PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình Toán lớp 5, TRỪ SỐ ĐO THỜI GIAN được bố trí
dạy 2 tiết riêng ( 1 tiết hình thành kiến thức mới và 1 tiết thực hành luyện tập),
việc hình thành kĩ năng TRỪ SỐ ĐO THỜI GIAN cũng là một yêu cầu quan
trọng giúp học sinh giải được các các bài toán về chuyển động đều
( Thời gian, quãng đường, vận tốc) và các bài toán có liên quan đến số đo thời
gian.
Phạm vi Sáng kiến kinh nghiệm chỉ trao đổi về việc dạy PHÉP TRỪ
SỐ ĐO THỜI GIAN dưới dạng:
A x B y - C x D y ( * )
Với A > C và B < D và A,B,C,D, x, y là số tự nhiên.
x, y là ngày, tuần, tháng, năm, giờ, phút, giây ( điều kiện x > y ). Thực tế dự giờ có không ít Giáo viên còn máy móc trong việc hướng
dẫn học sinh dạy qua từng bước quy đổi nên mất không ít thời gian trong 1 tiết
dạy.
Với mong muốn rèn luyện tốt kĩ năng tính toán dạng toán này cho
học sinh lớp 5 đồng thời giảm bớt thời gian giảng dạy nhưng hiệu quả cao hơn,
Sáng kiến kinh nghiệm ( SKKN) sẽ nêu rõ một số hạn chế của Giáo viên và học
sinh vướng phải đồng thời đề xuất cách dạy dạng toán ( * ), giúp Thầy và trò
cùng giải quyết vấn đề tính toán nhanh, hình thành kĩ năng trừ số đo thời gian,
vận dụng sáng tạo vào việc giải các bài toán có liên quan.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT:
A) QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN SKKN:
Qua thực tế giảng dạy, dự giờ thăm lớp Giáo viên dạy lớp 5 ở một số
đơn vị , bản thân nhận thấy:
I/ Thực trạng vấn đề và hướng giải quyết vấn đề:
1. Thực trạng Sách giáo khoa ( SGK) và Sách giáo viên (SGV):
x là ngày, y là giờ , thì D < 24 x là giờ, y là phút , thì D < 60
2.2/ Thực tế vấn đề:
Từ thực trạng nêu trên , bản thân có một số ý kiến trao đổi để cùng
thực hiện tốt nhiệm vụ dạy- học trên cơ sở:
Dạy trừ số đo thời gian dạng ( * ) trên cơ sở học sinh đã nắm vững
đổi số đo thời gian ( Ví dụ: 1 giờ = 60 phút, hoặc 1 ngày = 24 giờ,…)
Học sinh nhớ lại kiến thức đổi số đo thời gian và tính nhanh để có kết
quả đúng của phép tính, từ đó giải các bài toán có liên quan phép trừ ( * ) nhanh
hơn. Thực tế giảng dạy của một số GV Đề xuất hướng thực hiện
Khi dạy học sinh tính:
Sau khi hình thành cách tính ( * ) Thường thì sau khi GV hình thành cách
tính ( * ) cho học sinh, Giáo viên hướng
dẫn học sinh thực hiện theo hướng quy
đổi là chính:
A x B y – C x D y
GV-HS quy đổi sao cho B > D rồi tính,
Ví dụ:
3 phút 20 giây đổi thành 2 phút 80
giây
2 phút 45 giây 2 phút 45
giây
- Lấy 1 phút ( vậy là đã lấy 60
giây) ở số bị trừ ; 60 giây trừ 45
giây còn 15 giây, 15 giây cộng
với 20 giây ở số bị trừ, ta có kết
quả 35 giây; 3 phút ở số bị trừ đã
bớt đi 1 phút, vậy còn lại 2 phút,
2 phút trừ 2 phút (ở số trừ ) , kết
quả = 0
Vậy kết quả là 0 phút 35 giây
Trình bày:
3 phút 20 giây
2 phút 45 giây
….phút ……giây Hoặc :
7 năm 3 tháng đổi thành 6 năm 15
tháng
4 năm 6 tháng 4 năm 6
tháng 2 năm 9 tháng
3 phút 20 giây 60 giây- 45 giây=
15 giây
7 năm 3 tháng Lấy 1 năm ( 12
tháng
4 năm 6 tháng ở số bị trừ)
12 tháng – 6
tháng= 6 tháng
2 năm 9 tháng 6tháng + 3 tháng= 9
tháng
Ghi kết quả
9 tháng ở cột
tháng. 11 giờ 15 phút- 8 giờ 45 phút
11 giờ 15 phút = 10 giờ 75
phút
10 giờ 75 phút – 8 giờ 45
phút
= 2 giờ 30 phút
2 giờ 30 phút = 2, 5 giờ
Quãng đường AB dài: ( 2)
39 x 2,5 = 97, 5 ( km)
Đáp số: 97, 5 km
7 năm đã
l
ấy 1
năm
, còn 6 năm, 6
năm trừ
4 năm ( s
ố trừ)
1 năm 5 tháng 2 ngày 12 giờ 6 giờ 45 phút 15 phút 25 giây
2/ Bài toán: ( 4 điểm)
“ Một xe đạp đi từ A lúc 6 giờ 30 phút và đến B lúc 11 giờ 15 phút vớt vận tốc
15km/ giờ. Tính quãng đường AB”.
2/ Kết quả cụ thể :
T Đơn vị GVPT Kết quả Ghi chú Giỏi Khá TB Yếu
T
S
L
% S
L
% S
L
% S
L
%
A A n
Châu
1 5A/ 20HS
Lê T Kim
Đào
An
5 5A/ 34
HS
Nguyễn
Ngọc Dũng
1
5
44,1 1
0
29,1 0
9
26,5 0 0 Lớp TN
6 5C/ 32
HS
Hồ Xuân
Trường
1
0
31,2 0
6
18,8 1
0
38,2 0
6
16,8 Lớp Đối
chứng
B Vĩnh
An
I/ Các tồn tại nảy sinh và biện pháp khắc phục:
1/ Ưu điểm:
-Thực hiện cách tính như thế này sẽ giảm thời gian làm bài, học
sinh vận dụng kiến thức đã học tính nhẩm không cần giấy nháp.
Vì số bị trừ nhỏ hơn 60, (nếu y là giờ , phút hoặc giây), số bị trừ nhỏ
hơn 24 ( nếu y là ngày), nhỏ hơn 12 ( nếu y là năm),….
- Phát huy kĩ năng tính nhanh cho học sinh.
2/ Hạn chế:
- GV chuẩn bị bài không kĩ, sẽ lúng túng khi nhận xét kết quả làm
bài trên lớp của HS.
- Học sinh không nắm vững kiến thức về bảng đơn vị đo thời gian (
do không học bảng đơn vị đo thời gian) sẽ khó khăn trong việc tiếp thu và
làm bài.
3/ Biện pháp khắc phục: - Chuẩn bị tốt bài soạn ( kết quả phép tính, bài toán,…).
- Khi HS lúng túng do quên bảng đơn vị đo thời gian, GV yêu cầu
HS Khá- Giỏi nhắc lại để HS nhớ và thực hiện bài tập.
I/ Thực tế phân tích và phạm vi áp dụng:
Thực tế giảng dạy, khi dạy theo cách này, Học sinh tiếp thu nhanh
hơn và làm bài tốt hơn, đồng thời giúp học sinh tái hiện lại kiến thức đã học về
số đo thời gian để vận dụng nhanh vào việc tính toán.
Giáo viên hình thành cho học sinh phương pháp học tập , suy nghĩ ,
khám phá, tìm tòi cách toán nhanh và chính xác hơn.
II/ Đề xuất hướng giải quyết:
1/ Phòng Giáo dục:
1.1/ Trong chỉ đạo và kiểm tra chuyên môn cần lưu ý tính linh hoạt, sáng
V/ Kết luận:
1/ Hình thành kĩ năng tính toán cho học sinh là một yêu cầu quan trọng
trong việc dạy và học toán chương trình Tiểu học nói chung và trong chương
trình Toán lớp 5 nói riêng. Tuy việc hình thành kĩ năng tính toán ( * ) là một
phần nhỏ trong việc việc hình thành kiến thức toán cho học sinh nhưng nó là
một yếu tố, một mắc xích liên tục trong mạch kiến thức toán không thể thiếu
được để tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 5 nói riêng và bậc Tiểu học nói
chung. 2/ Thực hiện kĩ năng tính toán (*) :
-Giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học về bảng đơn vị đo thời
gian để thực hành tính toán.
-Giúp HS tính toán nhanh hơn, mà không cần qua bước quy đổi.
-Đối với những bài toán có đơn vị đo nho, học sinh dễ dàng tính
nhẩm được.
Qua ý kiến trao đổi, biết sẽ có những thiếu sót nhất định rất mong
được tiếp thu những ý kiến quý báu của bậc Thầy và đồng nghiệp để bản thân
trau dồi nhằm năng cao năng lực chuyên môn.