I) ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chương trình hoá học phổ thông, thời lượng dành cho các tiết luyện tập hay
ôn tập còn hạn chế. Chính vì vậy, học sinh khi học môn hóa học thường gặp nhiều
khó khăn trong việc giải các bài tập. Nhiều em ngại học lý thuyết nên khi gặp các
bài tập yêu cầu phải vận dụng thì không giải quyết được, từ đó học sinh không tích
cực trong học tập dẫn đến kết quả ngày càng thấp. Kiến thức môn Hóa học lớp 12
thực sự quan trọng khi các học sinh phải sử dụng để hoàn thành các bài kiểm tra,
thi tốt nghiệp, thi Đại học, Cao đẳng. Nội dung kiến thức của chương “Đại cương
về kim loại” trong sách giáo khoa lớp 12 nâng cao đã đưa ra một lượng kiến thức
nhất định giúp học sinh hiểu biết về kim loại, đặc biệt củng cố kiến thức về “dãy
điện hoá của kim loại” mà học sinh đã được làm quen ở lớp 9. Tuy nhiên, do một
số nội dung mới đưa vào nên học sinh còn gặp khó khăn trong việc tiếp nhận kiến
thức cũng như giải các bài tập liên quan. Nhằm giúp học sinh chủ động , tích cực
trong việc tiếp nhận kiến thức và vận dụng được để giải nhanh các bài tập, thích
ứng với phương pháp thi trắc nghiệm khách quan, đồng thời giúp bản thân giáo
viên hiểu sâu sắc hơn, có được một cách nhìn khái quát hơn, từ đó việc truyền đạt
kiến thức cho học sinh sẽ tự nhiên, dễ hiểu tôi chọn đề tài: Phát huy tính tích cực,
chủ động của học sinh qua hệ thống bài tập về dãy điện hóa của kim loại.
1
II) GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
I. 1.1 Khái niệm về cặp oxi hoá khử của kim loại
Dạng oxi hoá và dạng khử của cùng một nguyên tố kim loại tạo nên cặp oxi hoá
khử.
Thí dụ: Fe2+/Fe ; Cu2+/Cu ; Ag+/Ag.
Tổng quát: Mn+/M
I.1.2 Pin điện hoá
a) Khái niệm về pin điện hoá, suất điện động và thế điện cực
Ở mạch ngoài ( dây dẫn) , dòng e đi từ cực Zn sang cực Cu, nghĩa là theo quy
ước của điện học, dòng điện đi từ cực Cu sang cực Zn. Vì thế cực Zn được gọi là
anot, cưc Cu là catot. Trong pin điện hoá, anot là cực âm, catot là cực dương.
- Các phản ứng xảy ra trên các điện cực được viết tổng hợp lại như sau:
Zn + Cu2+ → Zn2+ + Cu
I.1.3 Thế điện cực chuẩn của kim loại
a) Điện cực hiđro chuẩn
- Suất điện động chuẩn của pin điện hoá có thể đo được bằng vôn kế, nhưng
không thể đo được giá trị tuyệt đối thế điện cực của các điện cực chuẩn. Để giải
quyết khó khăn này, người ta đưa ra một điện cực so sánh và chấp nhận một cách
quy ước rằng thế điện cực của nó bằng không ở mọi nhiệt độ. Đó là điện cực hiđro
chuẩn.
E02H+/H2 = 0,00V
- Cấu tạo của điện cực hiđro chuẩn gồm 1 tấm Pt được phủ muội Pt, nhúng trong
dung dịch axit có nồng độ ion H + là 1M, bề mặt điện cực hấp phụ khí hiđro, được
thổi liên tục vào dung dịch dưới áp suất 1atm.
b) Thế điện cực chuẩn của kim loại
Thế điện cực chuẩn của kim loại là điện thế của kim loại nhúng trong dung dịch
chứa ion kim loại đó có nồng độ 1M, ở 250C.
Trị số thế điện cực chuẩn của kim loại cần đo được chấp nhận bằng suất điện
động của pin tạo bởi điện cực hiđro chuẩn và điện cực chuẩn của kim loại cần đo.
Trong pin điện hoá trên, nếu kim loại đóng vai trò cực âm, thì thế điện cực chuẩn
3
của kim loại có giá trị âm, còn nếu kim loại đóng vai trò cực dương thì thế điện cực
chuẩn của kim loại có giá trị dương.
I.1.4 Dãy thế điện cực chuẩn của kim loại
Trong dung môi nước, thế điện cực chuẩn của kim loại càng lớn thì tính oxi hoá
của cation kim loại càng mạnh và tính khử của kim loại càng yếu và ngược lại.
b) Xác định chiều của phản ứng oxi hoá khử
- Kim loại của cặp oxi hoá khử có thế điện cực chuẩn nhỏ hơn khử được cation kim
loại của cặp oxi hoá khử có điện cực chuẩn lớn hơn.
- Kim loại trong cặp oxi hóa khử có thế điện cực chuẩn âm khử được ion hiđro của
dung dịch axit.
Các phản ứng trên được viết theo quy tắc α.
c) Xác định suất điện động chuẩn của pin điện hoá
E0pin
= E0(+) - E0(-)
d) Xác định thế điện cực chuẩn của cặp oxi hoá- khử
II.2 – THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
II.2.1. THUẬN LỢI:
Khi tiến hành giảng dạy kiến thức về dãy điện hóa của kim loại , tôi thấy trong
sách giáo khoa đã cung cấp một lượng kiến thức cơ bản để học sinh hiểu rõ các
khái niệm. Học sinh biết xác định chiều của phản ứng giữa 2 cặp oxi hóa khử . Khi
được hướng dẫn, nhiều học sinh đã biết giải các bài tập áp dụng đúng quy tắc α với
1 cặp chất . Bên cạnh đó, nhiều học sinh đã thực sự thích thú khi nghiên cứu để biết
được quy luật về thứ tự xảy ra các phản ứng hóa học, điều được nhấn mạnh nhất
4
khi học về nội dung này. Đồng thời học sinh có thể thay các phản ứng dưới dạng
phân tử thành dạng ion đơn giản để giải quyết các bài toán một cách nhanh chóng
gây cho học sinh những hứng thú nhất định. Mặt khác đối tượng học sinh được
nghiên cứu là những học sinh có trình độ đồng đều, khá tốt nên việc hướng dẫn của
giáo viên khá dễ dàng và nhận được sự ủng hộ của học sinh. Đó là những thuận lợi
sản phẩm của phản ứng, biện luận các trường hợp xảy ra các phản ứng hoá học.
Thí dụ 1: Cho các kim loại Mg, Fe, Cu, Ag và các dung dịch MgSO 4, CuSO4,
Fe(NO3)3, AgNO3. Viết các phương trình hoá học dưới dạng ion rút gọn xảy ra khi
cho lần lượt các kim loại vào lần lượt các dung dịch muối.
Biết giá trị thế điện cực chuẩn tăng dần theo thứ tự:
Mg2+/Mg
Fe2+/Fe
Cu2+/Cu
Fe3+/Fe2+
Ag+/Ag
Hướng dẫn:
-Theo thứ tự trên, kim loại Mg mạnh nhất nên khử được các ion Cu 2+, Fe3+, Ag-+;
Fe khử được các ion Cu2+, Fe3+, Ag+; Cu khử được các ion Fe3+, Ag+.
Các phản ứng đều được viết theo quy tắc anpha.
- Lưu ý: Ta cần chú ý đến các cặp oxi hoá khử ẩn sau đề bài như cặp Fe 2+/Fe và
cặp Mg2+/ Mg; cặp Fe3+/ Fe2+ và cặp Ag+/Ag
Mg + Cu2+ → Mg2+ + Cu
Mg + 2Fe3+ → Mg2+ + 2Fe2+, nếu dư Mg: Mg + Fe2+ → Mg2+ + Fe
Mg + 2Ag+ → Mg2+ + 2Ag
Fe +
Fe
+
Cu2+ → Fe2+
Cực âm xảy ra quá trình oxi hoá:
Fe2+ → Fe3+ + 1e
Phương trình phản ứng xảy ra khi pin hoạt động tự phát:
→ Ag + Fe3+
Ag+ + Fe2+
Thí dụ 3: Biết thế oxi hóa - khử tiêu chuẩn:
Eo Cu2+/Cu+ = + 0,16 V;
Eo Fe3+/Fe2+ = + 0,77 V;
Eo Cu+/Cu
= + 0,52 V
E0 Fe2+/Fe
Eo Ag+/Ag = + 0, 80V;
Eo Zn2+/Zn
= - 0,76 V
= - 0,44 V;
Hãy cho biết hiện tượng gì xảy ra trong các trường hợp sau, viết phương trình hóa
học:
Do đó phản ứng tự phát xảy ra giữa 2 cặp là: 2 Fe3+ + Fe →
3 Fe2+
Như vậy Fe tan trong dung dịch Fe2(SO4)3 tạo thành muối FeSO4, làm nhạt màu
vàng ( hoặc đỏ nâu) của ion Fe 3+ và cuối cùng làm mất màu (hoặc tạo màu xanh
nhạt) dung dịch.
c)
Eo Cu+/Cu
= + 0,52 V
Eo Cu2+/Cu+ = + 0,16
>
Tính oxi hoá: Cu+ mạnh hơn Cu2+ ; Tính khử: Cu+ mạnh hơn Cu
Do đó phản ứng tự phát xảy ra giữa 2 cặp là: Cu+ + Cu+
→
Cu2+ + Cu
Phản ứng nghịch (Cu2+ phản ứng với Cu tạo thành ion Cu+) không xảy ra. Do đó
khi bỏ bột đồng vào dung dịch CuSO4 không xảy ra phản ứng và quan sát không
thấy hiện tượng gì.
d) Eo Fe3+/Fe2+ = +0,77 V > Eo Fe2+/Fe
nên: Tính oxi hóa: Fe3+ > Fe2+ > Zn2+
Do đó:
Nếu b/2 < a < b/2 + c : xảy ra xong phản ứng (1) và xảy ra phản ứng (2), trong
dung dịch còn ion Cu2+ :
Zn + Cu2+
→ Zn2+ + Cu (2)
Nếu a ≥ b/2 + c : xảy ra xong phản ứng (1) và (2) , dung dịch hết các ion Ag + và
Cu2+.
Dạng 2: Giải bài toán theo phương pháp tăng giảm khối lượng
Mục đích: Giúp học sinh có phương pháp biện luận để tìm nhanh các phản ứng
hoá học nào đã xảy ra, từ đó tìm ra kết quả một cách nhanh chóng.
Thí dụ 1: Cho 1,12 g bột sắt và 0,24g bột Mg vào một bình đựng sẵn 250ml
dung dịch CuSO4 rồi khuấy kỹ cho đến khi phản ứng kết thúc. Sau phản ứng, khối
lượng kim loại có trong bình là 1,88g. Tính nồng độ mol/l của dung dịch CuSO 4
trước phản ứng.
Hướng dẫn:
- Tính số mol Fe, Mg.
- So sánh tính khử của Fe và Mg, cho biết phản ứng nào xảy ra trước.
- Vận dụng phương pháp tăng giảm khối lượng để biết Mg đã phản ứng hết hay
chưa. Từ đó suy ra số mol CuSO4 phản ứng, tính nồng độ mol/l của dd CuSO4.
Giải:
Số mol của Fe và Mg là:
n Fe =
1,12
0,24
= 0,02(mol ); n Mg =
= 0,01( mol )
gian, lấy thanh kim loại ra cân lại, thấy khối lượng thanh kim loại:
a) Giảm 1,2g
b) Không thay đổi.
c) Tăng 0,8g.
Tính khối lượng Mg đã tan vào dung dịch trong 3 trường hợp trên.
Hướng dẫn:
- Khi cho Mg vào dung dịch Fe(NO3)3 có những phản ứng nào có thể xảy ra?
- Khối lương thanh kim loại giảm, không thay đổi hay tăng tương ứng với trường
hợp phản ứng nào xảy ra?
Giải:
Các phản ứng có thể xảy ra:
Mg + 2Fe(NO3)3 → Mg(NO3)2 + 2Fe(NO3)2 (1)
Mg + Fe(NO3)2 → Mg(NO3)2
+ Fe
(2)
Số mol Fe(NO3)3 là: 0,2x 1 = 0,2 (mol)
a) Khối lượng thanh kim loại giảm:
- TH 1: Chỉ xảy ra phản ứng (1), khối lượng thanh kim loại giảm chính bằng khối
lượng Mg tan ra:
mMg = 1,2 (g).
- TH 2: Fe(NO3)3 phản ứng hết theo pt (1),
số mol Mg tan ra ở pt (1) là:0,2:2 = 0,1(mol) → mMg = 0,1.24 = 2,4 (g)
Vậy khối lượng kim loại tăng lên ở phản ứng (2) là: 2,4 – 1,2 = 1,2 (g)
Gọi số mol Mg phản ứng ở pt (2) là x (mol) thì x < 0,2 , ta có
D. 12,24 g.
Hướng dẫn và giải:
Số mol HNO3 là: 0,4. 1 = 0,4 (mol)
Nếu Fe tan hết trong dd HNO3 theo pt:
Fe + 4HNO3 → Fe(NO3)3 + NO + 2H2O (1)
Theo (1) : m Fe ( NO ) = 0,1(mol ) thì khối lượng muối thu được là:
3 3
0,1 . 242 = 24,2 ( g ) < 26,44 (g) ( trái với giả thiết cho), vậy phải có thêm
phản ứng để làm tăng khối lượng muối, hay nói cách khác phải hoà tan thêm một
lượng sắt là : 26,44 –24,2 = 2,24 (g) theo pt phản ứng:
Fe + 2Fe(NO3)3 → 3Fe(NO3)2 (2)
Do đó giá trị của m là: 0,1 . 56 + 2,24 = 7,84 (g) . Đáp án là a.
Thí dụ 4: Tiến hành 2 thí nghiệm sau:
-Thí nghiệm 1: Cho m gam bột Fe (dư) vào V1 lít dung dịch Cu(NO3)2 1M.
-Thí nghiệm 2: Cho m gam bột Fe (dư) vào V2 lít dung dịch AgNO3 0,1M.
Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, khối lượng chất rắn thu được ở 2 thí
nghiệm đều bằng nhau. Giá trị của V1 so với V2 là:
11
a. V1 = V2
b. V1 = 10V2
c. V1 = 5V2
d. V1 = 2V2
Trước hết, cần hiểu khối lượng dung dịch giảm chính bằng khối lượng của chất
rắn tăng lên mà chất rắn là kim loại.
- GV yêu cầu HS viết pthh: Fe + 2AgNO3 → Fe(NO3)2 + 2Ag
Giả sử Fe phản ứng hết theo phương trình trên thì ta có:
mkl tăng = 0,2. 108 – 5,6 = 16 (g) < 21,4 (g) ( theo đề bài)
Vậy phải xảy ra tiếp phản ứng để lượng kim loại giảm tiếp khối lượng.
HS phát hiện còn phản ứng: Fe(NO3)2 + AgNO3 → Fe(NO3)3 + Ag
Khối lượng Ag thu được ở phản ứng (2) chính là lượng kim loại tăng lên tiếp và
bằng 21,4 – 16 = 5,4 (g) .
Vậy tổng số mol AgNO3 đã phản ứng là: 0,2 + 5,4: 108 = 0,25 (mol) .
12
Nồng độ mol/l của dung dịch AgNO3 là: 0,25 : 0,2 = 1,25(M)
Thí dụ 2: Cho 52 gam Zn và 5,4 gam Al vào 1,6 lít dung dịch CuSO4. Sau khi phản
ứng xảy ra hoàn toàn thì thu được 70,7 gam kim loại. Tính nồng độ mol/l của dung
dịch CuSO4.
Hướng dẫn:
Số mol các chất: nZn = 52/65 = 0,8 (mol) ; nAl = 5,4/27 = 0,2 (mol)
Vì Al có tính khử mạnh hơn Zn nên xảy ra phản ứng:
2Al + 3CuSO4 → Al2(SO4)3
+ 3Cu (1)
Giả sử Al phản ứng hết thì khối lượng kim loại tăng là: 0,3.64 – 5,4 = 13,8 ( g)
Theo đề bài, khối lượng kim loại tăng: 70,7 – 52 – 5,4 = 13,3 (g)
GV để HS chủ động phát hiện ra các trường hợp có thể xảy ra:
Trường hợp 1: Al chưa phản ứng hết, Zn chưa phản ứng.
Gọi số mol Al phản ứng là x ( x >0) , ta có:
Hướng dẫn:
13
GV yêu cầu HS phân tích đề bài, chú ý đề cho sau khi phản ứng kết thúc thu được
chất rắn gồm 2 kim loại. Đó là kim loại nào?
GV yêu cầu HS viết các cặp oxi hóa khử liên quan, từ đó viết được các phản ứng
có thể xảy ra. Kết luận về 2 kim loại: Cu và Fe ( Al phản ứng hết)
Giải:
Số mol các chất: nAl = 1,62 : 27 = 0,06 (mol); nCu2+ = 0,06 (mol) ; nFe3+ = 0,2x
(mol)
Các phản ứng xảy ra:
0, 2 x
3
Mol
2Al
Mol
0,2x
+
0,04
2Al
Mol ( 0,06 -0,04-
3
0, 2 x
(0,06 -0,04)
2
3
Khối lượng của 2 kim loại là:
0,06. 64 +
3
0, 2 x
(0,06 -0,04).56 = 4,96.
2
3
Giải phương trình, ta có: x = 0,1
Dạng 3: Bài toán áp dụng định luật bảo toàn electron
Mục đích: Giúp học sinh tìm được các chất nào đã tham gia phản ứng hết, từ đó
biện luận theo phương pháp bảo toàn electron, tìm nhanh kết quả bài toán.
Thí dụ 1: Cho hỗn hợp gồm 7,2 g Mg và 19,5 g Zn vào 200ml dung dịch chứa
Cu(NO3)2 1M và Fe(NO3)2 1,5 M. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được
dung dịch và m gam chất rắn. Giá trị của m là:
a. 42,6 g
b. 29,6 g
c. 32,0 g
d. 36,1 g.
Nếu hỗn hợp 2 muối phản ứng hết thì tổng số mol e nhận vào là:
0,2.2 + 0,3.2 = 1,0 ( mol)
Mà trong hệ phản ứng oxi hoá khử, số mol e nhường = số mol e nhận.
Vậy hỗn hợp 2 muối phản ứng hết, hỗn hợp kim loại còn dư.
Do Mg có tính khử mạnh hơn Zn nên Mg sẽ phản ứng trước và hết, số mol e của
Zn nhường đi khi phản ứng là: 1,0 – 0,3.2 = 0,4 (mol). Vậy số mol Zn còn dư là:
0,3 - 0,4/2 = 0,1 (mol).
Vậy giá trị của m là: m = m Cu + mFe + mZn dư = 36,1 (g). Chon đáp án d.
Thí dụ 2: Cho 0,03 mol Al và 0,05 mol Fe tác dụng với 100ml dung dịch A chứa
Cu(NO3)2 và AgNO3 . Sau phản ứng thu được dung dịch A’ và 8,12 g chất rắn B
gồm 3 kim loại. Cho chất B tác dụng với dd HCl dư được 0,672 lít H 2 . Các thể tích
đo ở đktc, các phản ứng xảy ra hoàn toàn. Tính nồng độ mol/l của Cu(NO 3)2 và
AgNO3 trong dung dịch A.
Hướng dẫn:
- Chất rắn B gồm 3 kim loại, đó là những kim loại nào? ( HS phải so sánh được tính
khử, tính oxi hoá các chất rút ra được chất rắn có Cu, Ag và Fe dư)
15
- Dung dịch HCl trong trường hợp này là chất oxi hoá .
- Có thể coi hệ chất gồm: Chất khử là Al và Fe. Chất oxi hoá là Cu2+, Ag+ , H+
Sau đó áp dụng định luật bảo toàn electron để lập phương trình đại số.
Giải:
Gọi số mol AgNO3, Cu(NO3)2 trong dung dịch lần lượt là a, b mol ( a,b > 0)
Số mol khí H2 là: 0,672 : 22,4 = 0,03 ( mol) → nFe dư = 0,03 ( mol)
Các quá trình oxi hoá :
Các quá trình khử:
→ Al3+ + 3e
Khối lượng chất rắn B là: 108a + 64b + 0,03.56 = 8,12 (2).
Giải hệ phương trình gồm (1) và (2) ta có: a = 0,03 ; b= 0,05.
Vậy nồng độ mol/l của các dung dịch AgNO3, Cu(NO3)2 là:
CM (AgNO3) = 0,03: 0,1 = 0,3 M.
CM(Cu(NO3)2) = 0,05 : 0,1 = 0,5M.
Thí dụ 3: Cho hỗn hợp gồm 2,7 gam Al và 5,6 gam Fe vào 550 ml dung dịch
AgNO3 1M. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được m gam chất rắn. Giá
trị của m là: ( biết thứ tự trong dãy thế điện hoá Fe3+/Fe2+ đứng trước Ag+/Ag)
A. 59,4
B. 64,8.
C. 32,4
D. 54,0
Hướng dẫn:
Vì đề bài cho lượng các chất, thứ tự dãy điện hoá nên có thể giải theo phương pháp
bảo toàn electron so sánh số e nhường và nhận để xem chất nào hết.
Giải:
- Số mol các chất: nAl = 0,1 (mol); nFe = 0,1 (mol); nAg+ = 0,55 (mol)
- Các quá trình xảy ra: Al → Al3+ + 3e
mol
0,1
0,3
1) Cho E 0 Ag
+
/ Ag
= +0,8V ; E 0 Cr 3+ / Cr = −0,74V ; E 0 Mg 2 + / Mg = −2,34V .
Tính E0pin tạo bởi 2 cặp oxi hoá khử trên và viết phương trình phản ứng xảy ra khi
pin hoạt động tự phát.
2) Cho 20,7 g Pb và 2,7 g Al vào 800ml dung dịch AgNO 3. Sau khi phản ứng xảy
ra hoàn toàn thu được chất rắn có khối lượng 53,55g. Tính nồng độ mol/l của dung
dịch AgNO3.
3) Cho 6,596 g hỗn hợp Mg và Zn tác dụng với dung dịch H 2SO4 loãng, dư thu
được 2,3296 lít khí H2 ở đktc. Mặt khác, 13,192 g hỗn hợp trên tác dụng với 100ml
dung dịch CuSO4 thu được 13,352 g chất rắn Y. Tính nồng độ mol/l của dung dịch
CuSO4.
4) Cho hỗn hợp gồm 25,6 g Cu và 23,2 g Fe 3O4 tác dụng với 400ml dung dịch HCl
2M cho đến khi phản ứng hoàn toàn thu được dung dịch A và chất rắn B. Cho dung
dịch A phản ứng với dung dịch AgNO3 dư tách ra được kết tủa D. Tính khối lượng
kết tủa D.
5) Cho 7,02 g hỗn hợp bột kim loại gồm Al, Fe, Cu vào bình A chứa dung dịch HCl
dư, còn lại chất rắn B. Lượng khí thoát ra được dẫn qua một ống chứa CuO dư
nung nóng, thấy làm giảm khối lượng của ống đi 2,72 g. Thêm vào bình A lượng
17
dư muối NaNO3, đun nóng nhẹ, thu được 0,896 lít (đktc) chất khí không màu, hoá
nâu trong không khí. Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp ban đầu.
6) Cho hỗn hợp Fe, Cu vào dung dịch AgNO3 dư đến khi phản ứng hoàn toàn. Cho
18
Kết quả khảo sát học sinh:
Lớp
Tổng
12A1 ( áp dụng đề tài)
31
12A2 ( không áp dụng đề tài)
32
số HS
Kết quả khảo sát
Giỏi
10 ( 32,26%)
5 ( 15,63%)
Khá
16 ( 51,61%)
16 ( 50,00%)
TB
bài tập ngắn, nhưng học sinh hay bị mắc lỗi khi không phát hiện hết các trường hợp
có thể xảy ra. Trong thời gian thực hiện đề tài và áp dụng trong giảng dạy, tôi đã
thu được một số kết quả sau:
1) Về phía học sinh:
- Củng cố được kiến thức cơ bản về dãy điện hoá của kim loại.
- Biết vận dụng kiến thức về dãy điện hoá của kim loại, vận dụng các định luật hoá
học để chủ động giải quyết bài tập về dãy điện hoá của kim loại.
- Đa số học sinh tích cực, có hứng thú với môn học, nắm được kiến thức một cách
có hệ thống.
2) Về phía giáo viên:
- Sử dụng các bài tập trong các tiết luyện tập, ôn tập , ôn thi đại học.
- Khi nghiên cứu đề tài, bản thân tôi đã phải đọc nhiều tài liệu, tham khảo ý kiến
các đồng nghiệp, tìm cách giải quyết các bài tập theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu,
đồng thời phân loại các bài tập giúp bản thân nắm kiến thức một cách có hệ thống.
Từ đó, giúp tôi nâng cao được trình độ chuyên môn, tạo sự say mê trong nghề
nghiệp.
- Rèn luyện cho giáo viên có kỹ năng, phương pháp giải bài tập ngắn gọn, dễ hiểu,
thuyết phục được học sinh.
Tuy nhiên đề tài của tôi còn hạn chế là chưa tổng hợp được nhiều dạng bài tập
khác về dãy điện hoá của kim loại . Do đó, nội dung phương pháp còn chưa bao
quát hết nên sau khi áp dụng, khi học sinh gặp phải các dạng khác còn lúng túng
khi giải quyết bài tập. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp để trong
thời gian tới tôi sẽ hoàn thiện đề tài nhằm đạt hiệu quả cao hơn.
20
---------------HẾT-----------------
Tài liệu tham khảo:
1) Sách giáo khoa Hoá học 12 nâng cao, Hoá học 12 cơ bản ( NXB Giáo dục)
II.3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
6
II.4. Hiệu quả của đề tài
18
III. Kết luận
20
22