Câu 1:
Hãy trình bày những thành tựu về Nghệ thuật - Kiến trúc của nền văn minh
phương Đông cổ trung đại? (10 điểm)
1. Ai Cập (2đ):
+ Kiến trúc: Người Ai Cập đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc như đền đài, cung
điện, kim tự tháp nổi tiếng làm người phải kinh ngạc và cúi đầu trước cái uy nghi hùng vĩ,
biểu hiện quyền lực vô biên của thần và của nhà vua. Trong kiến trúc, nỗi bật nhất là các
kim tự tháp. Cho đến nay, người ta đã phát hiện được trên 70 kim tự tháp, chủ yếu là ở
khu vực phía bắc Ai Cập, gần thủ đô Cairo nằm ở phía tây sông Nile.
Việc xây dựng lăng mộ được các Pharaon từ vương triều III chú ý. Kim tự tháp
Djoser, do kiến trúc sư Imhotép xây dựng, là kim tự tháp đầu tiên. Tới vương triều IV,
kim tự tháp được xậy dựng nhiều nhất, quy mô và kết cấu hoàn chỉnh, kĩ thuật tinh xảo và
nghệ thuật trang trí đạt tới trình độ cao. Nỗi bật nhất là kim tự tháp của Kheops có chiều
cao 148m, phải mất 30 năm mới xây dựng xong.
+ Điêu khắc: Ngoài việc xây dựng lăng mộ, người Ai Cập còn đạt tới trình độ cao về
điêu khắc. Đặc biệt là tượng Sphinx (nhân sư) ở gần kim tự tháp Khéphren, mình sư tử,
đầu vua Khéphren, ý muốn ca ngợi vua không những có trí tuệ của loài người mà còn có
sức mạnh của sư tử.
+ Nghệ thuật tạo hình thời Trung và Tân vương quốc phát triển. Thời Trung vương
quốc có rất nhiều tượng nổi khắc trên tường đá và những bức tranh vẽ trên tường mộ.
Thời Tân vương quốc đã để lại một tác phẩm điêu khắc xuất sắc nhất của nghệ thuật Ai
Cập là những tượng nữ thần Neferti.
Những công trình kiến trúc, điêu khắc trên là kết quả của quá trình lao động, là đỉnh
cao của sự sáng tạo của con người ở lưu vực sông Nile.
2. Lưỡng Hà (2đ):
Nổi bật nhất trong nghệ thuật kiến trúc của Lưỡng Hà là thành Babylone và khu
vườn treo Babylone được xây dựng trong thời kỳ trị vì của Nabuchodonosor – quốc
vương tân Babylone, sau này được coi là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại.
- Vườn treo Babylone: được xây dựng kề bên cung điện của vua Nabuchodonosor.
Tương truyền khu vườn thượng uyển độc đáo này được Nabuchodonosor xây dựng để
chiều ý vương hậu sủng ái của ông vốn là cồn chúa xứ Mèdes, xứ sở của núi rừng, cây,
+ Hội họa: Từ thời đại đồ đá mới, người Trung Quốc đã từng biết dùng màu sắc để
trang trí.
- Cách đây 2000 năm, đã xuất hiện những bắc tranh lụa như “Phượng quỳ mỹ nữ” và
“Nhân vật Ngự Long” cho thấy hội họa Trung quốc đã dạt trình độ cao.
- Từ đời Hán trở về sau, hội họa Trung Quốc ngày càng phát triển, chất liệu để vẽ đa
dạng (Lụa, đất nung, tượng đá, tường…). Nổi tiếng là tranh lụa thời hán, tranh Phật thời
Ngụy, Tấn, Nam - Bắc triều. Cố Khải Chi với những bức “Nữ sử châm đồ”, “Lạc thần
phú đồ”… là mẫu mực về họa pháp. Tranh vẽ người thời Đường đạt đến đỉnh cao như
tranh của Thánh họa Ngô Đạo Tử. Thời Minh - Thanh tranh sơn thủy, mai, lan, trúc,
thạch, cỏ cây... được thể hiện nhiều.
- Về lí luận hội họa: “Lục pháp luận” của Tạ Hách tổng kết kinh nghiệm sáng tác từ
đời Hán đến đời Tùy, “Khổ qua hòa thượng họa ngữ lục” của Thạch Thọ (Minh - Thanh)
viết về lịch sử hội họa rất nổi tiếng.
+ Điêu khắc:
Trung quốc có một nền nghệ thuật điêu khắc từ rất sớm (ngọc điêu có cách đây 6000
năm, sớm nhất thế giới), và rất phong phú về cách thể hiện (điêu khắc trên ngà voi, trên
gỗ, gạch đá...). Thạch điêu là một ngành nghệ thuật nổi tiếng đã để lại những công trình
vô giá như cặp tượng “Tần Ngẫu” đời Tần, “Lạc sơn Đại Phật” đời Tây Hán là pho tượng
lớn nhất hành tinh, tượng phật “Nghìn mắt nghìn tay” và 500 vị La Hán “Vạn Tự Bi” có
39 vạn chữ thời Tống...
+ Kiến trúc:
Trung Quốc là nước có nền kiến trúc phát triển rực rỡ với nhiều công trình độc đáo,
có tầm cỡ quốc tế. Thời Cổ-Trung đại, lịch sử phát triển kiến trúc Trung Quốc được chia
làm 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn mang một nét đặc trưng riêng. Có những công trình kiến
trúc nỗi tiếng như: Thành Trường An, Vạn Lí Trường Thành, chùa Phật Quang ở Ngũ Đài
Sơn, tháp chùa Giang Thiên trên ngọn Kim Sơn, thành phố Lạc Dương, Điện Màu Ni (Hà
Bắc), Cổ Cung, Viên Minh Viên, Tử Cấm Thành....
Câu 2:
số thập phân thứ 10, đi trước thế giới 1000 năm.
+ Thiên văn học: Để phục vụ sản xuất nông nghiệp, thiên văn học ra đời rất sớm.
Đời nhà Thương (cách đay 3000 năm) người ta đã ghi chép đúng về hiện tượng nhật thực,
nguyệt thực. Bộ sách “Cam Thạch kinh tinh” thời Chiến Quốc là sách ghi chép về các
hành tinh sớm nhất thế giới. Người Trung Quốc đã biết chế tạo ra nhiều dụng cụ để đo
bóng Mặt Trời tính lịch (Thổ Khuê), đo động đất (Hồn thiên nghi)…
+ Lịch pháp: Từ thời Ngũ đế, người Trung Quốc đã biết làm lịch,đến nhà Hạ, người
ta làm lịch dựa trên sự vận hành của Mặt Trăng (gọi là Hạ lịch, hay âm lịch) nay vẫn dùng
ở cả Trung Quốc và Việt Nam. Thời Tây Hán, Tư Mã Thiên và những người khác soạn ra
“Lịch Thái Sơ” nỗi tiếng (chỉ ra chu kì nhật thực là 135 tháng, chia một năm ra 24 tiết…)
có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Năm 1230, Quách Thủ Kính (đời
Nguyên) soạn ra “Thụ Thời lịch”. Chia một năm ra 365,2425 ngày đi trước nhân loại rất
xa về cách tính lịch.
+ Nông học: Nghề trồng trọt có cách đây khoảng 7000 năm, bên cạnh trồng ngũ cốc,
còn trồng dâu, chè… “Trà kinh” của Lục Dã là sách đầu tiên trên thế giới viết về trà. Giả
Hiệp với cuốn “Tề dân yếu thuật” viết về trồng trọt và chăn nuôi sớm nhất thế giới… Từ
Quang Khải (nhà Minh) viết cuốn “Nông chính toàn thư” trên 50 vạn chữ, lí giải tường
tận mọi mặt của nghề nông được xem là đỉnh cao của sự am hiểu về nền nông học cổ đại
Trung Quốc.
+ Y dược học: Nền y học Trung Quốc đã có nhiều thành tựu đáng khâm phục. Về lí
thuyết, thời chiến Quốc có sách “Hoàng đế nội kinh”, được coi là bộ sách kinh điển bậc
nhất của y học cổ truyền Trung Quốc. Thời Hán có “Thương hàn tạp bệnh” của Trương
Trọng Cảnh, thời Đường có “Tiên thụ lí thương, kế tục mật phương” của Lan Đạo
Nhân…
Về Đông y: Có rất nhiều sách viết về các dược liệu như “Sơn hải kinh” (Tiên Tần),
“Thần nông bản thảo kinh” (Hán), “Bào cứu luận” (Nam Triều)… Đặc biệt “Bổn thảo
cương mục” do Lí Thời Trân (nhà Minh) soạn đã phê phán và kế thừa được những tinh
túy của các sách thuốc trước đó, đồng thời giới thiệu các loại thuốc mới… được dịch ra
nhà vua) và kĩ thuật ướp xác bắt nguồn từ quan niệm trên.
2. Lưỡng Hà (3đ)
- Trong thời kỳ đầu, người Lưỡng Hà theo đa thần giáo. Họ tôn sùng những lực
lượng tự nhiên, coi đó là những lực lượng thống trị cuộc sống của mình. Người Lưỡng Hà
thờ thần Anu, Eaua, thần Enlin... ngoài các thần chủ, người Lưỡng Hà còn tôn thờ nhiều
thần khác như thần trồng trọt, thần chăn nuôi và các hiện tượng tự nhiên như thần Samat
(thần Mặt trời). Thần Istaro (thần Ái tình)... người ta tin rằng thần Mẹ (Inana) còn là thần
bảo hộ nông nghiệp, thần của sinh nở, thần Ea (thần Biển) còn dạy cho người ta biêt nghề
thủ công, nghệ thuật, khoa học, thần Tamuz (thần Nước) được coi như vị thần dạy bảo cư
dân trông trọt, làm nghề thủ công và là vị thần của lòng nhân ái, bảo vệ mùa màng...
- Cùng với sự xác lập quyền lực tối cao, trong toàn Lưỡng Hà của Hammourabi, thần
Mardouk đã trở thành vị thần tối cao trong toàn quốc, bản thân nhà vua cũng được thần
thánh hóa, thay mặt thần Mardouk cai trị muôn dân.
- Người ta xây dựng nhiều đền miếu thờ thần và tiến hành nhiều nghi lễ phức tạp.
Việc xây dựng đền miếu đã trở thành gánh nặng đối với quần chúng. Nhân dân đã bị tập
đoàn tăng lữ nô dịch về tinh thần và bóc lột về kinh tế. Tập đoàn tăng lữ của Babylone rất
cồng kềnh, có đến hơn 30 đẳng cấp.
3. Ấn Độ (5đ):
- Bàlamôn giáo ra đời vào những thế kỉ đầu thiên niên kỉ I.TCN do sự phát triển của
xã hội có giai cấp và sự bất bình đẳng về đẳng cấp. Là một tôn giáo đa thần, cao nhất là
thần Brama, vị thần sáng tạo thế giới. Ngoài thần Brama còn có thần Visnu, Siva … nội
dung quan trọng trong giáo lí của Bàlamôn giáo là thuyết luân hồi. Về mặt xã hội,
Bàlamôn giáo là công cụ đắc lực bảo vệ chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ. Bàlamôn được truyền
bá rộng rãi trong nhiều thế kỉ, đến thế kỉ VI.TCN bị suy thoái do sự phát triển mạnh mẽ
của đạo Phât.
- Khoảng thế kỉ VII, đạo Phật bị suy sụp, nhân đó đạo Bàlamôn phục hồi và phát
triển. Đến khoảng thế kỉ VIII-IX, Bàlamôn giáo được bổ sung thêm nhiều yếu tố về đối
tượng sùng bái, kinh điển và nghi thức… từ đây Bàlamôn giáo được gọi là Hinđu giáo
- Bàlamôn giáo cho rằng thế giới vật chất cũng như thần thánh đều do Brama sáng
tạo ra, Bàlamôn đem cái “bản ngã” (at man) của con người kết hợp với Brama làm một và
cho rằng chính cái bản ngã này sáng tạo ra thế giới. Triết học Bàlamôn chia ra làm 6
trường phái triết học như: Yoga, Purova Mimãna, Vêđanta, Niaga, Xankia, Vaisêrica.
Phái Vaisêrica do Canada đề xướng ra thuyết nguyên tử. Ông cho rằng, vũ trụ gồm vô số
vật khác nhau nhưng vật nào cũng được cấu tạo từ những nguyên tử, ngoài nguyên tử và
chân không ra thì không có gì hết. Nguyên tử vận động là do một lực lượng vô hình chứ
không phải do một vị thần linh nào cả.
- Triết học Phật giáo: Triết học Phật giáo phủ nhận hai yếu tố Brama và Át man của
Bàlamôn giáo, không thừa nhận có đấng thần linh tối cao sáng tạo ra vũ trụ và phủ nhận
luôn cả tồn tại khách quan. Những yếu tố của phép biện chứng của triết học Phật giáo tuy
còn ở mức độ tự phát, chưa hoàn chỉnh nhưng đã nhìn thấy sự vận động biến đổi của thế
giới, thấy được sự đối lập trong thống nhất, vạch ra những mâu thuẫn nội tại của chúng
như ý thức và vô thức, niết bàn và vô minh…
- Triết học Sácvaca: Đây là trường phái triết học duy vật cổ đại, cho thế giới chung
quanh là vật chất được tạo nên bởi bốn nguyên tố: đất, lửa, nước và không khí. Con người
nhận thức được thế giới là do cảm giác. Con người có ý thức và ý thức là sản phẩm của
thể xác, khi con người ta chết thì ý thức cũng mất theo. Triết học Sácvaca cũng phủ nhận
những quan niệm về thần sáng tạo thế giới của tôn giáo.
2. Trung Quốc:
a. Thuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương gia:
Vào thời Ân, Chu, người Trung Quốc đã có các thuyết: Bát quái (cho rằng thế giới
do 8 loại vật chất cấu tạo thành, âm dương là hai yếu tố căn bản của Bát quái...). Người ta
dùng ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và âm dương để giải thích nguồn gốc của vũ
trụ, mọi vật sinh sinh hóa hóa đều do sự tác động tương hỗ hay sự phối hợp không điều
hòa các yếu tố trên mà thành. Những người theo học phái Âm dương gia đã đem kết hợp
thuyết Âm dương với thuyết Ngũ hành rồi thần bí hóa các thuyết này... để giải thích các
biến động của lịch sử xã hội.
Về quan điểm lịch sử - xã hội: Lão Tử đề xướng quốc gia lí tưởng là “tiểu quốc quả
nhân” (nước nhỏ dân ít), “vô vi nhi trị” (không làm gì mà thịnh trị)... Đạo gia không chỉ là
cơ sở triết học của văn hóa truyền thống mà còn ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của dân
tộc Trung Quốc.
+ Đạo giáo:
- Là tôn giáo ra đời vào giữa thời Đông Hán, đến thời Đường, Tống được sự hỗ trợ
của vương triều, Đạo giáo phát triển mạnh. Từ thời Minh, Đạo giáo bị suy vi.
- Đạo giáo có nguồn gốc phức tạp, tín ngưỡng cơ bản là Đạo, hạt nhân là tư tưởng
thần tiên.
- Đạo giáo cho rằng sống ở đời là việc sung sướng nên họ cổ vũ tư tưởng trọng sinh,
lạc quan. Quan niệm thế giới thần tiên của Đạo giáo không giống thế giới hiện thực,
không hoàn toàn tách biệt thế giới hiện thực và thế giới bên kia. Đạo giáo là tôn giáo đa
thần.
-
Ảnh hưởng của Đạo giáo đối với văn hóa truyền thống rất rộng rãi và sâu sắc.
d. Mặc gia:
- Mặc Tử (khoảng 479-381TCN), nhà tư tưởng, nhà giáo dục kiệt xuất, người sáng
lập học phái Mặc gia. Hạt nhân của tư tưởng triết học Mặc gia là nhân và nghĩa (nhân là
kiêm ái, nghĩa là nghĩa lợi) với 10 chủ trương lớn...
- Là người đầu tiên đề xuất “thủ thực dư danh” (lấy thực đặt tên) như một phạm trù
triết học, cũng là một trong những người đi tiên phong trong ngành logic học của nhân
loại.
- Tư tưởng của học phái Mặc gia đầy thiện chí, có ảnh hưởng lớn một thời nhưng
chứa đựng nhiều ảo tưởng, nên từ Tần, Hán về sau Mặc gia dường như không còn tồn tại
nữa.
e. Pháp gia:
- Pháp gia là học phái triết học đại biểu cho lợi ích của gia cấp địa chủ mới ra đời
trong thời kì Xuân Thu. Sở dĩ gọi là Pháp gia vì học phái này chủ trương “pháp trị”, cai trị
với linh hồn của mình”, nói đến sự suy sập của người Ai Cập trước sự đổ vỡ của các giá
trị truyền thống, tâm trạng chán đời.
+ Văn học Ai Cập đã có những bước tiến khá rõ rệt, từ những tác phẩm thô sơ mang
tính chất tôn giáo, đến chỗ xuất hiện nhiều tác phẩm với nhiều thể loại, phản ánh tình hình
xã hội, thể hiện sức sáng tạo kì diệu cỉa người Ai Cập cổ đại.
2. Lưỡng Hà:
+ Chữ viết.
Chữ viết ở Lưỡng Hà xuất hiện từ khá sớm. Người Sumer sáng tạo ra chữ tượng hình
vào khoảng đầu TNK III.TCN. Đầu tiên người Sumer dùng những hình vẽ về sau là
những nét vạch hợp lại thành ý. Họ dùng một thanh gỗ hay sậy nhỏ, vót nhọn một đầu, ấn
trên phiên đất mềm tạo thành một đầu nhọn, đáy bằng, trở ngược thanh gỗ vạch một
đường thẳng, trông như mũi tên hay chiếc đinh. Một số chiếc đinh này tập hợp lại thành
từ.
Chữ viết của người Lưỡng Hà được viết trên đất sét, mỗi tấm đất sét là một trang
sách. Chữ có hình như những góc nhọn, nên thường được gọi là chữ hình góc nhọn, chữ
hình nêm hay chữ tiết hình.
Rất nhiều dân tộc ở Tây Á thời cổ đại đã dùng loại chữ viết này để ghi lại sinh hoạt
kinh tế, xã hội và những diễn biến chính trị thời đó. Vì vậy, có thể coi chữ viết của người
Sumer phát minh ra là nguồn gốc của nhiều chữ viết khác của người Akkad, Babylone,
Hittiles, Assyria, Ba Tư.
+ Văn học:
Văn học Lưỡng Hà phong phú về nội dung và thể loại, với nhiều tác phẩm có giá trị
nghệ thuật cao. Các thể loại văn học chính là văn học dân gian, thơ và anh hùng ca. Nội
dung thường gắn liền với tín ngưỡng và phản ánh đời sống thường ngày của người lao
động. Điển hình nhất là hai trường ca: Anuma Elit và Gilgamesh.
- Trường ca Anuma Elit ca ngợi sự sáng tạo của vũ trụ, một khối hỗn mang thuở ban
đầu, từ đó sinh ra con người và muôn vật trên trên mặt đất.
- Trường ca Gilgamesh ca ngợi tinh thần anh dũng của những nhân vật có thật được
- Ngoài ra văn học Ấn Độ còn xuất hiện nhiều tác phẩm viết bằng nhiều loại phương
ngữ khác nhau.
4. Trung Quốc:
a. Chữ viết:
+ Văn tự đầu tiên của người Trung Quốc là văn tự kết thừng. Đến thiên niên kỉ
II.TCN, người Ân Thương đã viết lên mai rùa, xương thú gọi là giáp cốt văn. Ngoài ra
còn có chữ được khắc trên đồ vật (Ân khư khư thế), chữ khắc trên đá (Thạch cổ văn), chữ
khắc hay đúc trên đồng (Kim văn), chữ trên chuông đỉnh (Chung đỉnh văn). So với Giáp
cốt văn, Kim văn không khác biệt về bản chất, nhưng chữ ngay ngắn, vuông vắn, thành
hàng lối rõ rệt và nhiều chữ phức tạp hơn.
+ Đến nhà tần, chữ viết được chỉnh lí, đơn giản và cải tiến… khuôn trong hình
vuông gọi là chữ Tiểu triện. Đây là lần thống nhất quan trọng cơ bản đầu tiên trong lịch
sử phát triển chữ viết của Trung Quốc… ra đời từ thiên niên kỉ thứ II.TCN, chữ viết
Trung Quốc là hệ chữ viết duy nhất hiện còn được sử dụng.
b. Văn học:
+ Thơ:
- Kinh thi: là tập thơ cổ nhất do nhiều tác giả sáng tác từ đầu Xuân Thu đến giữa Tây
Chu (khoảng 500 năm) gồm 3 phần: Phong, Nhã, Tụng, trong đó Phong chiếm số lượng
nhiều nhất và cũng có giá trị cao nhất. Kinh thi đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Trung
Quốc sau này.
- Thơ Đường: Thơ Đường là đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc, nó trở nên vô giá
bởi nội dung và giá trị nghệ thuật tuyệt vời của mình. Hiện nay còn lại khoảng 48.000 bài
thơ của 2300 tác giả. Các tác giả nỗi tiếng như Lí Bạch (701 – 762) đã để lại trên 1200
bài, Đỗ Phủ (712 - 770) khoảng 1400 bài, Bạch Cư Dị (772 - 846) khoảng 2800 bài …
+ Tiểu thuyết Minh - Thanh:
Thời Minh - Thanh đã để lại cho hậu thế một số lượng lớn tiểu thuyết chương hồi
phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức. Có các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quốc
chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô thừa
Con đường vượt qua Ấn Độ dương, đi qua Hồng Hải, qua bán đảo Ả-rập, sau đó
được chở qua Địa Trung Hải vào Châu Âu. Con đường này cũng bị những người Ả-rập
Hồi Giáo chiếm giữ.
- Ngoài ra, còn một nguyên nhân chính nữa là do lòng tham vàng của các quý tộc và
thương nhân phương Tây, họ rất muốn sang phương Đông tìm kiếm vàng, kích thích tính
phiêu lưu mạo hiểm của họ.
2. Các điều kiện:
- Đây là thời kỳ Châu Âu trở nên giàu có, cho phép người Châu Âu có thể trang bị
cơ sở vật chất cho các chuyến đi biển dài ngày, tốn kém.
- Đây cũng là thời kỳ mà khoa học kỹ thuật (đặc biệt là thiên văn, địa lý, kỹ thuật
hàng hải) đã phát triển, giúp cho các chuyến đi thành công (thời kỳ này người ta đã có
quan niệm về trái đất hình tròn). Là thời kỳ vẽ được bản đồ thế giới đầu tiên do Tôx-cane-li (người Ý) vẽ, tuy rằng chưa chính xác, chỉ có Địa Trung Hải là khá chính xác. Đây
là cơ sở cho các nhà thám hiểm thực hiện các chuyến đi của mình.
- Về hàng hải, người ta đã đóng được tàu Ca-ra-ven là loại tàu vượt đại dương đầu
tiên, sử dụng các cánh buồm hình phản. Đây là thời kỳ mà la bàn do người Trung Quốc
chế tạo đã được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu (loại la bàn này do Mác-cô-pô-lô đem từ
Trung Quốc về sau chuyến đi Châu á của mình). Đặc biệt là thuốc súng (cũng do người
Trung Quốc phát minh ra) đã vào Châu Âu và được người Châu Âu chế tạo ra vũ khí
phòng vệ một cách vô cùng hữu hiệu.
- Về mặt địa lý thì Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là 2 quốc gia đều nằm ở ven bờ đại
dương, có lịch sử hàng hải lâu đời, có các cảng biển lớn, thuận lợi cho việc thám hiểm.
3. Tóm tắt 3 phát kiến địa lý lớn và hệ quả của nó?
- Năm 1487 Đi-a-xơ đã đi đến cực nam Châu Phi và ông gọi đây là Mũi Bảo tố,
sau gọi là Mũi Hảo vọng.
- 8/1492 Cô-lôm-bô đến được Cuba và một số đảo vùng Ca-ri-bê. Ông là người
đầu tiên phát hiện ra Châu Mĩ.
- 7/1497 Va-xcô đơ Ga-ma đã đến được Ca-li-cút (Ấn Độ).
- Năm 1519 - 1522 Ma-gien-lan người đầu tiên đi vòng quanh thế giới bằng đường
thành tiếng quốc tế; tiếng Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha được truyền bá chủ yếu sang
Châu Phi, Châu Mỹ và nó đã trở thành ngữ hệ La-tinh
Ngoài ra còn một số lĩnh vực khác như giáo dục, khoa học công nghệ cũng tràn vào
các thuộc địa do người Châu Âu phải xây dựng các nhà máy, xí nghiệp ở các thuộc địa,
đồng thời mở trường dạy học nghề... Về nghệ thuật cũng được du nhập đan xen, nhưng
chiều ảnh hưởng chủ yếu là từ Châu Âu sang.
Những phát kiến về địa lý về mặt khách quan đã dẫn tới sự phát triển của các bộ
môn khoa học, vì các vùng đất mới là vùng đất dành cho việc nghiên cứu, là đối tượng
nghiên cứu bao la...
Mẫu đề thi 7
ĐỀ MÔN THI: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
MÃ MÔN HỌC: ......
THỜI GIAN: 70 phút
Không sử dụng tài liệu.
Phong trào Văn hóa phục hưng ở Tây Âu diễn ra trong bối cảnh nào? Hãy trình
bày nội dung và những thành tựu chính của phong trào này? (10 điểm)
Mẫu đáp án
ĐÁP ÁN MÔN THI: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
MÃ MÔN HỌC: .............................
THỜI GIAN:....70....phút
Không sử dụng tài liệu.
1. Bối cảnh xã hội:
- Thời hậu kì trung đại, bộ mặt kinh tế Tây Âu có nhiều thay đổi, quan hệ sản xuất
TBCN hình thành; cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật.
- Cùng với sự ra đời của tư bản là giai cấp tư sản cũng được ra đời, giai cấp tư sản
+ Đantê, là người mở đầu cho thơ ca thời phục hưng, tác phẩm tiêu biểu là Thần
khúc.Ông không chủ trương chống lại giáo hội nhưng ông ghét giáo hội và giáo hoàng.
+ Pêtơraca, là nhà thơ trữ tình, tác phẩm lớn nhất là tập thơ ca ngợi tình yêu tặng
nàng lôra.
- Tiểu thuyết: cũng có nhiều tác phẩm và tác giả nổi tiếng:
+ Bôcaxiô, tác phẩm nổi tiếng là truyện mười ngày.
+ Rabơle, chủ yếu là những tác phẩm trào phúng, tiêu biểu là Gacgiăngchuya –
pănhtagruyen.
+ Xéc văng tét, được coi là người đặt nền móng cho văn học của Tây ban Nha thời phục
hưng, tác phẩm tiêu biểu là: Đông ki sốt.
- Kịch: Séchxpia, tiêu biểu cho nghệ thhuật kịch thời phục hưng, Ông sáng tác 36 vở hài
kịch, nổi tiếng như: Đêm thứ mười hai, theo đuổi tình yêu vô hiệu… bi kịch như: Hăm lét,
Rômêô và Giuliét…
3.2 Nghệ thuật
Ý là nơi khởi đầu nền nghệ thuật thời phục hưng, với rất nhiều họa sĩ, nhà điêu
khắc nổi tiếng như:
+ Giốt tô, người mở đầu xu hướng hiện thực trong hội họa thời Phục hưng.
+ Maxsiô: là người phát triển nghệ thuật thời phục hưng.
+ Lêôla Đơ Vanhxi (ý), là danh họa lớn nhất thời phục hưng không chỉ ở Italia
mà cả Châu Âu. Ông còn là người có kiến thức uyên bác về nhiều ngành khoa học: toán,
lý, thiên văn…
+ Mikenlănggiơ (ý), cũng là họa sĩ rất nổi tiếng, tác phẩm tiêu biểu là tượng
Đavít, Môidơ, người nô lệ bị trói… Ông là người đầu tiên thiết kế nhà thờ Xanhpie.
+ Raphaen, là họa sĩ thiên tài người Ý, tác phẩm nổi tiếng: Cô gái làm vườn xinh
đẹp.
+ Ngoài ý còn nhiều họa sĩ nổi tiếng tên tuổi khác như: Lucátđơ lâydơ (Hà Lan),
Đuyrê (Đức), Lơnanh (Pháp)…
3.3 Khoa học tự nhiên và triết học
MÃ MÔN HỌC: ......
THỜI GIAN: 70 phút
Không sử dụng tài liệu.
Câu 1: Hãy so sánh, phân tích điều kiện địa lý tự nhiên, dân cư hình thành nền văn minh
Hy – La cổ đại ? (5 điểm).
Câu 2: Hãy trình bày thành tựu về tôn giáo của La Mã cổ đại và sơ đồ tóm lược quá trình
phát triển của Kitô giáo từ thế kỷ I đến thế kỷ XVI ? (5 điểm).
Mẫu đáp án
ĐÁP ÁN MÔN THI: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
MÃ MÔN HỌC: .............................
THỜI GIAN:....70....phút
Không sử dụng tài liệu.
Câu 1:
1. Điều kiện địa lý tự nhiên và dân cư của Hy lạp cổ đại
1.1- Địa lý tự nhiên
Vùng đất của thế giới Hy Lạp cổ đại lớn hơn nước Hy Lạp ngày nay rất nhiều, nó
gồm miền Nam bán đảo Bancăng (Balkans), các đảo trên biển Êgiê (Aegean) và phía tây
Tiểu Á. Trung tâm của thế giới Hy Lạp cổ đại nằm ở phía nam bán đảo Bancăng.
Đất đai Hy Lạp không được phì nhiêu, không thuận lợi cho việc trồng cây lương
thực, địa hình lại còn bị chia cắt thành nhiều vùng đồng bằng nhỏ hẹp.
Hy Lạp có nhiều vũng, vịnh, thuận lợi cho việc lập những hải cảng. Ở đây còn có
nhiều khoáng sản lại tương đối dễ khai thác như đồng, vàng, bạc... Chính vì vậy, kinh tế
Hy Lạp cổ đại chú trọng phát triển về công, thương nghiệp hơn nông nghiệp, nhất là buôn
bán đường biển.
Đặc điểm này của kinh tế cũng làm cho nền văn minh Hy Lạp cổ tuy phát triển sau
văn minh Ai Cập cổ, nhưng những lái buôn Hy Lạp trong quá trình ngang dọc trên Địa
Trung Hải cũng học được nhiều điều hay từ Ai Cập và Lưỡng Hà.
Đạo Kitô khuyên con người nhẫn nhục chịu đựng đau khổ nơi trần gian để khi chết
sẽ được hưởng hạnh phúc nơi thiên đàng. Chúa Trời sáng tạo ra thế giới này. Chúa Trời,
chúa Jesus, thánh thần tuy ba mà là một (tam vị nhất thể) .
Đạo Kitô cũng có quan niệm thiên đường, địa ngục, thiên thần, ma quỉ... Giáo lí
của đạo Kitô gồm có Kinh cựu ước (tiếp nhận của đạo Do Thái) và Kinh tân ước (kể từ
khi chúa Jesus ra đời). Luật lệ của đạo Kitô thể hiện trong 10 điều răn.
Học thuyết Kitô giáo: Trên cơ sở của nền triết học duy tâm khắc kỷ kết hợp với
thần đạo phương đông, nhất là thần học Do thái giáo với nền triết học Hi Lạp đã được
dung tục hóa đã góp phần tạo nên học thuyết Kito giáo.
1.3 Về tổ chức, Lúc đầu các tín đồ đạo Kitô tổ chức thành những công xã vừa
mang tính chất tôn giáo, vừa giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Đến thế kỉ II, các công xã
Kitô dần phát triển thành Giáo hội.
Khi mới ra đời, đạo Kitô bị các hoàng đế La Mã và bọn quí tộc địa phương cho là
sự truyền bá tôn giáo phản loạn, tập hợp quần chúng chống đối nên đã đàn áp rất tàn bạo.
Giáo hội đề ra nguyên tắc “vương quốc thì trả cho vua, thiên quốc thì trả cho
Chúa trời” tức là tôn giáo không dính dáng đến chính trị. Năm 311, một hoàng đế La Mã
đã ra lệnh ngưng đàn áp các tín đồ Kitô. Năm 313, đạo Kitô được hoàng đế La Mã công
nhận là hợp pháp. Năm 337, một hoàng đế La Mã lúc đó là Cônxtantinut đã gia nhập đạo
Kitô. Ki tô giáo trở thành quốc giáo.
2. Sơ đồ tóm lược quá trình phát triển của Ki tô giáo từ thế kỷ I đến thế kỷ
XVI (3đ).
- Từ thế kỷ I – thế kỷ XI: Công giáo, Chính Thống giáo.
- Từ thế kỷ XI – thế kỷ XVI: Anh Giáo, Công giáo, Tin Lành và Chính Thống
giáo.
Mẫu đề thi 9
ĐỀ MÔN THI: LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI
MÃ MÔN HỌC: ......
THỜI GIAN: 70 phút