BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG THỊ MỘNG THU
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI PHẦN QUANG HỌC
CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp giảng dạy Vật lý
Mã số: 60. 14.01.11
Nghệ An, 2013
LỜI CẢM ƠN
Lời nói đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Đình Thước đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong thời gian
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Vật lý, bộ môn phương pháp giảng dạy khoa
Vật lý, Trường Đại học Vinh.
Xin cảm ơn sự nhiệt tình của Ban Giám Hiệu và các thầy cô bộ môn Vật lý của
trường THCS Đồng Khởi đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian tiến hành
thực nghiệm sư phạm của luận văn.
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động
viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn này.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2013
Tác giả
Trương Thị Mộng Thu
Nhà xuất bản
SGK
Sách giáo khoa
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
HS
Học sinh
GV
Giáo viên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 01
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG BÀI TẬP BỒI
DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VẬT LÝ.
1.1 Vấn đề bồi dưỡng nhân tài trong nhà trường Việt Nam………………………....05
1.2 Bồi dưỡng học sinh giỏi – một hình thức dạy học phân hóa…………………….07
từ năm 2009 đến năm 2011…………………………………………………………...34
2.2.1 Đề thi học sinh giỏi chọn đội tuyển học sinh giỏi cấp thành phố………………34
2.2.2 Đề thi học sinh giỏi cấp Quận của một số Quận trong thành phố ……………..36
2.2.3 Phân tích các đề thi các cấp…………………………………………………… 39
2.3
Lựa
chọn
các
kiến
thức,
kỹ
năng
nâng
cao
phần
Quang
học
đổi mới của nước ta, ngành giáo dục và đào tạo đang tích cực đổi mới về mọi mặt.Tại
báo cáo của Ban chấp hành TW toàn quốc lần thứ IV đã chỉ rõ ” nâng cao chất lượng
giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách XHCN của thế hệ trẻ, đào
tạo đội ngũ lao động có văn hóa, có kỹ thuật và giàu tính sáng tạo, đồng bộ về ngành
nghề, phù hợp với phân công lao động của xã hội.”
Hằng năm Bộ GD&ĐT chỉ đạo toàn ngành thực hiện hóa mục tiêu này” Đẩy
mạnh công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu nhằm tạo tiền đề cho
công tác bồi dưỡng nhân tài….đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước ở mỗi
tỉnh, mỗi thành phố”.
Việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài được khởi đầu từ công tác phát hiện và
bồi dưỡng HSG từ các trường THPT Chuyên và không chuyên có ảnh hưởng to lớn
rất to lớn trong nền giáo dục. Tuy nhiên nhân tài không phải là bất biến mà cần phải
được bồi dưỡng, tạo điều kiện cho các em nghiên cứu học tập trong suốt khoảng thời
gian ngồi trên ghế nhà trường.
Trong chương trình Vật lý cấp THCS lượng kiến thức được đưa ra khá nhiều
nhưng chỉ dừng lại ở mức độ thông hiểu là chính, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là
công tác giáo dục có tính mũi nhọn, luôn mang tính cấp thiết và là vấn đề quan tâm
của toàn xã hội.
Nhưng vấn đề đặt ra là người giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lý cần làm như
thế nào để nâng cao được khả năng tư duy, kỹ năng giải quyết những vấn đề thuộc
loại khó cho học sinh giỏi. Để đáp ứng các yêu cầu đặt ra ở trên, hoạt động học và giải
bài tập Vật lý là một trong những cách làm hiệu quả nhất.
1
Bên cạnh đó qua hệ thống bài tập hợp lý, bước đầu người thầy có thể phát hiện
được học sinh có năng khiếu vật lý, từ đó có các bước bồi dưỡng thích hợp.
Hiện nay đa số giáo viên giảng dạy ở mảng này còn gặp nhiều khó khăn, lúng
túng, con đường thực hiện mang tính chất tự phát, dựa vào kinh nghiệm là chính.
Nhằm đáp ứng được yêu cầu thành lập đội tuyển học sinh giỏi môn vật lý và
5.2 Tìm hiểu thực trạng bồi dưỡng HSG các cấp ở nước ta, ở thành phố Hồ
Chí Minh và ở một số trường trong Quận Tân Phú, tài liệu bồi dưỡng, đề thi HSG các
cấp, thực trạng dạy bồi dưỡng.
5.3 Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy học BTVL.
5.4 Nghiên cứu các tiêu chí của bài tập bồi dưỡng HSG.
5.5 Nghiên cứu nội dung dạy học phần “Quang học” cấp THCS.
5.6 Xây dựng hệ thống bài tập luyện tập và BTST phần Quang học cấp THCS
dùng cho bồi dưỡng HSG.
5.7 Xây dựng phương án giảng dạy hệ thống bài tập đã xây dựng để bồi dưỡng
HSG cấp THCS.
5.8 Thực nghiệm sư phạm.
6. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận .
- Phương pháp quan sát- điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê toán học dùng để xử lý số liệu.
7. Đóng góp luận văn
- Về mặt lý thuyết: Luận văn đã hệ thống cơ sở lý luận về những khái niệm:
học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu về vật lý; tiêu chí về học sinh giỏi vật lý. Vai
trò, chức năng của bài tập Vật lý trong hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi.
3
- Về ứng dụng: Hệ thống bài tập phần Quang học sử dụng vào hoạt động bồi
dưỡng HSG Vật lí ở trường THCS.
8. Cấu trúc luận văn.
Luận văn gồm các phần sau:
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có cấu trúc 03
chương:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG BÀI TẬP BỒI
DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VẬT LÝ
Trường phổ thông là nơi khởi đầu cho việc phát hiện và bồi dưỡng tài năng trẻ
trong mục tiêu giáo dục của nước ta, nhiệm vụ này được thực hiện thông qua việc
giảng dạy các môn học ở các lớp chuyên và các lớp không chuyên. Với phương tiện là
hệ thống bài tập giúp giáo viên phát hiện và bồi dưỡng những đối tượng học sinh có
năng khiếu và các học sinh có năng lực học tập tốt. Phần cơ sở lí luận và thực tiễn giải
quyết các vấn đề sau:
- Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi ở nước ta
- Thực trạng bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Bài tập vật lý với việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
- Phương án dạy học bài tập bồi dưỡng học sinh giỏi.
1.1 Vấn đề bồi dưỡng nhân tài trong nhà trường Việt Nam
Từ xa xưa, cha ông chúng ta đã quan tâm đến việc phát hiện, bồi dưỡng và sử
dụng những người có tài năng. Khẳng định điều đó, trong văn bia thời Lê Thánh
Tông, năm 1442 có ghi:” Hiền tài là nguyên khí của quốc gia…, vì vậy các bậc thánh
đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, ovun
trồng là việc làm đầu tiên”.
Trong lịch sử dân tộc, vai trò cá nhân những tài năng đã đóng góp đặc biệt
trong nhiều lĩnh vực để đất nước hưng thịnh và phát triển.
Để có được nhiều tài năng cho đất nước, theo Quyết định của Hội đồng chính
phủ, số 198/CP, ngày 04/09/1965, Bộ Giáo Dục đã mở các lớp chuyên toán THPT
trực thuộc các trường đại học: Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, Đại học Sư phạm
Hà Nội, Đại học Sư phạm Vinh và trực thuộc một số cơ sở giáo dục và đào tạo phía
Bắc. Từ đó cho đến nay 64 tỉnh, thành phố trong cả nước đều có trường THPT chuyên
( không chỉ có môn Toán mà có các môn học khác trong đó có bộ môn Vật lí). Có
5
nhiều địa phương đã xây dựng được các trường THCS chuyên. Có thể thấy, 50 năm
trong quá trình bồi dưỡng ở trường phổ thông.
1.2
Bồi dưỡng học sinh giỏi - một hình thức dạy học phân hóa.[9],[11]
1.2.1 Khái niệm dạy học phân hóa
Dạy học phân hóa là gì?
- Dạy học phân hóa ( Thuật ngữ viết gọn của dạy học phân hóa theo đối tượng,
nội dung và phương pháp) là quá trình dạy học quán triệt nguyên tắc vừa sức đảm bảo
phù hợp nhận thức, sở trường, hứng thú của mỗi cá nhân học sinh.
Vì sao thực hiện dạy học phân hóa?
“ Phân hóa trong giaó dục là một đòi hỏi khách quan. Tính khách quan đó được
giải thích dựa trên những điểm sau:
- Nhu cầu của xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân lực vừa có điểm giống
nhau về nhân cách người lao động trong cùng xã hội, lại vừa có sự khác nhau về trình
độ phát triển, về khuynh hướng và tài năng.
- Học sinh trong cùng độ tuổi vừa có sự giống nhau, lại vừa có sự khác nhau về
khả năng tư duy, nhân cách và hoàn cảnh gia đình, nề nếp gia đình, khả năng kinh tế,
nhận thức của cha mẹ về giáo dục….”
Ta chia phân hóa trong dạy học theo các cấp độ sau:
- Cấp vĩ mô:
+ Phân ban
+ Tự chọn
+ Trường chuyên
+ Lớp chuyên
7
- Cấp vi mô:
+ Phân hóa trong các giờ học chính khóa.
+ Bồi dưỡng phát triển năng lực tư duy ( tư duy vật lý, tư duy sáng tạo)
+ Bồi dưỡng thực hành các chuyên đề vật lý.
- Tham quan ứng dụng thực tế.
1.2.3 Khái niệm học sinh năng khiếu, học sinh giỏi
1.2.3.1 Khái niệm học sinh năng khiếu [11]
Năng khiếu là biểu hiện sớm của trẻ em về một tài năng nào đó thì đứa trẻ chưa
tiếp xúc với hệ thống giáo dục có tổ chức thời gian hoạt động tương ứng. Năng khiếu
có tính bám sát, là điều kiện tâm sinh lý cho năng lực phát triển thuận lợi.
Học sinh năng khiếu có năng lực tiềm tàng cho hoạt động nào đó, nhưng chưa
bộc lộ ở thành tích cao vì chưa qua tập dượt, rèn luyện nên còn thiếu hiểu biết và chưa
thành thạo trong lĩnh vực hoạt động nào đó.
• Tiêu chí để phát hiện học sinh có năng khiếu Vật lý.
- Trắc nghiệm chỉ số IQ ở mức cao.
- Có tư duy lô gic tốt thể hiện năng lực vận hành các thao tác tư duy nhanh,
chính xác và bộc lộ những ưu điểm về phẩm chất tư duy.
- Bộc lộ được đặc trưng của năng lực tư duy sáng tạo.
- Học sinh có hứng thú yêu thích môn học, có khả năng tập trung cao, ổn định
và nghiêm túc trong học tập.
- Có kết quả cao trong các kỳ thi tuyển chọn HSG vật lý các cấp.
9
1.2.3.2 Khái niệm học sinh giỏi.
HSG một môn học nào đó là học sinh đạt và vượt chuẩn kiến thức kỹ năng của
môn học đó. Đối với môn vật lý, HSG phải là học sinh nắm bắt kiến thức kỹ năng của
môn học ở mức độ phân tích, tổng hợp, đánh giá. Có tư duy lô gic, tư duy toán học, tư
duy vật lý tốt, có niềm đam mê vật lý học, tự học và tìm tòi sáng tạo.
Ở nước ta, trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc phổ thông có hai khái niệm
HSG đó là HSG toàn diện và HSG môn học các cấp. HSG toàn diện là học sinh đạt
điểm trung bình chung học tập từ 8.0 trở lên trong đó có môn Toán và Văn phải đạt
- Có kỹ năng thực hành vật lý. Trong đề thi HSG cấp quốc gia, khu vực, quốc
tế luôn có bài tập về lập phương án thí nghiệm. Đây là vấn đề mới cũng là một điểm
hạn chế của học sinh nước ta hiện nay. Học sinh phải nắm được cách sử dụng ác dụng
cụ thí nghiệm cơ bản, biết lựa chọn dụng cụ thí nghiệm cần thiết cho yêu cầu của phép
đo, nắm được nguyên tắc, nội dung lý thuyết để thiết kế phương pháp đo. Ngoài ra
học sinh cũng phải biết cách đánh giá sai số của phép đo.
- Có thói quen tự học, tự nghiên cứu qua tài liệu sách, tạp chí bộ môn. Nếu học
sinh chỉ học và biết những gì giáo viên dạy mà không mày mò nghiên cứu thêm tài
liệu, sách báo thì thực sự còn nhiều thiếu sót, khó trở thành HSG thực thụ.
Thông qua hoạt động giải BTVL giáo viên có thể phát hiện học sinh có năng
khiếu vật lý dựa trên 4 biểu hiện nêu trên. Trong hoạt động giải bài tập các học sinh
này luôn là học sinh có độ nhanh nhạy trong việc phát hiện vấn đề, nhanh chóng tìm
ra những dữ kiện ần ( trong kho tàng kiến thức đã học) cần cho giải bài tập. tìm ra mối
liên hệ giữa các dữ kiên với nhau, tốc độ tính toán và đổi đơn vị. Giáo viên đánh giá
được độ linh hoạt trong tư duy của các em thông qua việc tìm lời giải hay, ngắn gọn.
Ngoài ra một dấu hiệu có thể xem là dấu hiệu quan trọng nữa là khả năng học
ngoại ngữ, bởi vì khi đó học sinh mở rộng khả năng tìm và đọc tài liệu.
1.2.5 Thực trạng bồi dưỡng HSG vật lý cấp THCS ở thành phố Hồ Chí Minh
11
Việc bồi dưỡng HSG ở thành phố Hồ Chí Minh rất được chú trọng tuy nhiên
tùy thuộc vào đặc thù từng quận và đặc thù dân cư mà công tác này được phổ biến với
từng thời điểm khác nhau, số tiết bồi dưỡng HSG cũng khác nhau, phù thuộc vào kinh
phí của các trường. Ví dụ, trường Đồng Khởi quận Tân Phú bồi dưỡng HSG Vật lý (3
tiết/ tuần), trường Lê Anh Xuân (6 tiết/ tuần). Phòng Giáo dục quyết định nội dung
chương trình thi cấp Quận gồm bao nhiều phần và thời điểm thi. Ví dụ Quận Tân Bình
đề thi tuyển học sinh giỏi cấp Quận gồm Cơ, Nhiệt, Điện, Quang và thời điểm thi vào
tháng 5 sau khi kết thúc năm học nhưng quận Gò Vấp thì có thể thi vào tháng 8.
Mỗi Quận đều tổ chức kỳ thi tuyển chọn HSG cấp Quận để tuyển chọn đội
- Chưa loại bỏ được cách học tập mang tính thực dụng “thi gì học nấy” nên
hiện nay rất nhiều HS chọn các bộ môn văn, toán, anh. Bởi vì việc thi tuyển sinh vào
lớp 10 chỉ thi vào các bộ môn: văn, toán, anh nên khi vào học lớp 9 HS chỉ muốn tập
trung hơn vào các môn này nên việc học bồi dưỡng đã gặp không ít khó khăn. Trong
quá trình học HS thường mang tâm lý chán nản vì mất nhiều thời gian đầu tư nhưng
không thể ứng dụng kiến thức ngay vào kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, nhưng kiến thức
đó các em sẽ ứng dụng vào chương trình vật lý cấp ba, cho nên trong nhận thức chúng
ta cần nhận định sự đầu tư cho giáo dục là sự đầu tư lâu dài không thể nào thấy kết
quả ngay lập tức mà phải cần có thời gian đầu tư, sự nỗ lực không ngừng nghỉ.
- Chương trình nặng nề, quá tải về lượng kiến thức, trong khi thời lượng học
tập bộ môn còn quá ít (khối 6,7,8 1 tiết vật lý/ tuần, riêng khối 9 thì 2 tiết vật lý /tuần)
nên khó làm cho HS yêu thích bộ môn vật lý và thời gian học bồi dưỡng HS phải học
trái buổi trùng với lịch học phụ đạo hay học thêm các môn khác cũng không có thời
gian sắp xếp theo học đội tuyển.
- Kinh phí bồi dưỡng cho GV dạy đội tuyển còn khá eo hẹp.
* Kết luận
13
- Tất cả những thuận lợi và khó khăn trong quá trình công tác bồi dưỡng HSG
đó là những thử thách đối với cả HS và GV nhưng vượt lên trên tất cả là sự nỗ lực và
lao động không ngừng nghỉ của thầy và trò để vì một tương lai tốt đẹp cho HS và
khẳng định lại lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm của người GV hoàn thành nhiệm
vụ được giao.
1.2.6.2 Phát hiện học sinh có năng khiếu bộ môn Vật lý
Xác định đây là khâu rất quan trọng góp phần khá lớn vào việc thành công
trong kế hoạch thực hiện công tác bồi dưỡng. Từ đó GV vạch ra giải pháp là phải
chọn được những HS thật sự yêu thích học tập bộ môn Vật lý.
Muốn chọn được HSG thật sự là điều hết sức khó khăn bởi lẽ đa phần đa số
Các em HS khối 8 có năng khiếu, đam mê về Vật lý sau thi tham gia đội tuyển
Vật lý của trường thì các em được bồi dưỡng kiến thức phần Cơ, nhiệt, điện. Và thời
điểm bắt đầu giảng dạy là sau khi kết thức HK1 của năm học này đến tháng 8 của năm
học sau các em sẽ tham dự kỳ thi đội tuyển cấp Quận. Sau đó các em học ôn tập đến
tháng 3 năm sau thì sẽ được tham dự kỳ thi tuyển cấp thành phố và nội dung thi bao
gồm 4 phần: Cơ, nhiệt, điện, quang. Như vậy trong quá trình bồi dưỡng ở Quận và kết
hợp ở trường các em sẽ được làm quen trước nội dung kiến thức phần Quang học
trước so với nội dung phân phối chương trình. Do đó việc xây dựng và lựa chọn hệ
thống bài tập để bồi dưỡng các em là việc làm hết sức quan trọng. Bởi vì nội dung
kiến thức phần Quang học các em đã làm quen ở lớp 7 với những nội dung nằm trong
chuẩn kiến thức, kỹ năng. Trong chương trình Vật lý 9 Phần Quang học, các em HS
chưa được học đến và đến kỳ thi tuyển thành phố thì kiến thức phần Quang học các
em chỉ được làm quen đến bài tập thấu kính hội tụ, không đủ để tham gia kỳ thi tuyển,
lượng kiến thức của HS còn hạn chế. Do đó nhiệm vụ GV bồi dưỡng hết sức quan
trọng là phải định hướng kiến thức cho HS đồng thời phải lựa chọn hệ thống bài tập
phù hợp cho công tác bồi dưỡng.Việc lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập để truyền
đạt cho HSG phụ thuộc vào nội dung kiến thức trọng tâm trong các đề thi của các kỳ
15
thi tuyển nhằm bám sát kiến thức cho HS và đạt hiệu quả cao trong công tác bồi
dưỡng.
1.2.6.5 Tài liệu bồi dưỡng HSG Vật lý
Tài liệu dùng cho việc bồi dưỡng HSG trong quận Tân Phú mà giáo viên sử
dụng đa số là các sách xuất bản từ NXB Giáo dục, một số chuyên đề bồi dưỡng HSG,
một số chuyên đề nâng cao cho học sinh THCS. Hiện nay tài liệu về thực hành, thí
nghiệm dùng cho bồi dưỡng HSG còn thiếu, chỉ tập trung vào các dạng bài tập có mức
độ khó và nâng cao và chưa chú trọng vào dạng bài tập sáng tạo. Một số giáo viên
tham gia trong quá trình bồi dưỡng, tham khảo tài liệu trên website, tuyển tập 500 bài
Vật lý THCS,…..đồng thời trao đổi tư liệu, kinh nghiệm đối với những GV có kinh
2011
2012
LÊ ANH XUÂN
3
7
2
6
5
8
HÙNG VƯƠNG
4
9
8
4
4
0
ĐỒNG KHỞI
1
1
3
2
3
4
TÂN THỚI HÒA
0
0
0
0
0
4
12
22
18
18
25
22
HSG cấp thành phố.
TRƯỜNG
SỐ HS ĐẠT GIẢI
1.3
2006-
2007-
2008-
2009-
2010-
2011-
lôgic, các phép toán cơ sở từ các định luật, hiện tượng vật lý. Trong dạy học BTVL
được hiểu là vấn đề đặt ra cần phải giải quyết nhờ sự suy luận lôgic, tính toán, làm thí
nghiệm và sử dụng các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa,
trừu tượng hóa trên cơ sở các định luật và phương pháp vật lý.
1.3.1.2 Vai trò của bài tập vật lý
17
- BTVL như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức
mới cho học sinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới một cách sâu sắc.
- BTVL rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức, liên hễ giữa lý
thuyết, những điều học sinh trên lớp với thực tiễn cuộc sống, vấn đề cần giải quyết.
- BTVL là phương tiện để giáo viên bổ sung những gì mà giờ lý thuyết không thể
trình bày hết được.
- BTVL là dịp để học sinh hệ thống lại những kiến thức đã học qua nhiều bài
học, chương, phần khác nhau, giải những bài tập mang tính tổng hợp và khái quát cao.
- BTVL cũng là phương tiện để đánh gí khả năng tiếp thu và vận dụng kiến
thức của học sinh. Qua đó, giáo viên thu nhận và đánh giá thông tin phản hồi từ đó có
hướng điều chỉnh thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
- BTVL là phương tiện rèn luyện tưu duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu
khoa học, phát triển tư duy vật lý, tư duy lô gic, tư duy sáng tạo, năng lực làm việc
độc lập cho học sinh, tinh thần tự lập, tính cẩn thận, kiên trì trong công việc.
1.3.2 Phân loại bài tập Vật lý theo mục đích bồi dưỡng học sinh giỏi
BTVL rất đa dạng và phong phú cho nên có rất nhiều cách phân loại khác
nhau. Dựa vào mục đích dạy học, về tiêu chí giải mà người ta phân loại các dạng
BTVL như phân loại theo nội dung, theo mục đích dạy học, theo độ khó, theo đặc
điểm, phương pháp nghiên cứu vấn đề, theo phương thức giải hay phương thức cho
điều kiện và theo hình thức lập luận lôgic.
Với mục đích bồi dưỡng HSG theo PGS.TS Phạm Thị Phú chia BTVL theo các
loại sau:
1.3.3 Bài tập vật lý với việc bồi dưỡng học sinh giỏi
Sử dụng BTVL trong việc bồi dưỡng HSG là một trong những quá trình cá biệt
hóa học sinh với mức độ nội dung của bài tập nâng cao và sáng tạo, vấn đề giải quyết,
phạm vi và tính phức hợp trong bài rộng. Các thao tác tư duy lô gic đều được huy
động với mức độ cao, về số lượng bài tập cần giải và tự lực giải của học sinh phải đảm
19