SKKN bvkỹ năng nhậ dạng và giải quyết vấn đề đối với bài thi học sinh giỏi quốc gia môn địa lý - Pdf 32

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

PHẦN I : MỞ ĐẦU

I. Tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài

2

II. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

2

III. Mục đích nghiên cứu

3

IV. Đối tượng và phạm vi áp dụng

3

V. Hiệu quả áp dụng của đề tài.

3

PHẦN II : NỘI DUNG
I. Các dạng câu hỏi lý thuyết.

4


16

4. Làm việc với lát cắt địa hình.

18

5. Bài tập tính toán

19
PHẦN III : KẾT LUẬN

21

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

21

1


KĨ NĂNG NHẬN DẠNG VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ĐỐI VỚI BÀI THI HỌC
SINH GIỎI QUỐC GIA MÔN ĐỊA LÍ.
PHẦN I : MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài
Từ năm học 2007- 2008 đến nay, đề thi học sinh giỏi quốc gia môn Địa lý gồm 7
câu hỏi với khoảng 14 ý phải trả lời. Nội dung kiến thức và kỹ năng trong thi quốc gia
đòi hỏi học sinh cũng ngày càng cao. Đây thực sự là một thách thức đối với học sinh và
giáo viên đứng đội tuyển.
Là giáo viên đã có một số năm tham gia bồi dưỡng đội tuyển, tôi thấy bên cạnh

IV. Đối tượng và phạm vi áp dụng
Giáo viên và học sinh đội tuyển môn địa lý ở trường THPT chuyên Lào Cai và
các trường THPT trên địa bàn tỉnh.
V. Hiệu quả áp dụng của đề tài.
Việc trang bị cho học sinh đội tuyển kĩ năng nhận dạng câu hỏi khi phân tích đề
đã góp phần duy trì và nâng cao kết quả đội tuyển môn địa lí những năm học qua.
Số lượng giải quốc gia môn địa lí trường THPT Chuyên đã đạt trong những năm
học vừa qua.
Bảng 2: kết quả bồi dưỡng HSG môn địa lý trường THPT chuyên Lào Cai các năm
2003-

2004-

2005-

2006-

2007-

2008-

2009-

2010-

2011-

2012-

2004

5

6

7

9

11

10

Số HSG
Quốc gia

2

2

2

2

1

2

2

4

sao nhiệt độ trung bình năm trên Trái Đất không giảm liên tục từ Xích đạo về hai cực?”,
năm 2011: “Giải thích tại sao các hoạt động dịch vụ ở nước ta phân bố không đều”
Mẫu giải thích dựa trên khái niệm như đề thi năm 2010: “Theo khái niệm về các
hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp, có thể coi tỉnh Quảng Ninh là trung tâm công
nghiệp than được không”, năm 2011: “Theo khả năng bị hao kiệt trong quá trình sử
dụng của con người, xếp nước vào loại tài nguyên có thể bị hao kiệt được không? Tại
sao?”
Loại câu hỏi giải thích có cách giải không theo mẫu cố định khá khó, tùy theo yêu
cầu của câu hỏi phải đưa ra cách giải thích phù hợp. Có thể lấy ví dụ như trong đề thi
năm 2010: “Tại sao cần phải chú trọng đầu tư hơn nữa đối với việc phát triển kinh tế xã

4


hội ở các vùng dân tộc ít người?”, năm 2008: “Tại sao trong việc khai thác nông nghiệp
theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ, vấn đề thuỷ lợi có ý nghĩa hàng đầu?”
* Cách giải.
Loại câu hỏi giải thích có cách giải theo mẫu cố định về các nhân tố ảnh hưởng.
Cách giải loại câu hỏi này chỉ cần dựa vào kiến thức đã có về các nhân tố ảnh hưởng. Về
lí thuyết đây là kiến thức cơ bản đã được học trong sách giáo khoa. Trên cái nền chung
về các nhân tố ảnh hưởng nếu nhân tố nào giữ vai trò quyết định thì trả lời đầu tiên rồi
đến các nhân tố khác, nhân tố nào không liên quan thì không trình bày.
Ví dụ: đề thi năm 2011 “Giải thích tại sao các hoang mạc và bán hoang mạc
thường phân bố từ khu vực 200 đến 400 vĩ Bắc và Nam”. Giải thích dựa vào các nhân tố
ảnh hưởng đến lượng mưa (nguyên nhân hình thành hoang mạc do ít mưa): có 5 nhân tố
ảnh hưởng đến lượng mưa là khí áp, frong, gió, dòng biển, địa hình. Trong trường hợp
này chỉ có 2 nhân tố ảnh hưởng là khí áp và gió (khí áp cao, dòng biển lạnh) không trình
bày các nhân tố còn lại.
Loại câu hỏi theo mẫu khái niệm: cần dựa vào các khái niệm cụ thể để giải thích.
Ví dụ đề thi năm 2010: “Theo khái niệm về các hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp,

đây có thể hiểu là một đối tượng địa lý tự nhiên hoặc kinh tế xã hội tương đối hoàn
chỉnh như vùng hay miền địa lý tự nhiên, vùng thuộc lĩnh vực địa lí kinh tế xã hội (vùng
chuyên canh, vùng kinh tế) hoặc ngành kinh tế cũng như một nội dung trọn vẹn nào đó
về dân cư. Với các chỉnh thể này việc so sánh cần phải đa chiều, toàn diện.
Ví dụ như đề thi năm 1999: “So sánh hai vùng chuyên canh cây công nghiệp
Đông Nam bộ và Trung du miền núi phía Bắc?”, năm 2010: “So sánh việc phát triển
tổng hợp kinh tế biển của Đông Nam Bộ với Duyên hải Nam Trung Bộ?”
Thứ hai, về loại câu hỏi so sánh một bộ phận của hai hay nhiều chỉnh thể. Yêu cầu
của nó đòi hỏi sự so sánh không phải toàn bộ chỉnh thể mà là một bộ phận nào đó của
các chỉnh thể với nhau. Dạng câu hỏi này bao trùm cả phần địa lý tự nhiên và địa lý kinh
tế xã hội. Ví dụ như đối với địa lý tự nhiên Việt Nam thì các bộ phận đó là thành phần tự
nhiên, đặc điểm tự nhiên, thế mạnh và hạn chế của thiên nhiên giữa các vùng. Đối với
6


Địa lý kinh tế xã hội, các bộ phận có thể gặp là thế mạnh, nguồn lực, tình hình phát
triển, cơ cấu, phân bố...
Ví dụ như đề thi năm 2008: “So sánh đặc điểm sông ngòi miền Bắc và Đông Bắc
Bắc Bộ với miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ?”, đề thi năm 2011: “So sánh thế mạnh tự
nhiên để phát triển nông nghiệp ở Trung du, miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên?”
* Cách giải
Dù so sánh chỉnh thể hay bộ phận thì đều phải qua quy trình gồm 3 bước. Bước 1:
Tìm sự giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng cần phải so sánh. Bước thứ nhất
được coi là quan trọng và không thể thiếu được trong quy trình xử lý câu hỏi. Tuy nhiên
ý nghĩa của nó chỉ giới hạn ở việc định hướng cách giải (tìm sự giống nhau và khác biệt,
hoặc chỉ 1 trong 2). Tránh trường hợp không hiểu câu hỏi các thí sinh lần lượt trình bày
theo kiểu thuộc bài. Bước 2: Xác định các tiêu chí để so sánh. Đây là bước có ý nghĩa
quyết định đến chất lượng bài thi vì trình bày sự giống nhau và khác nhau theo các tiêu
chí giúp cho bài làm trở nên mạch lạc và giảm thiểu việc bỏ sót ý. Muốn xác định tương
đối chính xác các tiêu chí để so sánh cần phải biết hệ thống hóa kiến thức đã học. Mặt

phận nào thì phải tìm tiêu chí so sánh cho bộ phận ấy. Đối với câu hỏi so sánh nguồn
lực, trước hết phải nắm chắc khái niệm. Thế mạnh, nguồn lực bao gồm thế mạnh nguồn
lực về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội. Tuy nhiên cần lưu ý, đối với các
câu hỏi yêu cầu so sánh thế mạnh để phát triển một ngành nào đó giữa hai hay nhiều
vùng, bên cạnh tiêu chí vị trí địa lý, có thể bổ sung thêm tiêu chí quy mô hay vai trò của
vùng. Nếu câu hỏi yêu cầu so sánh thế mạnh thì chỉ tập trung phân tích lợi thế mà không
cần đề cập đến hạn chế. Ngược lại, khi so sánh nguồn lực thì nêu cả thế mạnh lẫn hạn
chế. Khi so sánh về yếu tố tự nhiên như địa hình cần nêu về độ cao, hướng sườn, độ dốc,
hướng nghiêng, …; đối với khí hậu thì nêu chế độ nhiệt, chế độ mưa, …
3. Dạng chứng minh
* Phân loại
So với các câu hỏi giải thích và so sánh thì dạng câu hỏi chứng minh học sinh
thường dễ làm hơn vì nó chủ yếu yêu cầu các em hệ thống hóa lại kiến thức và số liệu
8


liên quan đến câu hỏi. Dạng câu hỏi chứng minh bao gồm: chứng minh hiện trạng và
chứng minh tiềm năng.
Đối với dạng câu hỏi chứng minh tiềm năng. Ví dụ về dạng câu hỏi chứng minh
tiềm năng như trong đề thi năm 2009: “Chứng minh Trung du và miền núi Bắc Bộ có
nhiều khả năng để phát triển công nghiệp”
Trong dạng câu hỏi chứng minh hiện trạng, hiện trạng ở đây bao gồm tất cả các
hiện tượng tự nhiên, dân cư, kinh tế xã hội. Loại câu hỏi này yêu cầu cao hơn so với
dạng chứng minh tiềm năng vì thường cách giải loại câu hỏi này nhìn chung không theo
một mẫu nhất định. Câu hỏi yêu cầu như thế nào thì phải đưa ra bằng chứng chứng minh
như thế đó. Ví dụ như trong đề thi năm 2008: “Chứng minh Đông Nam Bộ là vùng
chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất cả nước?”, năm 2002: “Chứng minh rằng ngay
trong vùng kinh tế Nam Trung Bộ khí hậu cũng có sự phân hoá đa dạng?”
* Cách giải
Đối với loại câu hỏi chứng minh hiện trạng. Cách giải loại câu hỏi này nhìn chung

hoạt động xuất nhập khẩu trong sự phân công lao động theo lãnh thổ?”, năm 2010:
“Phân tích mối quan hệ về phân bố của các vòng đai nhiệt và các đai khí áp trên Trái
Đất”
Cách giải
Các bước làm như sau: thứ nhất là nhận dạng câu hỏi, thứ hai là tái hiện kiến thức
đã học và trả lời theo yêu cầu câu hỏi. Bước này nảy sinh hai trường hợp. Trường hợp
thứ nhất câu hỏi yêu cầu sử dụng kiến thức cơ bản thuần túy dưới góc độ thuộc bài.
Trường hợp thứ hai, ngoài yêu cầu về kiến thức cơ bản còn yêu cầu phải tổng hợp, lựa
chọn nhiều kiến thức.
Ví dụ trong đề thi năm 2010: “Phân tích mối quan hệ về phân bố của các vòng đai
nhiệt và các đai khí áp trên Trái Đất”, trong câu hỏi này trước hết các em cần trình bày
kiến thức cơ bản thuần tuý về sự phân bố của các vòng đai nhiệt và các đai khí áp trên
Trái Đất, sau đó các em phải biết tổng hợp kiến thức để xác lập mối liên hệ giữa 2 đối
10


tượng này xem đối tượng nào có tính chất quyết định đến đối tượng nào (sự phân bố các
đai khí áp gắn liền, phụ thuộc với sự phân bố các vòng đai nhiệt).
Vì câu hỏi trình bày chủ yếu yêu cầu học sinh tái hiện lại kiến thức nên trong các
đề thi học sinh giỏi quốc gia dạng câu hỏi trình bày thường gắn liền với câu hỏi giải
thích để trên cơ sở học sinh tái hiện lại kiến thức, sau đó các em phải tư duy để lí giải sự
vật hiện tượng địa lí, hiểu rõ bản chất của vấn đề. Hầu như năm nào trong đề thi học sinh
giỏi quốc gia cũng có những câu trình bày gắn liền với giải thích trên cơ sở sử dụng
Atlat và kiến thức đã học. Ví dụ như đề thi năm 2002: “Trình bày và giải thích về tình
hình phát triển cây công nghiệp lâu năm ở nước ta?”, năm 2003: “Trình bày đặc điểm
địa hình của miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ? Hãy giải thích vì sao có những đặc điểm
đó?” …
II. Các dạng câu hỏi thực hành.
Các dạng câu hỏi bài tập chủ yếu liên quan đến kĩ năng sử dụng kênh hình (Atlat
Địa lí Việt Nam, bảng số liệu, lược đồ, sơ đồ, hình vẽ, lát cắt) và kĩ năng tính toán trong

- Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy phân tích sự phát triển
công nghiệp hàng tiêu dùng?
- Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy so sánh thế mạnh tự
nhiên để để phát triển nông nghiệp ở Trung du và miền núi Bắc Bộ với Tây Nguyên?
Ở đề thi học sinh giỏi quốc gia năm 2009 cũng có đến 5 câu:
- Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy nhận xét và giải thích
chế độ mưa ở nước ta?
- Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy nhận xét và giải thích sự
khác nhau về địa hình giữa vùng núi Trường Sơn Bắc và vùng núi Trường Sơn Nam?
- Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy nhận xét và giải thích sự
phân bố dân cư ở Đồng bằng sông Hồng?
- Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy nhận xét và giải thích sự
phân bố trâu, bò, lợn ở nước ta?
12


- Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy chứng minh Trung du
và miền núi bắc Bộ có nhiều khả năng để phát triển công nghiệp?
Đối với các câu hỏi liên quan đến Atlat, qui trình khai thác gồm 3 bước:
Bước 1: Tái hiện kiến thức đã có cần khai thác thác liên quan đến Atlat. Về bản
chất, có thể coi atlat là một cuốn sách giáo khoa địa lí Việt Nam được thể hiện bằng
kênh hình (chủ yếu là bản đồ).
Bước 2: Tìm các trang thích hợp với yêu cầu của câu hỏi (có thể là một trang hoặc
cũng có thể là nhiều trang - từ hai trang trở lên)
Bước 3: Trả lời theo yêu cầu của câu hỏi. Lưu ý phải kết hợp giữa kiến thức đã có
trong sách giáo khoa với Atlat vì nếu chỉ dựa vào một trong hai cơ sở sẽ không cho phép
trình bày kiến thức một cách đầy đủ. Ví dụ dựa vào atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã
học hãy phân tích đặc điểm đất của miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Những kiến thức
có thể khai thác từ Atlat là Nam trung bộ và Nam Bộ có nhiều loại đất khác nhau
(feralit, phù sa, ..), phân bố cụ thể của từng loại đất. Nhưng nếu không kết hợp với kiến

24,2

13,5

11,4

Châu Mĩ

1,9

5,4

13,7

13,7

Châu Phi

15,1

9,1

12,1

13,8

Toàn thế giới

100,0



9214

4310

2000

21777

13901

7876

2004

34030

15026

19004

Nhận xét và giải thích sự phát triển ngành thuỷ sản của nước ta theo bảng số liệu
trên?
Đọc bảng số liệu về bản chất là phân tích, so sánh các số liệu theo hàng ngang và
cột dọc, rút ra các nhận xét cần thiết. Việc phân tích nhìn chung không phức tạp nhưng
các em thường không nêu đầy đủ các nhận xét cần thiết. Để không bị sót ý, khi phân
tích bảng số liệu cần tiến hành theo qui trình sau:
Bước 1: Phân tích câu hỏi, làm rõ yêu cầu, phạm vi cần phân tích, nhận xét, phát
hiện những yêu cầu chủ đạo để tập trung làm rõ, nếu không xác định được yêu cầu chủ
đạo thì dễ bị lạc đề. Ví dụ cho bảng số liệu tuyệt đối về diện tích trồng mía phân theo


Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Công nghiệp và xây dựng

Dịch vụ

1990

16252

9513

16190

1995

62219

65820

100853

1996

75514

80876

115646

2/ Lựa chọn một dạng biểu đồ thích hợp nhất và giải thích tại sao có sự lựa chọn
này.
3/ Vẽ biểu đồ đã được lựa chọn.
Đối với dạng bài yêu cầu từ bảng số liệu vẽ biểu đồ thích hợp nhất, trước hết cần
lưu ý đến chức năng của biểu đồ để dễ dàng chọn lựa. Ví dụ biểu đồ tròn, miền có ưu thế
thể hiện cơ cấu, biểu đồ đường có ưu thế thể hiện tốc độ, … Thứ hai cần biết thế nào là
biểu đồ thích hợp nhất: là biểu đồ đáp ứng hai điều kiện (thể hiện chính xác bảng số liệu
theo yêu cầu và có tính trực quan cao nhất). Thứ ba, vẽ biểu đồ cần chính xác, rõ ràng,
có chú giải và đảm bảo tính mĩ thuật.
3. Làm việc với sơ đồ, lược đồ, hình vẽ địa lí.
Sơ đồ, lược đồ hay hình vẽ, tranh ảnh địa lí bản thân chúng chứa đựng nguồn tri
thức địa lí quan trọng, đồng thời nó cũng là phương tiện để minh hoạ cho đối tượng địa
lí cần làm rõ. Các câu hỏi làm việc với sơ đồ, lược đồ, hình vẽ rất đa dạng như phân tích,
điền, xác định đặc điểm nhận dạng, giải thích, …
* Câu hỏi làm việc với lược đồ khá khó, yêu cầu học sinh làm việc với tranh ảnh
theo kiểu ngược (từ hình nêu hiện tượng địa lí và giải thích). Những dạng yêu cầu này
đòi hỏi phải nắm vững kiến thức địa lí được thể hiện trên hình, đồng thời phải có kĩ năng
quan sát, phân tích để rút ra các nhận xét theo yêu cầu của câu hỏi.
- Năm 2000 (Bảng A): Cho lược đồ khí hậu tháng 1
Quan sát lược đồ khí hậu tháng 1 trên, hãy
+ Cho biết lượng mưa của các nhóm vùng: a và a’; b, b’và b’’; c, c’ và c’’
+ Giải thích tình hình mưa của từng vùng a, a’, b, b’, b’’, c, c’, c’’
- Năm 1999: Dựa vào lược đồ hãy:
16


a/ Cho biết lược đồ của tháng nào? Mùa nào? Giải thích vì sao là lược đồ của mùa
đó?
b/ Điền vào lược đồ những vùng có mưa trong thời gian đó.
* Câu hỏi với sơ đồ như đề thi học sinh giỏi quốc gia năm 2008, năm 2003 (bảng

- Năm 2005 (Bảng A):
1/ Sử dụng bản đồ các tự nhiên (miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ) của Atlat địa lí
Việt Nam, vẽ lát cắt địa hình thẳng từ biên giới Việt Nam – Campuchia qua TP. Buôn
Ma Thuột, núi Vọng phu tới bờ Đông bán đảo Hòn Gốm theo tỉ lệ ngang 1: 2000000, tỉ
lệ đứng 1: 100000
2/ Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam, hãy phân tích đặc điểm tự nhiên dọc theo lát
cắt này.
- Năm 2007: Dựa vào Atlat địa lí Việt Nam và kiến thức đã học hãy:
a/ Nêu ý nghĩa của lát cắt địa hình từ Tp. Hồ Chí Minh đến Đà Lạt.
18


b/ Trình bày đặc điểm địa hình, thuỷ văn, đất và thực vật dọc theo lát cắt trên.
Qui trình chuyển hình thái địa hình theo lát cắt cần vẽ từ bản đồ lên giấy vẽ theo
tỉ lệ như sau:
Bước 1: tỉ lệ dùng bút chì kẻ trên bản đồ đường thảng AB dọc theo lát cắt cần vẽ.
Áp rìa của một băng giấy trắng sát đường cắt AB, đánh dấu hai điểm A, B và tấ cả các
điểm cần chuyển lên lát cắt (các đường bình độ, hoặc ranh giới độ cao bằng màu sắc, các
dạng địa hình, các con sông, đỉnh núi) ghi kèm theo độ cao của chúng. Đường cắt có thể
đi qua nhiều đối tượng, nên để tránh rườm rà không nên đánh dấu tất cả, chỉ cần chọn
một số đối tượng nổi bật, có tác dụng như những mốc định hướng khi phân tích lát cắt.
Bước 2: chọn tỉ lệ nếu đề bài chưa cho tỉ lệ. Tỉ lệ thì phải đảm bảo cho hình vẽ lát
cắt vừa với khổ giấy, làm nổi bật được độ cao thấp của địa hình và tương đối đúng với
thực tế. Cần chọn cả tỉ lệ đứng và ngang. Tỉ lệ ngang có thể giữ nguyên theo tỉ lệ của
bản đồ, tỉ lệ đứng thông thường được tăng lên nhiều lần so với tỉ lệ ngang để thể hiện rõ
độ cao thấp của địa hình. Muốn tăng hoặc giảm tỉ lệ lát cắt chúng ta sử dụng phương
pháp rút gọn tỉ lệ theo tam giác đồng dạng.
Bước 3: Tiến hành vẽ. Đặt áp rìa băng giấy đã chỉnh lí theo tỉ lệ trên vào đường kẻ
AB trên bản vẽ, đánh dấu vào bản vẽ các điểm chấm đã ghi trên rìa băng giấy. Từ các
điểm chấm đó, kẻ các đoạn thẳng đứng với AB có độ như đã ghi dưới các dấu chấm ở

Huế

16026’B
10047’B

Giang)
Lạng Sơn

21050’B

TP. Hồ Chí Minh

Hà Nội

21002’B

Xóm

Mũi

(Cà 8034’B

Mau)
* Công thức tổng quát tính góc tới tại các địa điểm có vĩ độ khác nhau:
h0 = 900 - ϕ ± α
Trong đó h0 là góc tới, ϕ là vĩ độ của địa điểm cần tính và α là góc nghiêng của tia sáng
Mặt trời với mặt phẳng Xích đạo (dao động từ 00 đến 23027’B và từ 00 đến 23027’N)
- Tính toán dựa trên sự biến đổi công thức cho trước như đề thi năm 2006 yêu cầu
tính kinh độ, vĩ độ địa lí biến đổi từ công thức tính góc tới của Mặt Trời.
Hãy xác định toạ độ địa lí của thành phố A (trong vùng nội chí tuyến) biết rằng độ

Đức Vũ- PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ.
2. Hướng dẫn ôn thi học sinh giỏi môn địa lí. GS.TS. Lê Thông (Chủ biên);
PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ - Bùi Thị Nhiệm- Vũ Thị Hải Yến.

21


Lào cai tháng 4 năm 2014

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status