BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG THỊ SÂM
ĐẶC ĐIỂM LỜI THOẠI NHÂN VẬT NỮ
TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN THI
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Vinh – 2009
2
mục lục
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Phơng pháp nghiên cứu
5. Đóng góp của đề tài
6. Cấu trúc của luận văn
Chơng 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1. Xung quanh vấn đề hội thoại
1.2. Hon cảnh giao tiếp của nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn
Thi
1.3. Ngôn ngữ nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thi
đã đợc đa vào giảng dạy trong trờng phổ thông nh Những đứa con trong
gia đình, Mẹ vắng nhà. Tài liệu tham khảo phục vụ cho việc dạy và học tác
phẩm của ông luôn là cần thiết. Tuy nhiên, tác phẩm của ông mới chỉ đợc
nghiên cứu chủ yếu dới góc độ phê bình văn học, việc tiếp cận tác phẩm
của Nguyễn Thi trên bình diện ngôn ngữ mà cụ thể là góc độ ngữ dụng cha
đợc quan tâm chú ý thực sự. Đó chính là cơ sở thực tiễn để chúng tôi lựa
chọn đề tài này.
Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi đi vào tìm hiểu về Đặc điểm
lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thi, với hy vọng có thể
phát hiện thêm những giá trị quan trọng mà Nguyễn Thi đã đóng góp qua
những sáng tác của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Nhà văn Nguyễn Thi tên thật là Nguyễn Hoàng Ca, sinh ngày 15
tháng 5 năm 1928, tại xã Quần Phơng Thợng (nay là xã Hải Anh), huyện
Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Tới tháng 5 - 1962, Nguyễn Ngọc Tấn đi chiến trờng B, lấy bút danh là Nguyễn Thi (theo tên con trai của nhà văn).
Nguyễn Ngọc Tấn- Nguyễn Thi có tuổi đời và tuổi nghề không dài,
tuy nhiên những sáng tác mà ông để lại thực sự xứng đáng với thời đại mà
ông sống - thời đại của chủ nghĩa anh hùng. Năm 1960, với bút danh
Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Thi đánh dấu sự nghiệp văn học của mình bằng
việc cho ra đời hai tập truyện: "Trăng sáng" và "Đôi bạn". Tuy nhiên, phải
đến năm 1965, khi tác phẩm "Ngời mẹ cầm súng" ra đời thì tài năng của
Nguyễn Thi mới thực sự đợc khẳng định. Cũng kể từ đây, tác phẩm của
Nguyễn Thi đã dành đợc sự quan tâm của giới nghiên cứu phê bình, của
độc giả mọi miền tổ quốc. Cho đến nay, đã có hàng trăm công trình với quy
mô lớn nhỏ khác nhau nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Thi. ở đây,
chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình tiêu biểu trên hai góc độ phê bình
văn học và ngôn ngữ học.
4
của Nguyễn Thi ở phơng diện thể loại cũng đã bớc đầu quan tâm đến phơng
diện ngôn ngữ và có những nhận xét rất tinh tế về ngôn ngữ trong truyện
ngắn Nguyễn Thi. Chẳng hạn nh nhận xét của Nhị Ca trong Gơng mặt còn
lại Nguyễn Thi: Chỉ trong phạm vi tập truyện ngắn mỏng này, nếu chịu
khó lập một bản từ vựng về ngôn ngữ của tác giả, tôi e nó cũng không mỏng
hơn bản thân tác phẩm bao nhiêu. Ngoài giọng điệu riêng của tác giả, th-
5
ờng chỉ là những đoạn dẫn dắt, gối đệm cho câu chuyện, thật không quá
đáng nếu nói chuyện có bao nhiêu nhân vật thì có bấy nhiêu kiểu nói khác
nhau [5,167].
Còn Nguyễn Chí Hoà, khi đánh giá về truyện ngắn và tiểu thuyết của
Nguyễn Thi cũng đã có những nhận xét đáng chú ý về ngôn ngữ Nguyễn
Thi, đó là ngôn ngữ phức điệu và đa thanh .... Tuy nhiên, ông chỉ mới đánh
giá vấn đề này chủ yếu ở thể loại tiểu thuyết, còn ở thể loại truyện ngắn thì
tác giả chỉ mới đi sâu nghiên cứu ở truyện Những đứa con trong gia đình.
Nhìn chung, những nhận xét này mặc dù tơng đối đúng đắn, chính xác mới
chỉ đợc đề cập một cách lẻ tẻ, cha có hệ thống. Gần đây đã có một số khoá
luận tốt nghiệp đại học cũng đã tập trung nghiên cứu về ngôn ngữ tác phẩm
Nguyễn Thi một cách tơng đối độc lập. Chẳng hạn khoá luận tốt nghiệp của
Ngô Thanh Mai: Đặc điểm ngôn ngữ trẻ em trong truyện ngắn Nguyễn
Thi (Đại học Vinh, 2005). Trong công trình này, tác giả đã khảo sát và
phân tích một cách tơng đối toàn diện về ngôn ngữ trẻ em trong truyện
ngắn Nguyễn Thi, tuy nhiên do đối tợng phạm vi khảo sát của khoá luận
này chỉ mới dừng lại ở một phơng diện cụ thể là ngôn ngữ nhân vật trẻ em
và dừng lại ở việc khảo sát 11 truyện nên cha khái quát đợc toàn bộ các phơng diện ngôn ngữ trong tất cả các truyện ngắn của ông.
Bên cạnh đó, phải kể đến khoá luận tốt nghiệp: Đặc điểm ngôn ngữ
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tấn Nguyễn Thi của tác giả Phan Thị
V. Trăng sáng.
VI. Về Nam.
VII. Món quà tết.
VIII. Mặt trận.
IX. Đôi bạn.
X. Cậu Huân
XI. Tự do.
XII. Một chuyến đi.
XIII. Hai cha con ngời Chính uỷ.
XIV. Ngày về.
XV. Chuyện xóm tôi
XVI. Mùa xuân.
XVII. Những đứa con trong gia đình.
XVIII. Mẹ vắng nhà
Những truyện ngắn này hầu hết trích trong hai tập Trăng sáng và Đôi
bạn, hai tập truyện mà Nguyễn Thi kí bút danh là Nguyễn Ngọc Tấn. Tuy
nhiên, để đảm bảo tính thống nhất và để ngời đọc tiện theo dõi chúng tôi
gọi chung là truyện ngắn Nguyễn Thi.
Bên cạnh những truyện ngắn nêu trên, trong quá trình phân tích
chúng tôi cũng đề cập đến một số tác phẩm thuộc thể loại khác của ông và
tác phẩm của một số tác giả khác để giúp làm nổi bật đặc điểm lời thoại
nhân vật nữ trong truyện ngắn của tác giả Nguyễn Thi
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
7
Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm giải quyết ba nhiệm vụ cơ bản
sau:
Thứ nhất là miêu tả, phân loại các hành động ngôn ngữ trong lời
8
năng, nét phong cách riêng của Nguyễn Thi, cũng nh những đóng góp to
lớn của ông cho nền văn học nớc nhà.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm có 3 chơng :
Chơng 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Đặc điểm hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật
nữ
trong truyện ngắn Nguyễn Thi
Chơng 3: Ngữ nghĩa lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn
Nguyễn Thi
Chơng 1
những giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1. Xung quanh vấn đề hội thoại
1.1.1. Khái niệm hội thoại
Trong cuộc sống, con ngời luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau. Trong
đó giao tiếp hội thoại là hoạt động căn bản, phổ biến nhất của ngôn ngữ, nó
cũng là hoạt động cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Theo GS, TS
Đỗ Thị Kim Liên: Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành
lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định
mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận
thức nhằm đi đến một đích nhất định. [30, 18]
Hội thoại tồn tại dới hai dạng :
- Lời ăn tiếng nói thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày của con ngời
(biểu hiện qua ngôn ngữ âm thanh).
lời của A.
Ví dụ: l
(3) - Mình đi đâu thì má đi theo đó chớ gì mà lo?
- Vậy chớ ba má không theo con thì theo ai, nhng mà cũng phải
tính cho đâu ra đó chớ. Đem bàn thờ sang gởi chú Năm em có ừ không?
- ừ !... Mà hồi đó má dặn chị vậy hả?
- Má có biết má chết đâu mà dặn. [XVII,119]
Dẫn chứng trên là một cặp thoại giữa hai nhân vật: Việt và chị Chiến.
nhân vật Việt với vai ngời nói đa ra lời trao là hành động hỏi, an ủi. Hành
động này hớng vào ngời nghe (Chiến - chị gái Việt). Ngời nghe đa ra lời
đáp với hai hành động: Hành động bác bỏ, khẳng định và hành động hỏi.
Sự trao lời của nhân vật Việt và sự đáp lời của nhân vật Chiến tạo thành cặp
trao - đáp trong hội thoại.
c. Sự tơng tác
10
Khi một cuộc thoại diễn ra thì giữa các nhân vật giao tiếp đã có sự tơng tác. Theo Nguyễn Thiện Giáp, sự tơng tác là tác động qua lại đối với
hành động của nhau giữa những ngời tham gia hội thoại. Có tơng tác bằng
lời mà cũng có tơng tác không bằng lời. [20, 69]
Nh vậy, sự tơng tác trong hội thoại tức là giữa những ngời tham gia
hội thoại luôn có các hành vi ngôn ngữ tơng tác, có sự thống nhất và mâu
thuẫn, có sự vận động để điều hành cuộc thoại diễn tiến, từ đó làm cho
nhau cùng biến đổi.
Trong một cuộc hội thoại, sự trao lời, sự đáp lời và sự tơng tác gắn
bó chặt chẽ với nhau. Đây là ba vận động đặc trng cho một cuộc thoại,
những quy tắc, cấu trúc và chức năng trong hội thoại đều bắt nguồn từ ba
vận động trên, chủ yếu là vận động tơng tác.
1.1.3. Một số khái niệm liên quan đến cấu trúc hội thoại
- Kháng chiến ông Ngô gánh nặng đi đờng rừng cả đêm còn đợc nữa
là bây giờ đi xe đạp, đờng nhựa. Mặt ánh vẫn khó đăm đăm.
- Chị Ngô chị ấy gọt sẵn riềng để kia kìa. Đêm nay anh ấy còn phải
đi đặt câu nữa cơ. [XII, 344 ]
Ví dụ (4) gồm ba lợt lời, hai lợt lời của ánh và một lợt lời của Kên.
Ba lợt lời luân phiên nhau : ánh trao lời Kên đáp lời - ánh trao lời.
d) Phát ngôn
Phát ngôn là đơn vị của lời nói, nó đợc tách ra từ trong chuỗi lời nói
dùng để giao tiếp hàng ngày hoặc tách ra từ dạng văn bản dùng để chỉ lời
nói trực tiếp của các nhân vật hội thoại. Khái niệm phát ngôn đợc chúng tôi
sử dụng tơng đơng với khái niệm câu trong ngôn ngữ học truyền thống.
Trong lợt lời có thể có nhiều phát ngôn. Các phát ngôn có mục đích
và chức năng khác nhau; có những phát ngôn mở đầu cho một cặp thoại
làm chức năng dẫn nhập; có những phát ngôn nhằm đáp lại phát ngôn nào
đó trong một lợt lời của ngời đối thoại, chúng làm chức năng hồi đáp.
Những phát ngôn trong một lợt lời là những hành vi hội thoại.
ở ví dụ (4), lợt lời của ánh gồm hai phát ngôn; lợt lời của Kên gồm
một phát ngôn.
1.2. Hoàn cảnh giao tiếp của nhân vật nữ trong truyện ngắn
Nguyễn Thi
1.2.1. Khái niệm hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là hoàn cảnh "bao gồm những hiểu biết về thế
giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử, các ngành khoa
học nghệ thuậtở thời điểm và không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao
tiếp", [12, 23].
Có hai loại hoàn cảnh giao tiếp:
- Hoàn cảnh giao tiếp rộng: bao gồm hoàn cảnh địa lí, xã hội, lịch sử,
chính trị, văn hoá của một dân tộc.
- Hoàn cảnh giao tiếp hẹp: là không gian, thời gian, thời gian cụ thể,
trực tiếp mà cuộc thoại diễn ra.
đẹp hơn. Tập xung phong vào đó, nh ngời đi nắng tra về, mát rợi dới chân,
trên đầu. Một cảm giác say sa, ấm cúng bao bọc chung quanh, nếu không
nói là hạnh phúc.
Ngời ta nói vờn chè đầu xóm Lá là vờn chè đẹp nhất. Nó ở ngay đờng tấn công của tiểu đội Cần. Anh em nói nửa đùa nửa thật tiểu đội Cần
hay rớt lại sau đờng tấn công của đại đội, là do đó. Cần chỉ cời.[ II, 75]
Không gian êm đềm, tơi đẹp này chính là nơi ghi nhận những tình
cảm yêu nớc thiết tha của những chàng trai, cô gái đất Việt. Những anh bộ
đội ngày đêm luyện tập trong sự bao bọc của nhân dân. Những cô gái hăng
say lao động luôn dành cho các anh bộ đội một tình cảm ngỡng mộ, tôn
13
kính. Nơi đây có cô Lý say sa ngắm nhìn bộ đội luyện tập, chăm sóc các
anh bằng những món ăn ngon: (6) Thấy anh em băng qua rào, gai móc sớt
mặt, mặc cho mẹ chửi, cô lấy dao phát hai lỗ rào thật to, thật sạch để anh
em xung phong. Đang đánh ụ súng địch thì cô mời cơm. Tiểu đội hạ mệnh
lệnh tấn công thì cô bê nồi chè tơi nóng ra trớc mặt. Anh em luôn luôn phải
nghĩ thao trờng cũng nh chiến trờng, nhng cô Lý đâu nghĩ nh thế ( II, 77);
có cô Tình thích đợc xem các anh tập pháo:
(7) Em đề nghị các anh tập pháo đi cho em xem mấy. [ IV, 151]
Khung cảnh làng quê trong truyện ngắn Nguyễn Thi thờng đợc xây
dựng một cách đặc biệt- khung cảnh thôn quê những ngày có bộ đội về
làng. Chính vì vậy, mặc dù đang trong cảnh chiến tranh, nhng không khí
luôn tơi vui, nhộn nhịp. Đó là những ngày hội, ngày hội của tình quân dân
của lòng ngỡng mộ những bộ đội Cụ Hồ và nh một lẽ tất nhiên, lòng
quý mến sẽ dẫn đến những tình yêu cao đẹp.
Ta bắt gặp nơi đây tình yêu đơn phơng tha thiết của cô Sơng dành cho
anh bộ đội Thi:
(8) Sơng còn nói nhiều lần nh thế. Thi đã cố gắng đem hết sự thành
Rõ hay khóc! Mẹ mà hay khóc thì nó vận vào con, sau này con nó
cũng hay khóc.
Cha tôi lại cời. Không biết có phải tin gì vào lời nói ấy, hay vì lo cho
con, mẹ tôi nín ngay. Đâu vào đấy cha tôi mới nói:
- Tôi biết mẹ nó mới có nghén, hồi này ngời rạc đi nhiều, cứ cố chịu
thơng, chịu khó, lúc nào làm đợc tiền các bác ấy sẽ đa tất. Chẳng lẽ tôi
không biết thơng vợ, thơng con hay sao?
Biết là cha tôi nói cho qua, mẹ tôi chẳng hi vọng gì, nhng cũng thấy
dễ chịu, vì chồng biết rõ nỗi khổ của mình. [X, 293].
Qua cuộc thoại này, chúng ta thấy hiện lên sự nghèo đói, cơ cực của
một gia đình hoạt động cách mạng nhng đồng thời cũng thấy đợc tình cảm
yêu thơng vợ con của ngời chồng và sự nhân hậu, giàu đức hi sinh, yêu thơng chồng con của ngời vợ.
Trong Những đứa con trong gia đình, những cuộc thoại xảy ra trong
gia đình Việt và Chiến là những cuộc thoại khắc hoạ tính cách anh hùng
của hai ngời con này.
(11) Cũng ngay trong đêm ấy, về tới nhà, trớc khi ngủ chị Chiến từ
trong buồng nói với ra với việt:
- Chú Năm nói mày với tao đi kì này là ra chân trời góc biển, xa nhà
nhớ học chúng học bạn, thù cha mẹ cha trả mà bỏ về thì chú chặt đầu.
Việt lăn kềnh ra ván, cời khì khì:
- Chị có bị chặt đầu thì chặt chớ chừng nào tôi mới bị.
- Tao đã tha với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ
có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à! [XVII, 115]
Không gian gia đình còn đợc thể hiện trong Mẹ vắng nhà, đó chính
là quan hệ mẹ con, anh chị em, láng giềng với lòng ngỡng mộ ngời mẹ anh
hùng, lòng yêu nớc và căm thù giặc của những ngời con của chị út Tịch.
1.2.2.2. Hoàn cảnh thời gian
15
học, nhân vật văn học là con ngời cụ thể đợc miêu tả trong tác phẩm văn
học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, Chị Dậu, anh
Pha), cũng có thể không có tên, nh thằng bán tơ, một mụ nào trong
Truyện Kiều. Khái niệm nhân vật văn học có khi đợc sử dụng nh một ẩn
dụ, không chỉ một con ngời cụ thể nào cả mà chỉ một hiện tợng nổi bật
nào đó trong tác phẩm.
16
Nhân vật văn học là một dơn vị nghệ thuật đày tính ớc lệ, không thể
đồng nhất nó với con ngời có thật trong cuộc sống.
Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quat tính cách của
con ngời. Vì tính cách là kết tinh của môi trờng, nên nhân vật văn học là
ngời dẫn dắt độc giả vào các môi trờng khác nhau của đời sống. [21, 235]
Mỗi nhân vật đều có một vai trò, một ý nghĩa nhất định trong tác
phẩm. Trong hội thoại nhân vật văn học chính là những ngời tham gia
vào cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói,
các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau, [12, 15].
Sau khi khảo sát 18 truyện ngắn của Nguyễn Thi, chúng tôi thấy thế
giới nhân vật trong truyện ngắn của ông khá phong phú. Có đến 36 nhân
vật phụ nữ xuất hiện trong 18 truyện ngắn (trung bình 1 truyện có 2 nhân
vật nữ) với đủ các độ tuổi: thanh niên, trung niên, ngời già. Số lợng này có
thể nói là nhiều so với nhân vật ngời phụ nữ trong truyện ngắn của Anh
Đức: 42 nhân vật/26 truyện.
Về nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thi, chúng tôi phân thành
các nhóm sau:
Thứ nhất, nhân vật là những ngời mẹ biểu tợng cho sự hy sinh âm
thầm cao cả. Đó là những ngời mẹ nghèo, chịu thơng, chịu khó hết lòng vì
chồng vì con nh ngời mẹ trong các truyện ngắn Cậu Huân, Đôi bạn,
ngời chính uỷ.... đều là những đứa trẻ hồn nhiên, vui tơi, trong sáng. Và bên
cạnh những nét hồn nhiên, trong sáng ấy, trong hoàn cảnh chiến tranh, các
em cũng bắt đầu bộc lộ những phẩm chất truyền thống của ngời phụ nữ
Việt Nam. Đó là tấm lòng vị tha, luôn luôn lo lắng cho những ngời xung
quanh, là sự đảm đang, tháo vát, là sự dũng cảm. Tất cả những nét tính
cách ấy đan xen vào nhau, tạo nên nét riêng của những bé gái trong truyện
ngắn Nguyễn Thi.
Nh vậy, chúng ta có thể thấy, nhân vật ngời phụ nữ có một vị trí quan
trọng trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tấn Nguyễn Thi. Trong tác
phẩm, họ có có thể là nhân vật chính nhng cũng có thể chỉ là nhân vật phụ,
thế nhng tất cả họ đã góp phần làm sáng tỏ chủ đề, t tởng của tác giả, tác
phẩm; giúp ngời đọc nhận ra tính cách, phẩm chất, số phận của ngời phụ nữ
trong chiến tranh.
1.4. Hành động ngôn ngữ
1.4.1. Khái niệm hành động ngôn ngữ
Cũng nh mọi hệ thống xã hội khác, hệ thống ngôn ngữ đợc sinh ra
để thực hiện chức năng hớng ngoại chức năng làm công cụ giao tiếp.
Khi ngôn ngữ đợc sử dụng để giao tiếp thì ta nói ngôn ngữ đang hành chức,
hay ngôn ngữ hành chức khi con ngời nói năng bằng một ngôn ngữ nhất
định. Vậy, nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con ngời hành
động bằng ngôn ngữ, [32, 68].
Hành động ngôn ngữ (hành vi ngôn ngữ) đợc hiểu: Trong hội thoại
vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả một hiện tợng: a) Bầu trời hôm
nay rất đẹp; để thuật lại một sự việc: b) Hôm nay tôi gặp một ngời lạ mặt,
ngời đó cứ nhìn tôi với vẻ gì đó mà tôi rất khó tả; để khẳng định: c) Điều
18
đó đúng; để bày tỏ một sự nghi vấn: d) Bạn đang làm gì?; để đa ra một
a) Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành
động. Ví dụ: Tôi hứa đến dự đám cới của em.
b) Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của ngời phát ngôn
về năng lực, lợi ích, ý định của ngời nghe và về các quan hệ giữa ngời nói
19
và ngời nghe. Trong ví dụ trên điều kiện chuẩn bị gồm: (1) ngời nghe có
khả năng thực hiện; (2) ngời nghe thực sự mong muốn ngời nói đến.
c) Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tơng ứng của ngời phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của ngời nghe và về các quan hệ
giữa ngời nói và ngời nghe nh xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏi
mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định ngời nói...Nh trong ví dụ trên: ngời nói
chân thành và khi đã hứa thì phải cố gắng thực hiện.
d) Điều kiện căn bản: là điều kiện đa ra trách nhiệm mà ngời nói
hoặc ngời nghe bị ràng buộc khi hành động ở lời đó đợc phát ra. Trong ví
dụ trên, ngời nói bị ràng buộc vào trách nhiệm phải thực hiện [dẫn theo 8,
117]
1.4.3. Tiêu chí nhận diện và phân loại các hành động ở lời qua lời
thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thi
Nhận diện và phân loại hành động ở lời trong hội thoại nói chung và
qua lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thi nói riêng là một
vấn đề phức tạp. Qua lí thuyết về ngữ dụng học, chúng tôi xác lập tiêu chí
nhận diiện và phân loại hành động ở lời nh sau:
1.4.3.1. Tiêu chí nhận diện hành động ở lời
*) Đích ở lời
Hành động ở lời bao giờ cũng nhằm một mục đích nhất định, nhờ có
đích ở lời mà ngời nói và ngời nghe có thể làm thay đổi trạng thái, nhận
thức của nhau. Nếu không có sự thay đổi thì hành động ở lời không đạt
đích. Khi giao tiếp, nếu ngời nói đạt đợc đích mình đặt ra thì hành vi đó đã
âm bằng những ngữ điệu khác nhau sẽ cho các biểu thức ngữ vi ứng với
những hành vi ở lời khác nhau. Tuy nhiên, trên văn bản viết, yếu tố ngữ
điệu chỉ đợc thể hiện qua các dấu câu.
Trên thực tế, chúng tôi kết hợp các tiêu chí về ngữ cảnh, nội dung
mệnh đề và dấu câu để nhận diện các hành động ngôn ngữ đợc thực hiện
bằng ngữ điệu.
+) Động từ ngữ vi
Bên cạnh những dấu hiệu đã trình bày ở các mục trên, chúng tôi còn
dựa vào động từ ngữ vi để nhận diện hành động ngôn ngữ qua lời thoại
nhân vật nữ. Đó là những hành động hỏi, yêu cầu, khuyên....
Động từ ngữ vi là động từ mà khi nói ra, ngời ta thực hiện ngay tức
khắc cái hành động ở lời do chính động từ biểu thị.
Để xem một động từ là động từ ngữ vi, cần có đủ ba điều kiện: vai đa
ra phát ngôn phải ở ngôi thứ nhất, số ít (có thể sử dụng ngôi thứ hai số
nhiều nhng phải đợc hiểu ở ngôi thứ nhất, số ít) và ngời tiếp nhận hành vi ở
lời phải ở ngôi thứ hai; động từ đa ra luôn ở thời hiện tại; trớc động từ
không có các phụ từ tình thái nh: không, cha, chẳng, đã, sẽ, vừa....
*) Nội dung mệnh đề
Khi ngời nói đa ra một hành động nào đó thì bao giờ cũng có một thể
thức nói năng cốt lõi do các phơng tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời kết hợp với
nội dung mệnh đề đặc trng (có hoặc không có). Nội dung mệnh đề chỉ ra
21
bản chất nội dung của hành động. Trong một hành động ngôn ngữ, nội
dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hoạt động khảo
nghiệm xác tín miêu tả), hay một mệnh đề (đối với các hành động hỏi khép
kín tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời có hoặc không, phải không phải). Tuy vậy, nội dung mệnh đề phải đợc thực hiện qua qua một
hành động nói, nh yêu cầu, hỏi, mong muốn,... thì mới trở thành một phát
22
thái tâm lý và tiêu chí nội dung mệnh đề) để phân loại 5 phạm trù hành
động ở lời, đó là :
(1) Tái hiện. Gồm các động từ: kể, thông báo, giải trình, giới thiệu ...
(2) Điều khiển. Gồm các động từ: ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép,
dặn dò, mời mọc ...
(3) Cam kết. Gồm các động từ: hứa, thề, thoả thuận, cam kết ..
(4) Biểu cảm. Gồm các động từ: vui thích, khó chịu, mong muốn, rẫy
bỏ, cảm ơn, xin lỗi, chúc, chào, khen, đoán, ớc ...
(5) Tuyên bố. Gồm các động từ: tuyên bố, buộc tội, bác bỏ, từ chối ...
[12, 151].
Đề tài này về cơ bản là chúng tôi dựa vào tiêu chí phân loại hành
động ở lời của J.L.Searle để làm tiêu chí cho việc nhận diện và phân loại
hành động ở lời qua lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn của Nguyễn
Thi.
1.5. Lời thoại nhân vật xét theo đặc trng giới tính
1.5.1. Xung quanh vấn đề giới tính trong ngôn ngữ
Theo Từ điển Tiếng Việt, nói một cách tổng quát thì giới tính là
những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái, [40,
405]. Theo GS, Nguyễn Văn Khang, giới tính không chỉ là sự khác biệt về
mặt thể chất (mặt sinh học) giữa nam và nữ mà còn bao hàm cả sự thay đổi
về quan niệm và đời sống, vị thế ở cả gia đình cũng nh ở ngoài xã hội giữa
nam và nữ, [25, 144]. Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Khang, sự khác nhau
về giới tính dẫn đến sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới [25, 144-145].
Sự khác nhau về ngôn ngữ của mỗi giới thể hiện qua ba vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, có sự khác nhau giữa nam và nữ về cấu tạo cơ thể, đặc biệt là
vị trí phần "chứa" ngôn ngữ ở trong não cũng nh đặc điểm về sinh lí cấu âm
của từng giới.
Thứ hai, ngôn ngữ để nói về mỗi giới có khác nhau, có những từ ngữ
làm rõ những vấn đề lí luận sau:
- Thứ nhất là vấn đề hội thoại. Trong vấn đề này, chúng tôi đa ra một
số khái niệm liên quan đến vấn đề hội thoại, đó là các khái niệm cơ bản nh
khái niệm hội thoại, vận động hội thoại, cấu trúc hội thoại.
- Thứ hai là vấn đề hoàn cảnh giao tiếp của nhân vật nữ trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi. ở phần này, chúng tôi đa ra khái
niệm hoàn cảnh giao tiếp, đồng thời, chỉ ra một số hoàn cảnh giao tiếp cơ
bản của nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thi.
- Thứ ba là vấn đề ngôn ngữ nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn
Thi. ở vấn đề nay, chúng tôi tập trung làm rõ một số đặc điểm về nhân vật
nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thi cũng nh một số đặc điểm ngôn ngữ cơ
bản của họ.
- Thứ t là vấn đề hành động ngôn ngữ, trong vấn đề này, chúng tôi đa
ra một số khái niệm liên quan đến hành động ngôn ngữ, đa ra các tiêu chí
nhận diện và phân loại hành động ngôn ngữ.
- Thứ năm là vấn đề lời thoại nhân vật xét theo đặc trng giới tính. Để
giải quyết vấn đề này, chúng tôi đi vào làm rõ ảnh hởng của yếu tố giới tính
đến việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ
25
Chơng 2
Đặc điểm hành động ngôn ngữ qua lời thoại
nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thi
2.1. Thống kê định lợng
Sau khi khảo sát 18 truyện ngắn về số lợng nhân vật, số lợt lời, số
phát ngôn của nhân vật nam và nữ trong 2 tập truyện ngắn Trăng sáng, Đôi
bạn và 4 truyện ngắn (Chuyện xóm tôi, Mùa xuân, Những đứa con trong
gia đình) in trong tập 1,2 cuốn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi toàn tập,
12
69
20
3
III
1
1
7
11
9
27
4
IV
3
1
14
16
18
26
5
V
3
4
10
11
11
16
6
VI
4
X
4
1
19
6
47
7
11
XI
5
1
28
20
47
45
12
XII
3
4
52
28
105
46
13
XIII
4
2
15
15
17
20
54
35
18
XVIII
1
6
9
68
9
102
Tổng
65
50
378
459
625
905
Tỉ lệ %
56,5% 43,5% 45,2% 54,8%
40,8
59,2