Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn nguyễn huy thiệp - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
--------------------------

Nguyễn Thị én

Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ
trong truyện ngắn nguyễn huy thiệp
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 60. 22. 01
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn khoa học:
GS.TS. Đỗ Thị Kim Liên

Vinh- 2007


2

Lời cảm ơn

Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận đợc sự hớng dẫn tần tình, chu đáo của
GS. TS Đỗ Thị Kim Liên, sự góp ý thiết thực của các thầy cô giáo trong tổ
Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, trờng Đại học Vinh, cũng nh sự động viên, khích lệ
của ngời thân và bạn bè, đồng nghiệp. Nhân dịp này, cho phép chúng tôi bày
tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến các thầy cô giáo và những ngời thân.
Vinh, tháng 11 năm 2007
Tác giả


3


11

1.2. Hoàn cảnh giao tiếp của nhân vật nữ trong truyện ngắn

14

Nguyễn Huy Thiệp
1.3. Ngôn ngữ nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

17

1.4. Hành động ngôn ngữ

19

1.5. Lời thoại nhân vật nữ xét theo đặc trng giới tính

23

1.6. Tiểu kết chơng 1

25

Chơng 2. Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật

27

nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
2.1. Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ trong

4
Chơng 3. Ngữ nghĩa lời thoại của nhân vật nữ trong

75

truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
3.1. Lời thoại thể hiện thiên tính nữ
3.1.1. Lời thoại thể hiện sự bao dung, lòng vị tha, đức hy sinh
3.1.2. Lời thoại thể hiện tâm hồn nhạy cảm, thái độ nhẹ nhàng,
ân cần, chu đáo của ngời phụ nữ
3.1.3. Lời thoại thể hiện thiên tính làm mẹ của ngời phụ nữ
3.2. Lời thoại phản ánh nhu cầu đợc giãi bày của ngời phụ nữ
3.2.1. Giãi bày nỗi khát khao có cuộc sống hạnh phúc, có tình
yêu chân thành, chung thuỷ
3.2.2. Giãi bày những uẩn ức, bức xúc của ngời phụ nữ
3.3. Lời thoại phản ánh những quan niệm về nhân sinh mang tính
triết lí
3.3.1. Quan niệm về cuộc sống
3.3.2. Quan niệm về con ngời
3.3.3. Quan niệm về vật chất- tinh thần
3.3.4. Quan niệm về tự do
3.3.5. Quan niệm về nam giới
3.4. Hàm ngôn qua lời thoại của nhân vật nữ
3.4.1. Thể hiện lời cảnh tỉnh con ngời từ mặt trái xã hội
3.4.2. Thể hiện nỗi đau của tác giả trớc sự huỷ diệt của cái Đẹp
3.4.3. Thể hiện niềm tin về sự vĩnh hằng của cái Chân- Thiện- Mĩ
3.5. Tiểu kết chơng 3
Kết luận
Tài liệu tham khảo


đặc biệt là đối với "hiện tợng văn học" nh Nguyễn Huy Thiệp.
1.2. Nguyễn Huy Thiệp - một nhà văn hai lần lạ, đã sử dụng tối đa các
khả năng ngôn ngữ để đạt đợc cao nhất điều mình muốn biểu đạt vì ngôn ngữ
là phơng tiện để biểu đạt nội dung ý nghĩa của tác phẩm thông qua hình tợng
nhân vật- ngời phát ngôn cho quan điểm của tác giả. Tập truyện Nh những
ngọn gió của Nguyễn Huy Thiệp có gần 200 nhân vật nhng những nhân vật ấy
với đều có ngôn ngữ riêng, thể hiện rõ nhất qua các đoạn hội thoại. Trong thế
giới nhân vật hành động ấy, bên cạnh nhân vật nam, nhân vật nữ cũng có
những biểu hiện riêng về ngôn ngữ hội thoại (thể hiện qua hành động ngôn
ngữ, nội dung ngữ nghĩa của lời thoại) khác với nhân vật nam nhng cha đợc đi
sâu tìm hiểu. Vì vậy, chúng tôi đi vào thực hiện đề tài Đặc điểm lời thoại
nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
2. Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Đối tợng nghiên cứu
ở đề tài "Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp", chúng tôi đi vào nghiên cứu lời thoại nhân vật nữ trong 16 truyện của
tập truyện ngắn "Nh những ngọn gió ", NXB Văn học, 1999. Cụ thể, chúng tôi
đi sâu nghiên cứu các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ trong 16
truyện ngắn tiêu biểu đó.
Để tiện theo dõi khi đa các ví dụ minh họa, chúng tôi đánh số La mã theo
thứ tự từng truyện nh sau:
I: Chảy đi sông ơi
IX: Những bài học nông thôn
II: Tâm hồn mẹ
X: Ma


6
III: Tớng về hu
XI: Những ngời thợ xẻ

Mạnh, Lại Nguyễn Ân, Văn Tâm, Thái Hoà.
- Loại ý kiến thứ hai: nặng về phê phán Nguyễn Huy Thiệp, các tác giả
tiêu biểu nh: Đỗ Văn Khang, Đặng Anh Đào, Tạ Ngọc Liễn, Nguyễn Thuý ái.


7
- Loại ý kiến thứ ba: vừa ca ngợi, vừa phê phán Nguyễn Huy Thiệp, các
tác giả tiêu biểu nh: Nguyễn Mạnh Đẩu, Đông La, Vũ Phan Nguyên, Hồng
Diệu.
Các ý kiến tranh cãi dù còn đối lập nhau nhng xu hớng ca ngợi tài năng
Nguyễn Huy Thiệp vẫn là chủ yếu. Các ý kiến có một điểm chung: Nguyễn
Huy Thiệp là một tài năng hiếm, độc đáo. Và hạt nhân các sáng tác của anh
không nằm ngoài vấn đề tính cách và số phận con ngời.
Một điều rất rõ là trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, cảm hứng
tích cực, tinh thần nhân bản đợc mã hóa qua một hình tợng nổi bật: hình tợng
ngời phụ nữ. Rải rác trong các bài viết về những sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp có đề cập đến nhân vật nữ. Chúng tôi tập hợp những ý kiến đó theo hai
hớng:
a) ý kiến ca ngợi nhân vật nữ
Về ý kiến ca ngợi nhân vật nữ, đầu tiên phải kể đến bài Tôi không chúc
bạn thuận buồm xuôi gió của tác giả Hoàng Ngọc Hiến. Trong bài viết của
mình, tác giả nêu lên cái gọi là "thiên tính nữ" nh một đánh giá ban đầu về
nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp: "Trong các nhân vật nữ có
những con ngời u tú, nhiều ngời đáng gọi là liệt nữ. Nó là sự hiện thân của
nguyên tắc t tởng tạo ra cảm hứng của tác giả, có thể gọi đó là nguyên tắc
tính nữ hoặc thiên tính nữ" [16, tr.15]. Sau đó, ông đa ra những luận giải về
"thiên tính nữ" qua phân tích một số nhân vật nữ tiêu biểu. Theo ông, "thiên
tính nữ" trớc hết phải là "tinh thần của cái đẹp" mà đẹp là một phẩm giá tinh
thần cao quý của phụ nữ. Đó chính là tấm lòng bao dung và hào phóng với tất
cả mọi ngời, là tấm lòng bao la, là tinh thần vị tha và đức hy sinh của ngời phụ

cũng là ngời tốt, ngời tốt phải là những ngời "vô sự với tạo hóa".
Trong Đọc "Chút thoáng Xuân Hơng", khi phân tích thao tác và dụng ý
nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp qua ba truyện, Đào Duy Hiệp cũng công
nhận rằng: xuyên suốt ba truyện là hình tợng phụ nữ vị tha, bao dung, tợng trng cho ngời Phụ nữ muôn đời- cái mà Hoàng Ngọc Hiến gọi là "tính nữ" trong
văn chơng của Nguyễn Huy Thiệp. Kết thúc bài viết, tác giả nêu lên cảm
nhận: "Có thế chăng mà nhà văn tìm đến với những cuộc đời bình dị và thấy ở
đấy những điều bình dị muôn đời để "sống cho nhanh lên, có ích"? Điều ấy,
với Nguyễn Huy Thiệp là hình ánh ngời phụ nữ giản dị, bao dung cùng những
buổi chiều của làng quê rất đẹp và rất buồn trong văn của anh". [18, tr. 86].


9
Trong Có nghệ thuật ba- rốc trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp hay không? đăng trên Tạp chí Văn học, số 2/ 1989, khi đi tìm hiểu,
khám phá "hiện tợng văn học mới lạ" để "hiểu đợc ngời đơng thời", tác giả
Thái Hòa cho rằng: "Trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, cái Đẹp lắng
sâu vào bên trong tâm hồn, hòa vào cái tự nhiên. Có những cử chỉ, hành động
của những con ngời rất đỗi bình dị nh bé Thu, chị Thắm, chị Sinh... và cũng
có những tâm hồn đẹp của những ngời đã từng lăn lộn quằn quại trong cuộc
đời nh Xuân Hơng... " [19, tr.102].
Tác giả bài viết khẳng định rằng Nguyễn Huy Thiệp luôn hớng tới hình
ảnh đẹp, đó là những hình ảnh chứa đựng chân lý Chân- Thiện- Mỹ, nhắc nhở
con ngời sống "Thật hơn, Thiện hơn và Đẹp hơn".
Tác giả Văn Tâm trong bài báo Đọc Nguyễn Huy Thiệp đăng trên báo
Văn nghệ số 48, 26/11/1988, khi nói về tinh thần nhân bản trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp cũng cho rằng cảm hứng tích cực, tinh thần nhân bản đợc
Nguyễn Huy Thiệp mã hóa qua hình tợng tuyệt đẹp - ngời phụ nữ . Ông cho
rằng tuyệt đại đa số những nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
đều có phẩm chất "u mỹ tuyệt vời"[35].
Nhà nghiên cứu văn học Vơng Trí Nhàn trong bài Tởng tợng về Nguyễn

với một số kiến thức của lý luận văn học. Đề tài góp phần khẳng định thêm
đặc điểm ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn hiện đại; góp
phần giải mã ý nghĩa của bức thông điệp bằng ngôn ngữ mà nhà văn muốn
gửi gắm qua hình hình tợng ngời phụ nữ trong tác phẩm văn học.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chơng:
Chơng 1. Những giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2. Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Chơng 3. Ngữ nghĩa lời thoại của nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp


12
Chơng 1
Những giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1. Xung quanh vấn đề hội thoại
1.1.1. Khái niệm hội thoại
Giao tiếp là một trong những hoạt động xã hội thờng xuyên của con ngời,
trong đó giao tiếp hội thoại là hoạt động căn bản, phổ biến nhất của ngôn ngữ,
nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Theo tác giả Đỗ
Thị Kim Liên: Hội thoại là một trong những họat động ngôn ngữ thành lời
giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa
họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi
đến một đích nhất định.[24, tr. 18].
Hội thoại tồn tại dới hai dạng:
- Lời ăn tiếng nói thể hiện trong sinh hoạt hằng ngày của con ngời.
- Lời trao đáp của các nhân vật hội thoại đã đợc chủ thể nhà văn tái tạo,
sáng tạo và thể hiện trong tác phẩm văn học.

của ngời nói. Khi lời trao có lời đáp thì hội thoại chính thức đợc hình thành.
(2) Hắn có thể chết bởi những điều rất vớ vẩn... Mà hắn cả tin lạ lùng.
- Thôi đi... Tớ van mình. Mình đừng mơ mộng nữa. Cả tin với không cả
tin. Tất cả đều một giuộc!
- Quả thực tớ cha thấy ngời nào đáng kể nh hắn. Hết sức nồng nhiệt,
tối tăm nh đêm tối... chính trực nữa... [X, tr. 246]
Ví dụ trên là một cặp thoại giữa hai cô gái (M và N). Nhân vật N với vai
ngời nói đa ra lời trao là hai hành động nhận xét đánh giá về một ngời thứ ba
(hắn); hai hành động này hớng vào ngời nghe (M). Hành động nhận xét đó bị
nhân vật M ngăn cản bằng hành động ngăn cản, van xin (Thôi đi... Tớ van
mình. Mình đừng mơ mộng nữa.) và hành động bác bỏ, khẳng định (Cả tin với
không cả tin. Tất cả đều một giuộc!). Cùng với sự trao lời của N, sự đáp lời
của M tạo thành một cặp trao- đáp trong hội thoại.
c) Sự tơng tác
Khi một cuộc thoại diễn ra thì giữa các nhân vật giao tiếp đã có sự tơng
tác. Sự tơng tác theo Nguyễn Thiện Giáp là tác động qua lại đối với hành
động của nhau giữa những ngời tham gia hội thoại. Có tơng tác bằng lời mà
cũng có tơng tác không bằng lời[14, tr. 69]. Nh vậy, sự tơng tác trong hội
thoại tức là giữa những ngời tham gia hội thoại luôn có các hành vi ngôn ngữ


14
tơng tác, có sự thống nhất và mâu thuẫn, có sự vận động để điều hành cuộc
thoại diễn tiến, từ đó làm cho nhau cùng biến đổi.
Nh vậy, trong một cuộc hội thoại sự trao lời, sự đáp lời và sự tơng tác gắn
bó chặt chẽ với nhau. Đây là ba vận động đặc trng cho một cuộc thoại, những
quy tắc, cấu trúc và chức năng trong hội thoại đều bắt nguồn từ ba vận động
trên, chủ yếu là vận động tơng tác.
1.1.3. Một số khái niệm liên quan đến cấu trúc hội thoại
Có ba trờng phái có quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại: trờng phái

d) Phát ngôn
Phát ngôn là đơn vị của lời nói, nó đợc tách ra từ trong chuỗi lời nói dùng
để giao tiếp hàng ngày hoặc tách ra từ dạng văn bản dùng để chỉ lời nói trực
tiếp của các nhân vật hội thoại. Khái niệm phát ngôn đợc chúng tôi sử dụng tơng đơng với khái niệm câu trong ngôn ngữ học truyền thống.
Trong lợt lời có thể có nhiều phát ngôn. Các phát ngôn có mục đích và
chức năng khác nhau. Có những phát ngôn mở đầu cho một cặp thoại làm
chức năng dẫn nhập; có những phát ngôn nhằm đáp lại phát ngôn nào đó trong
một lợt lời của ngời đối thoại, chúng làm chức năng hồi đáp. Những phát ngôn
trong một lợt lời là những hành vi hội thoại.
ở ví dụ (3), lợt lời của bà Cẩm gồm hai phát ngôn; lợt lời của cô Lan gồm
một phát ngôn.
1.2. Hoàn cảnh giao tiếp của nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp
1.2.1. Khái niệm hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh bao gồm những hiểu biết về thế giới
vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử, các ngành khoa học
nghệ thuật...ở thời điểm và không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao
tiếp[8, tr. 23].
Có hai loại hoàn cảnh giao tiếp:
- Hoàn cảnh giao tiếp rộng: bao gồm hoàn cảnh địa lí, xã hội, lịch sử,
chính trị, văn hoá của một dân tộc.
- Hoàn cảnh giao tiếp hẹp: là không gian, thời gian cụ thể, trực tiếp mà
cuộc thoại diễn ra.
Hoàn cảnh giao tiếp có quan hệ mật thiết với quá trình giao tiếp của lời
nói. Khi tìm hiểu đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn


16
Huy Thiệp, chúng tôi thấy cần thiết phải đặt lời thoại nhân vật trong hoàn
cảnh giao tiếp, nh vậy mới lí giải đợc tại sao nhân vật nữ lại nói nh vậy và điều


17
chồng, họ hàng bên chồng. Gia đình trong Những bài học nông thôn có đủ
bốn thế hệ, mỗi ngời một tính cách, ứng xử tốt là điều không dễ đối với Hiênmột phụ nữ trẻ có chồng bộ đội ở xa. Bà Cẩm, cô Lan, Thiều Hoa... có những
tính cách khác nhau nhng họ có mối quan hệ với nhau trong một không gian
gia đình. Nh thế, trong không gian gia đình, nhân vật nữ tự bộc lộ mình qua
hành vi ứng xử, qua lời ăn tiếng nói hằng ngày.
b) Không gian rừng núi, không gian sông nớc
Ngời phụ nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nh đẹp hơn, thiện hơn
khi sống trong không gian sông nớc, không gian rừng núi, hoà hợp với thiên
nhiên. Trong không gian sông nớc bao la, không gian núi rừng hùng vĩ, con
ngời nh nhỏ bé, họ sống gần gũi nhau hơn, sống vì ngời khác hơn. Chị Thục,
bé Quy là hình ảnh đẹp của ngời phụ nữ sống ở vùng rừng núi. Chị Thắm gắn
bó với miền sông nớc, suốt đời chỉ biết cứu ngời, lại phải chết đuối mà không
đợc ai cứu. Chính trong không gian sông nớc, đức hy sinh của chị Thắm nh đợc tô đậm thêm.
c) Không gian tâm lí
Ngoài không gian thực tại (không gian gia đình, không gian rừng núi,
không gian sông nớc), nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn
sống trong một không gian nghệ thuật- không gian tâm lí. Họ là những ngời
luôn chất chứa những khát khao, những uẩn ức của con ngời không thoả mãn
với cuộc sống thực tại. Họ thờng suy t về cuộc sống, về tình yêu, về sự tồn tại
của chính mình. Những giây phút dằn vặt, bức xúc đã khiến họ đối thoại với
ngời khác mà nh đối thoại với chính mình. Lời thoại của nhân vật nữ xuất hiện
trong không gian này thờng mang ý nghĩa triết lí. Chính lời thoại của nhân vật
nữ trong không gian tâm lí giúp ngời đọc hiểu rõ hơn về đời sống nội tâm của
họ- điều mà nhà văn không hề nói đến.
1.2.2.2. Thời gian
Cùng với không gian, thời gian cũng là một trong những nhân tố nền cảnh
để lời thoại nhân vật nữ xuất hiện. Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, lời
thoại của nhân vật nữ xuất hiện đều gắn với thời gian của cảnh sống, sinh hoạt

phụ nữ miền núi nh chị Thục, bé Quy (Những ngời thợ xẻ), Muôn (Truyện tình
kể trong đêm ma); phụ nữ nông thôn nh bà Lâm, chị Hiên (Những bài học
nông thôn), chị Thắm, bé Thu (Con gái thuỷ thần)... Dù sống ở thành thị hay


19
nông thôn, đồng bằng hay miền núi, dù ngời lớn hay trẻ con những ngời phụ
nữ đều mang nét tự nhiên, bản năng trong tâm hồn.
Một điều đáng lu ý là nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
không đơn thuần chỉ là những ngời phụ nữ nhu mì, hiền thục nh từng thấy
trong văn học trớc đây. Họ tuy sống khép kín trong phạm vi gia đình, làng
xóm nhng không phải là những ngời thụ động mà là những ngời dám nghĩ,
dám làm, dám nói ra những điều ấm ức trong lòng, những ngời đã tự xác lập
cho mình một cuộc sống riêng. Mặc dù vậy, đa số họ đều là những ngời nhân
ái vị tha, bao dung độ lợng, giàu đức hy sinh. Chị Thuỷ (Tớng về hu) là một
phụ nữ trí thức có lối sống thực tế, sòng phẳng của con ngời trong thời cơ chế
thị trờng nhng chị lại là một ngời con dâu biết kímh trọng bố chồng, yêu thơng chồng con, biết vun vén cho gia đình, sống tốt với bà con bên chồng, với
kẻ ăn ngời ở. Tâm hồn bé Thu (Tâm hồn mẹ) trong sáng, nhân hậu, ẩn chứa
thiên tính nữ- thiên tính của một ngời mẹ. Và còn bao nhân vật nữ khác nh
bà Lâm, chị Hiên, chị Thục, chị Thắm... Dù là nhân vật chính hay phụ, họ đều
có một ý nghĩa rất quan trọng: họ có tác dụng soi tỏ, giúp ta nhận ra tính cách,
số phận của các nhân vật khác, giúp con ngời nhận chân giá trị Chân- ThiệnMĩ trong cuộc sống.
1.3.2. Ngôn ngữ nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Ngôn ngữ nhân vật chính là lời nói trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm
văn học đợc biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông qua sự lựa chọn của
nhà văn nhằm tái hiện một cách sinh động tính cách, đặc điểm của nhân vật.
Tuy nhiên, để thể hiện đời sống và cá tính nhân vật, nhà văn phải cá thể hoá
ngôn ngữ của nó, phải làm cho ngôn ngữ nhân vật trở thành một hình thái biểu
hiện riêng biệt. Vì vậy, nhà văn phải kết hợp các thi pháp nghệ thuật nh nhấn
mạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật

chính trong cuộc sống thực.
1.4. Hành động ngôn ngữ
1.4.1. Khái niệm
Ngôn ngữ tồn tại để thực hiện chức năng hớng ngoại- chức năng làm
công cụ giao tiếp. Khi ngôn ngữ đợc sử dụng để giao tiếp tức là ngôn ngữ
đang hành chức. Vậy, nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con ngờihành động bằng ngôn ngữ.


21
Hành động ngôn ngữ (hành vi ngôn ngữ) đợc hiểu: Trong hội thoại vai
nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả một hiện tợng, để khẳng định, để bày tỏ
một sự nghi vấn, để đa ra một yêu cầu, để khuyên nhủ, để khen ngợi... ta có
hành vi miêu tả, kể, khẳng định, nghi vấn, yêu cầu, khuyên nhủ.... Đó là
những hành động bộ phận nằm trong hoạt động giao tiếp nói chung. Khi
miêu tả, hỏi, yêu cầu, khuyên nhủ... là chúng ta đang hành động- hành động
bằng ngôn ngữ[26, tr. 69].
Theo J. L. Austin, có ba loại hành động ngôn ngữ:
a) Hành động tạo lời: là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ nh
ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu... để tạo ra một phát ngôn về hình
thức và nội dung.
b) Hành động mợn lời: là hành động mợn phơng tiện ngôn ngữ hay nói
cách khác là mợn các phát ngôn để gây ra sự tác động hay hiệu quả ngoài
ngôn ngữ đối với ngời nghe. Hiệu quả này không đồng nhất ở những ngời
nghe khác nhau.
c) Hành động ở lời (hành động ngôn trung, hành động trong lời): là hành
động ngời nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng gây ra những
tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với ngời nghe.
Cùng một nội dung miêu tả nhng nếu đợc nói bằng các hành động ở lời
khác nhau thì các phát ngôn sẽ mang sắc thái nghĩa khác nhau.
Trong đề tài này, đối tợng chúng tôi tìm hiểu là hành động ở lời qua lời

ở lời mà ngời nói và ngời nghe có thể làm thay đổi trạng thái, nhận thức của
nhau. Nếu không có sự thay đổi thì hành động ở lời không đạt đích. Khi giao
tiếp, nếu ngời nói đạt đợc đích mình đặt ra thì hành vi đó đạt đợc đích giao
tiếp.
1.4.3.2. Cấu trúc hình thức
Mỗi loại hành vi ở lời có một biểu thức ngữ vi (tờng minh hoặc hàm ẩn)
cụ thể khác biệt nhau. Mỗi biểu thức ngữ vi đợc đánh dấu bằng các dấu hiệu
chỉ dẫn, nhờ các dấu hiệu này mà các biểu thức ngữ vi phân biệt với nhau. Các
dấu hiệu chỉ dẫn cụ thể là:
a) Các kiểu kết cấu
Các kiểu kết cấu tức là các kiểu câu theo ngữ pháp truyền thống. ở đây,


23
khái niệm kết cấu đợc mở rộng, nó bao gồm những kiểu kết cấu cụ thể ứng với
từng hành động ở lời. Kết cấu không chỉ là những kiểu câu theo mục đích nói
mà còn bao gồm những kết cấu cụ thể ứng với từng hành động cụ thể.
Chẳng hạn, thuộc kết cấu cầu khiến không chỉ là các kiểu quen thuộc nh
hãy, đừng, chớ... mà còn có các kết cấu cụ thể nh: Làm ơn đa cho tôi quyển
sách kia!; Học thôi!;...
b) Những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi
Những từ ngữ này dùng để tổ chức các kết cấu và đó là các dấu hiệu mà
nhờ chúng, ta phân biệt đợc hành động ở lời nào đang đợc thực hiện. Đó là
những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi hỏi, nh: có, (đã)...
không (cha)?, à, , nhỉ, chăng...; những từ ngữ chuyên dùng trong các biểu thức
cầu khiến, nh: hãy, chớ, đừng, các đại từ nghi vấn: ai, gì, nào, sao, đâu..
c) Ngữ điệu
Ngữ điệu là sự chuyển động thanh cơ bản của giọng nói, là sự nâng cao
hoặc hạ thấp giọng nói trong câu. Loại dấu hiệu này đợc thể hiện trong lời nói.
Cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp nh nhau, nếu đợc phát âm bằng những

Có hai loại hành vi ở lời là hành vi ở lời trực tiếp và hành vi ở lời gián tiếp.
Hành vi ở lời trực tiếp là những hành vi ngôn ngữ chân thật, nghĩa là chúng đợc thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng chúng. Hành vi ở
lời gián tiếp là hành vi mà ngời sử dụng trên bề mặt là hành vi này nhng lại
nhằm hiệu lực của một hành vi ở lời khác.
Trên đây là những tiêu chí nhận diện và phân loại các hành động ngôn
ngữ qua lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Khi khảo
sát, phân loại các hành động ngôn ngữ, chúng tôi không chỉ dựa vào một tiêu
chí mà kết hợp các tiêu chí trên để phân loại chúng. Trong thực tế, dấu hiệu để
nhận biết các hành vi ở lời rất đa dạng, mỗi nhóm hành vi ở lời lại có những
dấu hiệu nhận biết riêng. Phần này, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn khi đi
vào miêu tả từng nhóm hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ.
1.5. Lời thoại nhân vật xét theo đặc trng giới tính
1.5.1. Xung quanh vấn đề về giới tính trong ngôn ngữ
Theo Từ điển tiếng Việt, nói một cách tổng quát thì giới tính là những
đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái[39, tr. 405].
Giới tính không chỉ là sự khác biệt về mặt thể chất (mặt sinh học) giữa nam và
nữ mà còn bao hàm cả sự thay đổi về quan niệm và đời sống, vị thế ở cả gia


25
đình cũng nh ở ngoài xã hội giữa nam và nữ[21, tr. 144]. Sự khác nhau về
giới tính dẫn đến sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới. Theo tác giả
Nguyễn Văn Khang [21, tr. 144-145], sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới
thể hiện ở ba vấn đề sau:
(1) Có sự khác nhau giữa nam và nữ về cấu tạo cơ thể ngời, nh vị trí của
phần chứa ngôn ngữ ở trong não cũng nh đặc điểm về sinh lí cấu âm của
từng giới.
(2) Ngôn ngữ để nói về mỗi giới có khác nhau, có những từ ngữ chỉ dùng
cho giới này mà không thể dùng cho giới khác.
(3) Ngôn ngữ đợc mỗi giới dùng có sự khác nhau: để biểu thị cùng một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status