
Hoạt động 1: Giới thiệu ví dụ dẫn đến
quan hệ
Mục tiêu: Biết một dạng quan hệ tỉ lệ
( đại lượng này gấp lên bao nhiêu lần thì
đại lượng tương ứng cũng gấp lên bấy
nhiêu lần). Biết cách giải toán liên quan
đến quan hệ tỉ lệ này bằng một trong hai
cách “ Rút về đơn vị” hoặc “ Tìm tỉ số”
* Cách tiến hành:
a, Ví dụ: GV nêu ví dụ sách giáo khoa
để HS tìm quãng đường đi được trong 1
giờ, 2giờ, 3giờ, rồi ghi kết quả vào bảng.
- Yêu cầu học sinh làm bài tập
- HS làm theo nhóm 2.
TGĐ
1 giờ
- GV giới thiệu bài toán.
Cách 1:
Tóm tắt
2 giờ : 90 km
4 giờ : …km?
Bài giải
Trong 1giờ ô tô đi được là:
90 : 2 = 45 (km)
Trong 4 giờ ô tô đi được là:
45 x 4 = 180(km)
Đáp số: 180 km
(*)Bước này là bước“rút về đơnvị’’
Cách 2:
Bài giải
4 giờ gấp 2 giờ số lần là:
4 : 2 = 2(lần)
Trong 4 giờ ô tô đi được số km là:
90 x 2 = 180(km)
Đáp số: 180 km
- Yêu cầu học sinh tóm tắt, giải.
(*) Bước này là bước “ tìm tỉ số’’
* Lưu ý: Khi giải bài toán dạng này, HS
chỉ cần chọn 1 trong 2 cách thích hợp để
trình bày.
Hoạt động 2: Thực hành
- Yêu cầu HS đọc đề bài
- Phân tích đề bài.
- Tóm tắt và giải
- Chia 3 nhóm - môi nhóm 5 HS.
- Làm bảng nhóm + đính bảng.
- Trình bày + phát vấn tại chô.
Tóm tắt
3 ngày: 1200 cây.
12 ngày:
…cây?
Bài giải
Một ngày trồng được số cây là:
1200 : 3 = 400( cây)
- Giáo viên chốt kiến thức, tuyên dương
học sinh có bài làm tốt.
12 ngày trồng được số cây là:
400 x 12 = 4800(cây)
Bài 3
Đáp số: 4800 cây
- Yêu cầu HS đọc đề bài.
- Phân tích đề bài.
21
sang thực hiện tiếp các bài tập ở góc
sáng tạo.
- Chuẩn bị 04 phiếu kết quả của 04 bài
tập( Môi phiếu đựng trong 01 phong bì
thư) đặt tại góc sáng tạo.
- Hoàn thiện bài tập tại góc.
- Hướng dẫn học sinh thực hiện giải.
- Kiểm tra bài trong phiếu kết quả
22
- GV chia sẻ + chốt ý đúng.
tại góc.
3 . Kết luận (5’)
- Tổ chức trò chơi “ Ai nhanh, ai
- Nêu cách giải bài toán có lời văn liên đúng”
quan đến rút về đơn vị?
- Học sinh nêu 02 em
- Nhận xét tiết học: HS thực hiện tốt
nhiệm vụ học tập. Một số em đã hoàn
thiện bài tập sớm và chuyển sang góc
sáng tạo và hoàn thành tôt nhiệm vụ học
tập của mình.
So sánh hai phân số
A.
5
7
>
12
12
5
7
và
12
12
B.
5
7
8
100
C.
8
1000
D.
8
10000
Bài 6: Khoanh vào đáp án đúng
Chuyển hôn số 18
7
thành số thập phân
1000
A. 18,7
B. 18,07
C. 18,007
D. 18,0007
B. Tự luận( 7 điểm - mỗi bài 3,5 điểm)
Bài 1
11
99
63
55
Bài 2: Khoanh vào đáp án đúng (0,5 điểm)
So sánh hai phân số
A.
5
7
>
12
12
5
7
và
12
12
B.
5
7