Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
Trờng đại học vinh
Khoa giáo dục tiểu học ngành giáo dục mầm non
--------------- *
* ---------------
Tóm tắt Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài
Thực trạng việc sử dụng trò chơi học tập
nhằm phát triển trí nhớ có chủ định
cho trẻ 5 6 tuổi
Giáo viên hớng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
TH S. Hồ Thị Hạnh
Nguyễn Thị Thuỳ Dung
Vinh - 2007
Lời cảm ơn
Sau một thời gian điều tra, tìm hiểu, dới sự hớng dẫn nhiệt tình của cô
giáo Hồ Thị Hạnh, tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình với đề
tài: Thực trạng việc sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí nhớ có
chủ định cho trẻ 5- 6 tuổi.
6. Phơng pháp nghiên cứu.
4
5
5
6
6
6
phần 2 : phần nội dung
Chơng I : Cơ sở lý luận
1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2. Lý luận chung về trò chơi và trò chơi học tập
2.1. Trò chơi trẻ em
2.2. Trò chơi học tập của trẻ mẫu giáo
2
7
7
9
9
11
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
2.2.1. Khái niệm, cấu trúc, phân loại trò chơi học tập
11
Phụ lục:
38
40
Phụ lục 1: Một số trò chơi học tập mẫu nhằm phát triển trí nhớ có chủ định
cho trẻ 5- 6 tuổi
40
Phụ lục 2:Biên bản dự giờ
49
Phụ lục 3: Phiếu điều tra
50
Phụ lục 4: Phiếu điều tra
51
Tài liệu tham khảo
53
3
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
Phần 1 : Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngành giáo dục mầm non là một mắt
Nhng thực tế hiện nay ở các Trờng Mầm non cho thấy, giáo viên cha
nhận thức đầy đủ và sâu sắc ý nghĩa của trò chơi học tập cũng nh cha sử dụng
các trò chơi học tập thực sự có hiệu quả. Bởi vậy, cha phát triển đợc trí tuệ nói
chung, trí nhớ có chủ định của trẻ nói riêng.
Vấn đề cần đặt ra là phải làm thế nào để khai thác và nâng cao hiệu quả
giáo dục của trò chơi học tập. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng tôi đã
chọn đề tài nghiên cứu thực trạng việc sử dụng trò chơi học tập nhằm phát
triển trí nhớ có chủ định cho trẻ 5 6 tuổi. Trên cơ sở đó đề ra một số kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trong việc tổ chức trò chơi học tập cho
trẻ Mẫu giáo.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí
nhớ có chủ định cho trẻ 5- 6 tuổi. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị
nhằm nâng cao nhận thức và năng lực tổ chức trò chơi học tập cho giáo viên
mầm non.
3. Đối tợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tợng nghiên cứu:
Thực trạng việc sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí nhớ có chủ
định cho trẻ 5 6 tuổi.
3.2. Khách thể nghiên cứu:
Quát trình tổ chức dạy học và giáo dục.
3.3. Phạm vi nghiên cứu:
Khảo sát giáo viên mầm non và hiệu phó chuyên môn trên một số Trờng Mầm non ở thành phố Vinh.
4. Giả thuyết khoa học:
Hiện nay, việc sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí nhớ có chủ
định cho trẻ từ 5 6 tuổi cha đợc phát huy tốt, một trong những nguyên nhân
là do giáo viên mầm non nhận thức cha đầy đủ và sâu sắc về ý nghĩa của trò
chơi học tập, cũng nh năng lực tổ chức trò chơi học tập còn yếu.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
vấn đề này đã đợc rất nhiều nhà giáo dục học trong và ngoài nớc quan tâm
nghiên cứu.
Ngay từ đầu thế kỷ XVII, nhà giáo dục học ngời Hà Lan I.B. Bêđêđốp
đã cho rằng: Trò chơi học tập là phơng tiện dạy học cho trẻ mẫu giáo. Nếu
trong tiết học cô giáo sử dụng các phơng pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành
tiết học dới hình thức trò chơi sẽ đáp ứng đợc nhu cầu và phù hơp với đặc
điểm của trẻ, giúp cho giờ học hiệu quả hơn.
6
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
Phrebenlia cho rằng : trò chơi học tập nh là một phơng pháp dạy học.
Tuy nhiên, Phrebenlia nhấn mạnh vai trò của trò chơi học tập là những bài tập,
những nhiệm vụ học tập dới sự hớng dẫn của ngời lớn. Thế nhng những trò
chơi học tập đợc tổ chức cho trẻ theo chơng trình của Phrebenlia, theo nhận
xét của các nhà giáo dục tiến bộ nớc Nga, tiêu biểu là: K.Đ.Usinxki (1824
1870) thì những trò chơi học tập đó còn tẻ nhạt, hình thức, ép buộc, không còn
có một chút nào của trẻ thơ, nó có khả năng dạy trẻ hơn là trẻ tự học.
ở Liên xô trớc đây, việc sử dụng trò chơi học tập trong giáo dục mầm
non cũng đựơc xem xét dới nhiều góc độ khác nhau. E.M.Chikhepva có công
lớn trong việc xác định vai trò của trò chơi học tập và cho rằng, trò chơi học
tập tạo điều kiện phát triển mọi năng khiếu của trẻ: tri giác, ngôn ngữ, chú ý.
Bà còn chỉ ra vai trò của giáo viên dẫn dắt trẻ vào trò chơi, giải thích nội dung
và luật chơi. Nhiều trò chơi do bà sáng tạo còn sử dụng cho đến ngày nay.
N.K.Krupxkaia xem trò chơi học tập nh một phơng tiện để nhận thức
thế giới. Thông qua trò chơi trẻ tìm hiểu màu sắc, hình dạng, tính chất vật liệu,
tìm hiểu động thực vật Bà khẳng định rằng cần tổ chức cho trẻ chơi một
lứa tuổi Mẫu giáo. Những nghiên cứu này có xu hớng là đa ra các mẫu gợi ý
cho giáo viên mầm non sử dụng linh hoạt theo những mục đích, nội dung và
điều kiện thích hợp.
Nhìn chung, các tác giả trong và ngoài nớc đã nhìn nhận vai trò của trò
chơi học tập trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, việc vận dụng trò chơi học
tập trong các tiết học ở Trờng Mầm non còn rất yếu, cha thực sự đạt hiệu
quả trong việc phát triển trí tuệ cho trẻ.
2. Lý luận chung về trò chơi và trò chơi học tập.
2.1. Trò chơi trẻ em.
Chơi và trò chơi là từ đa nghĩa trong tiếng Việt cũng nh nhiều thứ
tiếng khác.
Trong tiếng Việt, từ chơi có nghĩa cơ bản là: hoạt động giải trí ( dạo
chơi); dùng làm thú vui, tiêu khiển (chơi tem); có quan hệ mật thiết cùng
chung thú vui ( chơi với nhau); hoạt động chỉ nhằm vui, không nhằm mục
đích gì khác (trẻ con chơi đùa); chỉ trẻ em khoẻ, không ốm; hành động gây hại
cho ngời khác xem nh trò vui ( chơi khăm).
Trong tiếng Nga, từ chơi có nghĩa là giải trí ( vui chơi); là sử dụng
nhạc cụ ( chơi đàn); từ chơi còn dùng với từ bóng ( trò chơi của số phận, trò
đùa của thiên nhiên, đùa với lửa)
Trong tiếng Anh, có 59 định nghĩa cho từ chơi. Trong đó có chơi
đóng kịch, chơi đàn, chạy lòng vòng, chơi chữ
Nhng xây dựng một khái niệm trả lời cho câu hỏi thế nào là chơi ? là
một vấn đề phức tạp, không thể đa ra một khái niệm chính xác có thể khu biệt
hiện tợng chơi trong toàn bộ phạm vi hoạt động rộng lớn của con ngời.
Hiện nay đang tiếp tục có nhiều ý kiến khác nhau, nhng sự nhất trí cơ
bản của các nhà nghiên cứu là: Chơi là hoạt động đặc trng của trẻ nhỏ.
Nghiên cứu nhằm xác định nội dung, bản chất, cấu trúc, đặc điểm của
trò chơi có thể tìm thấy trong những công trình khác nhau, với một số cách
tiếp cận nh: xây dựng định nghĩa để trả lời cho câu hỏi trò chơi là gì ?
(Đ.B.Mengiêritxkaia, Đ.B.Elcônhin ), hoặc phân biệt chơi với các hoạt động
chơi đóng vai theo chủ đề giúp trẻ học cách đối nhân xử thế, theo chức năng
của các thành viên trong xã hội. Trò chơi vận động giúp trẻ học các vận động
cơ bản để phát triển thể lựcTrò chơi học tập giúp trẻ học cách sử dụng các
giác quan, các thao tác trí tuệ ( phân tích, so sánh, phán đoán, suy luận, khái
quát) nhằm hình thành một biểu tợng về thế giới xung quanh ( cỏ cây, hoa
lá, con vật, phơng tiện lao động, phơng tiện giao thông)
Trò chơi chính là một phơng tiện để trẻ học làm ngời.
2.2. Trò chơi học tập của trẻ mẫu giáo.
2.2.1. Khái niệm, cấu trúc, phân loại của trò chơi học tập:
* Khái niệm trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là một loại trò chơi có luật, nó tác động trực tiếp đến
việc củng cố kiến thức và phát triển quá trình nhận thức của trẻ. Thông qua trò
chơi học tập để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo nh:
9
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
phát triển ngôn ngữ, chính xác hoá các biểu tợng, nâng cao tính độc lập, sáng
tạo, phát triển trí nhớ cho trẻ
Trong trò chơi học tập, trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập dới hình thức
chơi nhẹ nhàng, thoải mái làm cho trẻ dễ dàng vợt qua những khó khăn, trở
ngại nhất định. Vì thế, trẻ tiếp nhận nhiệm vụ học tập nh một nhiệm vụ chơi.
Cho nên thông qua trò chơi học tập góp phần phát triển trí nhớ cho trẻ.
Trò chơi học tập là do ngời lớn nghĩ ra. Nó có nguồn gốc trong nền văn
hoá dân gian kết hợp trò chơi với các yếu tố dạy học và mang những đặc điểm
chung của trò chơi trẻ con.
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
Là hành động trẻ làm trong lúc chơi. Các hành động chơi trong trò chơi
học tập chủ yếu đòi hỏi vận dụng khả năng ghi nhớ của trẻ. Để vận dụng
những vốn kiến thức, hiểu biết của mình nhằm hoàn thành yêu cầu mà trò chơi
đặt ra. Những hành động chơi càng phong phú, nhiều hình thức bao nhiêu thì
số trẻ tham gia trò chơi càng nhiều bấy nhiêu và bản thân trò chơi càng lý thú
bấy nhiêu.
Số lợng và tính chất của hành động chơi khác nhau ở các lứa tuổi. ở
mẫu giáo bé là sự lặp đi lặp lại của các hành động nh : di chuyển, sắp xếp,
nhập các đồ vật, so sánh chúng và lựa chọn theo dấu hiệu, màu sắc, kích thớc,
là bố trí trong tranh, là bắt chớc các tác động chơi Mọi trẻ tham gia trong trò
chơi thờng có cùng một vai trò và do đó hành động chơi giống nhau đối với
mọi trẻ . ở mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn thì động tác chơi đã phức tạp hơn :
những hành động chơi của trẻ đòi hỏi phải có sự liên hệ lẫn nhau giữa hành
động của một số trẻ này với một số trẻ khác, đòi hỏi phải có tính liên tục và
tuần tự. Nhiều trò chơi của trẻ mẫu giáo lớn đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ kỹ trớc
khi hành động, phải hoàn thành một vai nhất định của trò chơi. trò chơi càng
mang tính bí ẩn bao nhiêu càng kích thích hấp dẫn trẻ bấy nhiêu.
- Luật chơi: (còn gọi là quy tắc chơi ).
Mỗi trò chơi học tập đều có luật do nội dung chơi quy định. Đó là
những quy định chung mà những ngời tham gia chơi phải thực hiện. Luật chơi
là yếu tố tổ chức của trò chơi. Chúng xác định tính chất, cách thức các hành
động chơi buộc trẻ phải ghi nhớ có chủ định để hoàn thành nhiệm vụ chơi mà
không phạm luật. Đồng thời luật chơi tổ chức và điều khiển mối quan hệ của
trẻ trong khi chơi, hớng trực tiếp hoạt động nhận thức của trẻ vào việc giải
quyết nhiệm vụ học tập. Luật chơi là tiêu chuẩn đánh giá hành động chơi đúng
hay sai. Nếu luật chơi không thiết lập sớm thì hành động chơi sẽ tản mạn và
có thể không thực hiện đợc nhiệm vụ trò chơi nêu ra. Với sự giúp đỡ của luật
* Phân loại và yêu cầu đối với trò chơi học tập:
Hiện nay trong lý thuyết về trò chơi học tập cha có sự phân loại thống
nhất. Nhng phần lớn các công trình nghiên cứu khoa học đều phân loại trò
chơi học tập theo cách truyền thống. Đó là thống nhất phân thành bốn loại
chính theo tính chất của trò chơi:
+ Trò chơi học tập với đồ vật, đồ chơi và tranh in: đây là loại trò chơi
học tập đợc sử dụng đồ vật, đồ chơi, hay các loại tranh in. Khi chơi với đồ vật,
đồ chơi và tranh in giúp trẻ so sánh, phân tích xác định sự khác nhau và giống
nhau giữa các đồ vật và đồ chơi. Nhờ có loại trò chơi này giúp cho trẻ làm
quen với đặc điểm, tính chất của đồ vật, đồ chơi nh: hình dạng, kích thớc, màu
sắc, tính chất điều này đòi hỏi khả năng ghi nhớ của trẻ. Qua đó kích thích
sự phát triển trí nhớ có chủ định cho trẻ.
+ Trò chơi học tập với tranh ( lôtô): Trò chơi này rất phong phú về
chủng loại nh: tranh xếp từng đôi, tranh lôtô, cờ đôminô, trò chơi ghép tranh
+ Trò chơi học tập bằng lời nói: Trò chơi này đợc hình thành nhờ lời nói
và hành động của ngời chơi với trò chơi dựa vào những ấn tợng về đồ vật, đồ
chơi trẻ hiểu sâu sắc hơn về chúng và thể hiện hiểu biết của mình qua lời nói.
+ Trò chơi âm nhạc: trò chơi này thờng đợc sử dụng trong tiết học âm
nhạc của trẻ hoặc sử dụng lồng ghép tích hợp trong các giờ học khác để làm
cho tiết học thêm sinh động, nhẹ nhàng và hấp dẫn. Thông qua tiếng nhạc hay
tiết tấu, lời ca đòi hỏi trẻ phải vận dụng khả năng ghi nhớ để đoán đúng tên
12
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
bài hát hoặc hát đúng lời, đúng nhịp điệu tiết tấu của bài hát hay vận động
Khi chơi trò chơi học tập trẻ mẫu giáo luôn là chủ thể tích cực cố gắng
tìm kiếm phơng thức để giải quyết nhiệm vụ đặt ra. Trò chơi học tập bao giờ
cũng chứa đựng nhiệm vụ nhận thức khác nhau có mối quan hệ chặt chẽ với
hoạt động trí tuệ của trẻ mẫu giáo lớn ( 5 6 tuổi). Nhờ trò chơi học tập mà
trẻ tiếp thu đợc một số tính chất của đồ vật ( hình dạng, kích thớc, màu sắc)
13
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
định hớng đợc không gian, âm thanh cũng nh nắm bắt đợc một số đặc tính vật
lý của đồ vật và các vật liệu. Trò chơi học tập không chỉ tác động đến việc
phát triển trí tuệ mà còn giáo dục một số phẩm chất đạo đức của trẻ nh tính
thật thà, tính tổ chức, tính tự lậpLuật chơi trực tiếp điều khiển hành vi của
trẻ. Trong các trò chơi tập thể, trẻ còn học đợc cách giao tiếp với nhau, biết
thống nhất hành động của mình với các bạn. Cũng chính trong trò chơi học tập
trẻ học đợc cách đánh giá và tự đánh giá về kết quả đã đạt đợc trong lúc chơi.
Tóm lại, trò chơi học tập có ảnh hởng giáo dục sâu sắc tới trẻ mẫu giáo.
Bà E.I.Chikhiepva đã viết: cũng không nên đánh giá trò chơi học tập chỉ về
mặt mục đích học tập hiển nhiên của nó, tức là sự định hớng của trẻ trong các
biểu tợng này hoặc biểu tợng khác Những trò chơi này đẩy mạnh sự phát
triển tất cả mọi mặt của cá nhân trẻ. Trò chơi đã tổ chức trẻ lại với nhau nâng
cao tính tự lực của trẻ. Nếu cô giáo tiến hành loại trò chơi này một cách khéo
léo và sinh động thì trẻ rất thích thú và tràn ngập niềm vui, nh thế sẽ tăng
thêm ý nghĩa của trò chơi học tập
2.3. Đặc điểm trí nhớ của trẻ 5 tuổi:
ở trẻ mẫu giáo lớn năng lực ghi nhớ và nhớ lại phát triển rất mạnh, nhng chủ yếu vẫn là ghi nhớ không có chủ định. Trẻ ghi nhớ những gì gây hứng
thú, hoặc những gì gây ấn tợng mạnh cho trẻ. Trong khi làm quen với thế giới
suy nghĩ về một sự vật hay hiện tợng nào đó thì biểu tợng về chúng đợc lu giữ
lại trong đầu sâu sắc hơn, khái quát hơn.
Cuối tuổi mẫu giáo bắt đầu hình thành trí nhớ logic. Trẻ ghi nhớ cái gì
có nghĩa tốt hơn cái gì không có nghĩa. Vì thế trẻ không chỉ ghi nhớ máy móc
mà còn có khả năng ghi nhớ một cách có chủ định. Khi đó chất lợng ghi nhớ
sẽ tốt hơn. Nh vậy, trẻ mẫu giáo lớn bên cạnh trí nhớ không có chủ định thì trí
nhớ có chủ định bắt đầu hình thành trên cơ sở các hoạt động của trẻ phức tạp
hơn và ngời lớn yêu cầu cao hơn. Để ghi nhớ có chủ định, trớc hết ngời
lớn cần dạy trẻ nhận rõ nhiệm vụ đặt ra để ghi nhớ một điều gì đó, nhiệm vụ
đó nếu đợc trẻ nhắc đi nhắc lại bằng lời nói thì việc ghi nhớ có chủ định sẽ tốt
hơn.
Đến giai đoạn này trí nhớ có chủ định đợc phát triển trên nền tảng vững
chắc hơn từ chỗ trẻ không biết đặt một nhiệm vụ ghi nhớ nào cả đến ghi nhớ
có chủ định, có mục đích.
2.4. Vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển trí nhớ có chủ định
của trẻ 5 6 tuổi:
ở tuổi mẫu giáo lớn việc đặt mục đích cho hành động và lập kế hoạch
để thực hiện hành động thờng đợc thể hiện rất rõ nét. Điều đó thúc đẩy các
hành động định hớng bên trong ( tức là các quá trình tâm lý) phát triển mang
tính chủ định rõ ràng. Tính chủ định này đợc phát triển cùng với sự tiến triển
của hoạt động vui chơi ở trẻ mẫu giáo.
Trớc đây khi tham gia vào các trò chơi, động cơ hoạt động của trẻ nằm
chính trong quá trình chơi. Trẻ em mải mê chơi mà không cần biết đến kết quả
của việc chơi. Và cuối tuổi mẫu giáo, thông qua trò chơi học tập, hành động
của trẻ trở nên có mục đích hơn. Khi tham gia vào trò chơi này, động cơ hoạt
động của trẻ không chỉ nằm trong quá trình chơi mà còn nằm trong cả kết quả
chơi. Nghĩa là động cơ hoạt động của trẻ đang di chuyển từ quá trình chơi đến
kết quả chơi.
15
Tóm lại, thông qua trò chơi học tập thì trí nhớ có chủ định đợc phát
triển trên nền tảng vững chắc hơn từ chỗ trẻ không biết đặt ra một nhiệm vụ
ghi nhớ nào cả đến ghi nhớ có chủ định, có mục đích
Kết luận chơng I:
Qua tìm hiểu, phân tích cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu chúng tôi rút ra
một số kết luận nh sau:
- Trò chơi học tập là một loại trò chơi có luật, nó tác động trực tiếp đến
việc củng cố kiến thức và phát triển quá trình nhận thức của trẻ. Thông qua trò
chơi học tập để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo nh:
phát triển ngôn ngữ, chính xác hoá các biểu tợng, nâng cao tính độc lập, sáng
tạo, phát triển trí nhớ cho trẻ
16
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
- Trò chơi học tập có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nhân
cách của trẻ, nó giúp cho trẻ làm chủ đợc hành vi của mình. Trò chơi với các
nhiệm vụ chơi giúp trẻ hình thành các nét tính cách nh khả năng tự đánh giá
việc thực hiện luật chơi của trẻ, kích thích hứng thú, tính độc lập, sáng tạo,
khả năng ghi nhớ có chủ định của trẻ.
- ở trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi năng lực ghi nhớ và nhớ lại phát triển rất
mạnh, nhng chủ yếu vẫn là ghi nhớ không có chủ định. Trẻ ghi nhớ những gì
gây hứng thú, những gì gây ấn tợng mạnh cho trẻ hoặc trẻ ghi nhớ cái gì có
nghĩa tốt hơn cái gì không có nghĩa. Trí nhớ của trẻ mẫu giáo lớn vẫn là đặc
trng của trí nhớ trực quan hình tợng, những sự vật hiện tợng nào gây hứng thú
cho trẻ nhiều hơn, trẻ tập trung chú ý quan sát, lắng nghe thì trẻ sẽ ghi nhớ cái
đó dễ dàng và sâu sắc hơn. Cuối tuổi mẫu giáo lớn, trẻ bắt hình thành trí nhớ
- Giáo viên đang dạy lớp 5 tuổi ở một số trờng mầm non trong thành
phố Vinh (42 giáo viên).
- Một số hiệu phó phụ trách chuyên môn.
- Quan sát các giờ học: Môi trờng xung quanh, Hình thành biểu tợng
Toán, Phát triển ngôn ngữ và một số giờ chơi tại các trờng:
Trờng mầm non Bình Minh
Trờng mầm non Quang Trung II
Trờng mầm non Hoa Hồng
Trờng mầm non Trờng Thi
Trờng mầm non Hng Dũng I
1.2. Mục đích điều tra:
Chúng tôi tiến hành điều tra tìm hiểu thực trạng về việc tổ chức trò chơi học
tập nhằm phát triển trí nhớ có chủ định cho trẻ 5- 6 tuổi; phân tích, chỉ ra
nguyên nhân của những hạn chế trong nhận thức cũng nh trong quá trình tổ
chức trò chơi học tập của giáo viên mầm non, trên cơ sở đó đề xuất một số
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trong việc tổ chức trò chơi học tập
cho trẻ.
2. Phân tích kết quả nghiên cứu .
2.1. Nhận thức của giáo viên trong việc tổ chức trò chơi học tập nhằm
phát triển trí nhớ có chủ định cho trẻ.
Để tìm hiểu mặt nhận thức của giáo viên mầm non chúng tôi đa ra câu hỏi:
Câu hỏi 1: Chị hiểu về vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát
triển trí nhớ có chủ định cho trẻ 5- 6 tuổi nh thế nào?
Chỉ hơn 1/3 số giáo viên tham gia điều tra (17/42 phiếu) hiểu rằng:
+ Trò chơi học tập giúp cho trẻ tích cực hoạt động sáng tạo, nhận
thức và sử dụng năng lực ghi nhớ một cách có mục đích, có kế hoạch để giải
quyết nhiệm vụ chơi từ đó thúc đẩy sự phát triển của trí nhớ có chủ định.
Số còn lại hiểu vấn đề một cách chung chung mang tính chất bề ngoài nh:
+ Trò chơi học tập có ý nghĩa rất lớn giúp trẻ phát triển khả năng t
duy, ngôn ngữ cho trẻ. Giúp trẻ phát triển toàn diện.
Không quan trọng
0
0
Quan trọng
22
52,4
Rất quan trọng
20
47,6
Tổng số phiếu điều tra: 42 phiếu
Dựa vào kết quả điều tra bảng 1 cho ta thấy: Đa số giáo viên cho rằng trò chơi
học tập có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển trí nhớ có chủ định cho trẻ
chiếm 52,4%. Số còn lại ( 47,6%) cho rằng chiếm vị trí rất quan trọng.Và
không có giáo viên nào phủ nhận vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát
triển trí nhớ có chủ định cho trẻ.
Nh vậy, qua đó ta thấy rằng giáo viên mầm non chủ yếu đã hiểu đợc
rằng trò chơi học tập rất quan trọng và quan trọng nhng còn quan trọng
nh thế nào thì họ cha thực sự hiểu hoặc hiểu một cách mơ hồ, tản mạn.
Câu hỏi 2: Những vấn đề mà chị quan tâm khi sử dụng trò chơi học
tập là gì? Nhằm mục đích gì ?
Chúng tôi thu đợc kết quả nh sau: đa số giáo viên trả lời rằng họ quan
tâm đến:
+ Đồ dùng, đồ chơi có đầy đủ, phù hợp với trẻ hay không.
+ Chú ý đến sự khám phá, tính tò mò, lòng ham hiểu biết của trẻ về một
sự vật, hiện tợng nào đó.
+ Khi tham gia chơi trẻ có hứng thú không, có thích trò chơi này hay
không.
+ Quan tâm đến địa điểm chơi, môi trờng cho trẻ chơi phù hợp và an
toàn đối với trẻ.
+ Hệ thống câu hỏi, nội dung tích hợp và thời gian của trẻ chơi.
18 42,8 - Củng cố kiến thức
cho trẻ.
30 71,4 - Phát triển t duy.
- Trò chơi và đồ chơi
mới
- Trò chơi phù hợp với
lứa tuổi
- Giáo viên giải thích, hớng dẫn cách chơi, luật
chơi dễ hiểu.
- Tổ chức thi đua giữa
15 35,7 - Phát triển trí nhớ.
các nhóm trẻ.
- Tổ chức trò chơi hấp
28 66,6 - Phát triển chú ý.
dẫn và hứng thú
-Nội dung chơi hấp dẫn,
10 23,8 - Phát triển ngôn ngữ
phức tạp dần
cho trẻ.
- Số lợng góc chơi
5 11,9 - Rèn luyện các giác
phong phú, hấp dẫn
quan.
- Kích thích tính tích
10 23,8
cực hoạt động sáng tạo
của trẻ.
Tổng số phiếu điều tra: 42 phiếu
Với những vấn đề trên mà các giáo viên chú ý khi tổ chức trò chơi học
tập đều nhằm mục đích giúp trẻ nắm vững luật chơi, cách chơi (71,4%), củng
cố kiến thức cho trẻ (47,6%), phát triển ngôn ngữ cho trẻ (26,2%), phát triển
trí nhớ cho trẻ (23,8%), phát triển t duy cho trẻ (35,7%), gây sự tập trung chú
ý cho trẻ vào hoạt động chơi (21,4%) và ( 23,8%) giáo viên quan tâm đến vấn
đề rèn luyện các giác quan.
Nhận xét: Các giáo viên đã nhận thức cha sâu, còn có những hạn chế
đó là: hiểu một cách mơ hồ về trò chơi học tập. Vì thế trong quá trình tổ chức
trò chơi học tập cho trẻ đã biết hớng sự quan tâm đến một số vấn đề nhng còn
phân tán, mang tính chất bề ngoài. Đa số đều quan tâm, chú ý đến các vấn đề
nhằm tổ chức trò chơi hấp dẫn thu hút trẻ. Tuy nhiên việc mở rộng, phức tạp
dần nội dung chơi cha đợc các giáo viên quan tâm lắm. Chủ yếu vẫn đang chú
ý hình thức để làm sao hấp dẫn trẻ và thu hút trẻ hứng thú tham gia chứ cha
thực sự quan tâm đến kết quả chơi , kiến thức mà trẻ thu đợc. Tỉ lệ phát triển
trí tuệ còn quá thấp trong khi đây là thế mạnh của trò chơi học tập.
Quá trình tổ chức trò chơi học tập (71,4%) giáo viên nhằm mục đích cố
gắng làm sao cho trẻ nắm vững luật chơi, cách chơi và chủ yếu nhằm giúp trẻ
phát triển toàn diện trên tất cả các mặt chứ cha thực sự chú trọng phát triển
một mặt cụ thể nào đó của trẻ. Thế nên trò chơi diễn ra một cách chung chung
chứ cha hớng đến phát triển một năng lực, khả năng nào đó của trẻ.
Câu hỏi 3: Những vấn đề chị chú ý khi tổ chức trò chơi học tập nhằm
phát triển trí nhớ có chủ định cho trẻ em 5-6 tuổi là gì? Nhằm mục đích gì?
Chúng tôi thu đợc kết quả nh sau:
Đa số các giáo viên trả lời rằng họ quan tâm đến:
+ Hứng thú vào việc học tập vì khi trẻ tập trung chú ý đến việc học tập thì
trẻ mới nắm đợc những kĩ năng, kiến thức cần thiết. Qua đó trẻ nhớ đợc và
tiếp tục phát triển.
+ Cần tạo các trò chơi phù hợp, kích thích tính tò mò của trẻ, hớng trẻ tới
các trò chơi, phản ánh đợc yêu cầu của trò chơi.
+ Hệ thống kiến thức truyền đạt.
nhớ
- Trò chơi và đồ chơi hấp dẫn
25
Tỷ lệ
Mục đích cần đạt
%
76,2
- Phát triển trí nhớ
69
59,5
- Tạo tâm trạng vui vẻ chờ đón 10
trò chơi
- Gây hứng thú
25
23,8
- Động viên, khuyến khích trẻ 10
khi chơi.
- Nội dung chơi phức tạp dần
10
23,8
59,5
23,8
22
định cho trẻ 5- 6 tuổi, hầu hết (76,2%) giáo viên đều tập trung chú ý đến việc
giải thích nội dung, hành động và luật chơi, hớng dẫn cách chơi. (59,5%) chú
ý đến vấn đề lựa chọn trò chơi, đồ chơi hấp dẫn, phù hợp với nội dung truyền
đạt và đặc điểm lứa tuổi. Tuy nhiên, chỉ (23,8%) giáo viên chú ý đến việc tạo
tâm trạng vui vẻ chờ đón trò chơi và (35,7%) quan tâm đến việc gây sự chú ý
của trẻ. Vấn đề mở rộng, phức tạp dần nội dung chơi chỉ chiếm (23,8%) và
(69%) giáo viên chú ý chỉ cho trẻ nhiệm vụ cần ghi nhớ. Nh vậy, hầu hết các
vấn đề mà giáo viên chú ý khi tổ chức trò chơi học tập nhằm phát triển trí nhớ
có chủ định cho trẻ còn tập trung nhiều trên cô chứ cha hớng sự chú ý nhiều
đến hoạt động của trẻ.
Với những vấn đề mà các giáo viên quan tâm, chú ý khi sử dụng trò
chơi học tập nhằm phát triển trí nhớ có chủ định cho trẻ 5- 6 tuổi thì mục đích
nhằm phát triển trí nhớ có chủ định cho trẻ chỉ đạt (54,8%). Các mục đích
khác nh: phát triển thao tác trí tuệ (23,8%), phát huy tính tích cực hoạt động
sáng tạo của trẻ chiếm (35,7%).
Nhận xét: Đa số các giáo viên mầm non đã biết hớng đến mục đích
chung là nhằm phát triển trí nhớ có chủ định cho trẻ, tuy nhiên cụ thể của việc
phát triển trí nhớ có chủ định nh thế nào thì họ không chú ý đến nh:
+ Cha quan tâm đến tác dụng giáo dục trí tuệ của trò chơi học tập, chỉ
chú ý đến giải thích sao cho hứng thú, hấp dẫn để trẻ nắm đợc cách chơi. Song
vấn đề là phát huy đợc cái gì đằng sau loại trò chơi này thì giáo viên không
quan tâm.
+ Cha chú ý đến việc kích thích trẻ vận dụng khả năng ghi nhớ, các
thao tác t duy của mình trong việc phân tích, so sánh, tổng hơp Để giải
quyết nhiệm vụ chơi đặt ra. Thế nên vấn đề nâng cao, phứa tạp dần nội dung
chơi cha đợc các giáo viên quan tâm sử dụng trong quá trình tổ chức cho trẻ
chơi và việc lựa chọn trò chơi, đồ chơi mới để lôi cuốn hấp dẫn trẻ tham gia
chơi cũng cha đợc chú ý.
Nguyên nhân: Do giáo viên cha nắm đợc đặc điểm đặc trng của trí nhớ
có chủ định vì thế khi tổ chức trò chơi chỉ chú ý đến tính chất bề ngoài, chỉ tập
tợng thành nhóm Đã quen thuộc đối với trẻ nh: thi ai chọn nhanh theo
tên gọi, đặc điểm của đối tợng; về đúng nhà, thi hái quả hầu hết các trò
chơi học tập mà giáo viên lựa chọn để tổ chức cho trẻ mới chỉ đòi hỏi trẻ nhận
biết đối tợng qua khả năng trực quan bằng cách sử dụng các giác quan của trẻ
chứ cha khai thác khả năng tri giác, trí nhớ có chủ định của trẻ một cách sâu
sắc. Bởi thế mà vấn đề phức tạp hoá nội dung chơi trong quá trình tổ chức trò
chơi học tập cho trẻ rất ít đợc giáo viên mầm non chú ý vận dụng. Nhiệm vụ
chơi đặt ra còn thấp so với năng lực nhận thức của trẻ, cha yêu cầu
trẻ phải phân tích, so sánh, phân loại, khái quát, tổng hợp vốn kiến thức hiểu
biết của mình trên cơ sở vận dụng khả năng ghi nhớ. Chính vì thế cha kích
thích đợc sự phát triển của trí nhớ có chủ định cho trẻ. Trong quá trình chơi,
giáo viên đã quan tâm vấn đề giải thích nội dung chơi, hành động chơi và luật
chơi. Tuy nhiên chủ yếu vẫn là cô nói chứ cha khai thác trên trẻ. Hầu hết các
giáo viên sử dụng câu hỏi một chiều để hỏi trẻ nên cha kích thích khả năng t
duy, ghi nhớ của trẻ trong quá trình chơi. Nhất là đối với những trò chơi cũ,
giáo viên hầu nh không khai thác, hỏi trẻ về luật chơi, cách chơi nh thế nào
24
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuỳ Dung K44MN
hay hỏi ý định chơi của trẻ. Để gây hứng thú cho trẻ chủ yếu các giáo viên đa
yếu tố thi đua vào trong trò chơi để kích thích trẻ, tuy nhiên vẫn đang là thi
đua về tốc độ chứ cha kích thích đợc trẻ thi đua về kết quả chơi sao cho đạt
yêu cầu đặt ra. Chính vì thế kết quả sau mỗi trò chơi của trẻ cha cao, hiệu quả
giáo dục của trò chơi mang lại còn thấp.
* Giờ học Hình thành biểu tợng Toán cho trẻ:
Qua dự giờ quan sát các giáo viên tổ chức trò chơi học tập nhằm phát